+ Trả lời chủ đề
Trang 9/9 ĐầuĐầu ... 7 8 9
Hiện kết quả từ 81 tới 89 của 89

Chủ đề: Thần Điêu Đại Hiệp

  1. #81
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 96 BA MÓN LỄ VẬT


    Hà Sư Ngã cất tiếng nói to:

    - Lời nói của Lương trưởng lão rất chí lý. Tiểu nhân sẽ lãnh giáo Gia Luật đại gia, sau sẽ tìm gậy đả cẩu, giết Toa đô hoàng tử không muộn.

    Lời nói này có hàm ý như là Hà Sư Ngã đã cầm chắc thắng đến chín phần mười.

    Gia Luật Tề tuy rất cẩn trọng, nhưng nghe lời nói của Hà Sư Ngã cũng phải nổi giận, nói:

    - Tiểu từ trí thiển tài sơ, đã có ý chẳng giám ngồi giữa ngôi bang chủ. Hà huynh muốn chỉ giáo tiểu đệ xin ứng hầu.

    Hà sư ngã cười to và nói:

    - Tốt lẵm! Tốt lắm!

    Liền quăng cây gậy thiết xuống sàn đấu, hô to một tiếng, đưa ra song chưởng bủa ào vào Gia Luật Tề. Chưởng lực của Hà Sư Ngã tuy không có vẻ hùng hậu, nhưng nó tỏa ra rất rộng, chiếm một vùng đất rộng trên một trượng chu vi.

    Lương trưởng lão chưa kịp lùi ra, đã bị chưởng lực của gã quét nhằm mình toàn thân nghe rát buốt.

    Gia Luật Tề chằng dám chậm trễ, tay tả vươn ra, sử dụng chiêu số Thâm tàng nhược hư lấy trong Thấp Lộ Không Minh chưởng để chống trả.

    Hai bên chiêu số qua lại rất nhanh, và quây quần trên đài. Trong thời gian khá lâu đến giờ Tuất, trăng lặn sao thưa, nền trời đên như mực, xung quanh đài được đốt lên trên mươi ngọn đuốc sáng rực.

    Hai người giao đấu với nhau, dưới đài quần hùng đều xem rất ngọan mục. Hoàng Dung xem qua trên mười chiêu thế, thấy Gia Luật Tề sút kém rõ rệt, và không nhận ra võ công của Hà Sư Ngã xuất sứ tại đâu, chỉ biết võ công của gã rất thâm hậu, phải khổ luyện ít lắm là bốn mưới năm dài, nên bà suy nghĩ:

    -Trong khoảng mười năm gần đây, ta không gặp được tên này trong Khất bang đệ tử. Nhưng ta có nghe nhiều người truyền tụng võ công của gã cao diệu, và nay được nhìn tận mắt thân pháp của gã , thì ra gã này không phải mới biết võ nghệ trong hai mươi năm mà gã đã có trên ba mười năm thâm hậu? Thế mà gã ở trong hàng Khất cái đệ tử vẫn khiêm cung không để lộ ra. Không rõ do đâu hôm nay gã ra mặt?

    Hai người giao đấu với nhau trên năm mươi chiêu số, Gia Luật Tề dần dần sợ hãi, dù cho chàng biến hóa cách nào, đối phương cũng biết hóa giải. Thực là thuở bình sinh đến giờ chàng chưa gặp kẻ nào lợi hại như thế.

    Nhưng, đối phương lại không thừa thế hạ thủ ngay, dường như gã giữ gìn chân lực, đơi Gia Luật Tề kiệt sức đầu hàng vậy.

    Trong một ngày mà Gia Luật Tề phải giao đấu không biết bao nhiêu người rồi, nhưng trừ Lâm Thiên Hòa ra, còn những đối thủ khác đều tầm thường cả, do đó không làm cho chàng hoa sút chân lực. Mắt chàng thấy Hà Sư Ngã như đi như lại, thân pháp lờ mờ bất định.

    Lúc này đôi tay Gia Luật Tề chuyển hướng và đổi ra hai chưởng khác để tấn công, tay chàng sử dụng hai thế võ khác nhau, thật là môn võ ít ai học nổi.

    Gia Luật Tề đã lãnh hội được tám phần mười miếng võ này, bây giờ mới đưa ra sử dụng, mắt thấy bao nhiêu ngọn lửa đều day ngọn trở ra ngoài đài cháy lập lòe, hai người chẳng ai kém ai. Chưởng phong vung ra ào ạt, cho nên mõi cây đuốc đều bị hơi gió đánh tạt ra ngoài, chỉ còn sáng có phân nửa.

    Hoàng Dung quay sang hỏi Quách Tỉnh rằng:

    - Tỉnh ca ca! Ông biết Hà Sư Ngã học theo môn phái nào không?

    Quách Tỉnh nói:

    - Ta cũng không rõ? Gã chưa chịu xuất chiêu ra chiêu thế của bổn môn, chỉ đợi lức gã kiệt lực, thì mới hiểu được. Nhưng đã qua tám mươi chiêu thế, Tề nhi vẫn chưa thắng nổi một đòn nào, thì làm sao gã để lộ chân tướng được.

    Bây giờ, hai người càng đấu càng quyết liệt. Trong phút chốc, đã giao với nhau bốn năm chiêu võ. Gia Luật Tề đã đem toàn lực để hỗn đấu.

    Quách Tỉnh và Hoàng Dung để ý xem Hà Sư Ngã sẽ đối phó bằng cách nào, để biết rõ môn phái, nhưng Hà Sư Ngã thoạt tiến thọat lùi mà không đổi chiêu số.

    Gia Luật Tề thấy vậy càng tăng chưởng lực và đánh loạn và Hà Sư Ngã .

    La ïthay, Hà Sư Ngã vẫn giữ nguyên thế cũ, chỉ đưa tay áo phất ra một luồng dịch phong, cản lại các chiều của Gia Luật Tề mà thôi.

    Bên đài có mươi ngọn đuốc cách xa mười trượng, bị luồng dịch phong của Hà Sư Ngã dập tắt.

    Trước mặt quần hùng một màu đen kịt. Chỉ nghe tiếng nhảy thình thịch của Gia Luật Tề và Hà Sư Ngã .

    Bống nghe một trong hai người kêu a một tiếng thật lớn, và Gia Luật Tề rơi bắn xuống đài. Trên đài, Hà Sư Ngã cất tiếng cười vang dội.

    Mọi người cả kinh không dám thốt tiếng nào cả. Trong cái im lặng của mọi người chỉ nghe tiếng cười đắc ý của Hà Sư Ngã mà thôi.

    Lương trưởng lão gọi to:

    - Đốt đuốc nhanh lên

    Tức thì hơn mười người đệ tử Khất Cái Bang chực sẵn và châm lửa. Khi có ánh sáng rực mọi người nhìn thấy trên gò má trái của Gia Luật Tề máu đổ ràn rụa, bi cái cần sắt uống rượu đánh trọng thương.

    Hà Sư Ngã thâu tay lại cười lanh lảnh nói:

    - áo giáp sắt cứng! Nhờ áo giáp cứng!

    Và đôi tay của Hà Sư Ngã cũng rớm máu đỏ ối.

    Quách Tỉnh và Hoàng Dung đưa mắt nhìn nhau, biết rõ Quách Phù vì yêu chồng nên mới nhường áo giáp trúc, bởi thế chưởng phong của Hà Sư Ngã không chạm vào người chàng được.

    Nhưng tại sao mặt của Gia Luật Tề bị thương, và tại sao lại rơi xuống đài? Màn đêm bao trùm không ai thấy rõ được. Mặc dù chưởng lực của Gia Luật Tề công phu và ảo diệu vô cung, song chàng đã dùng theo Xích Thủ Không chưởng. Nguyên chàng sợ kẻ địch có binh khí trong tay cho nên mới biến chiêu Đại Cầm Chưởng Thủ ý muốn đoạt cả binh khí của đối phương. Đây là theo tác phong của anh hùng mã thượng.

    Chàng lại đưa ra một chiêu Xảo Thủ Bát Đả, chân tả quét mạnh vào tay cầm binh khí của địch, còn tay hữu đưa ra một chưởng phong đánh tạt quan mặt địch nhân.

    Bây giờ, đuốc hoa tắt hết, màn đêm bao phủ, Hà Sư Ngã mới thối lui bước, đưa binh khí ra đỡ. Gia Luật Tề bị một đòn đau trên mặt đau buốt, lại thêm một chưởng đánh trúng vào bụng, làm cháng loạng choạng và gã rơi xuống đài.

    Chàng không ngờ món binh khí này rất quái dị. Nó chia ra hai phần, phân nửa bị chàng đoạt mất, phân nửa vẫn còn trên tay đối phương, nên đối phương dùng phân nửa này để đánh vào mặt chàng.

    Gã không muốn hạ độc nên chàng chỉ bị thương xoàng thôi, không đến nỗi dập xương mặt. Nếu Hà Sư Ngã quyết tình hại mạng thì chỉ một chưởng phong của gã đánh vào mặt đối phương cũng đủ chết rồi. Mặc dù Gia Luật Tề được phu nhân khoác áo trúc giáp, nhưng cũng làm sao chống lại được làn chưởng phong của Hà Sư Ngã được.

    Quách Phù thấy chồng mình bị rơi xuống đài lập tức chạy đến lòng đầy uất hận.

    Lương trưởng lão biết Hà Sư Ngã đã dùng ngụy kế, và chưởng phong của gã cũng lợi hại không kém. Tuy nhiên hai đối thủ kẻ rách mặt người trầy tay, cả hai đều đổ máu thì không ai trách ai cả, vì hai cọp giao tranhÕ như thế là thường.

    Vả lại, cả hai đều bị thương nhẹ, và Gia Luật Tề bị rơi xuống đài lẽ tự nhiên là kém hơn Hà Sư Ngã rồi.

    Quách Phù lại không phục nên nói to:

    - Người ta dùng gian kế. Tề ca ca hãy thượng đài để phân thắng bại.

    Gia Luật Tề lắc đầu nói:

    - Không phải vậy đâu. Hà huỳnh đã lấy có lí trí mà thắng và gã đã thắng ta thực. Vả lại, Hoàng Kim Can các loại võ công ta đâu có thuần thục hết.

    Bây giờ chính Quách Tỉnh và Hoàng Dung nhìn không ra bản môn chiêu số của Hà Sư Ngã chẳng biết gã đã dùng chưởng pháp gì đánh bại Gia Luật Tề.

    Hoàng Dung hướng về Gia Luật Tề đưa tay vẫy gọi, và bảo đem cho bà xem món binh khí đã đoạt được.

    Binh khí này, dài chứng năm tấc; bao bọc xung quanh bằng thiếc mỏng, Hoàng Dung nhủ thầm: Giới võ lâm chẳng hề thấy ai dùng món khí giới nàyÕ.

    Hà Sư Ngã mặt mày còn vàng óng, đứng trên đài hiên ngang cất tiếng nói to:

    - Tại hạ tuy thắng được Gia Luật Tề đại gia, nhưng chẳng giám giữ chức vị tân bang chủ, đợi khi nào tìm được đả cẩu bổngÕ và giết chết Toa Đô mới dám bàn với quí vị để định đoạt.

    Mọi người cho lời nói ấy rất công binh. Tuy thấy gã đã dùng gian kế để thủ thắng, nhưng võ công của gã cũng cao cường hết sức. Sau khi nghe Hà Sư Ngã thốt như vậy, trong bang Khất Cái có nhiều kẻ hoan nghênh nhiệt liệt.

    Hà Sư Ngã đứng giữa đài, vòng tay trước mặt quần hùng và Khất bang hành lễ, đoạn nói:

    - Giờ đây, có vị anh hùng nào muốn lên chỉ giáo, xin tự tiện lên đài?

    Gã vừa cất tiếng, bỗng nghe Bạch Ngọc Sơn Quân Sử Bá Uy kêu Ûa một tiếng, tức thì bốn bề mãnh hổ, hùng sư đều đứng dậy đồng kêu lên một lượt vang dội cả hội trường.

    Một con sư tử rống hay một con cọp gồm, cũng đủ sợ rồi, huống hồ năm trăm mãnh thú kêu lên một lượt.

    Thanh âm này như núi lở đá tan, khiến chung quanh hội trường, cát bụi bay mù mịt. Những ly rượu trước bàn tiệc đua nhau rơi ngã vì bị buông thanh âm động vào.

    Trong khi quần thú gầm rống dữ dội , Tây Sơn Nhất Khất quỷ và Sử thị huynh đệ rút binh khí chạy đến bên đài, chiếm hết các nẻo và giơ cao mấy ngọn đuốc lên cất tiếng nói to:

    - Thần Điêu Đại Hiệp đến hiến món lễ vật thứ ba, chúc Quách Tường cô nương sống lâu và hạnh phúc.

    Lại thấy tám người, không rõ từ đầu tới, tiến về phía hội trường. Mỗi người đều tỏ ra những tay khinh công vào bực thượng thừa.

    Bốn người đi giữa vác trên vai một cái bao quá to, có lẽ trong đó chứa lễ vật.

    Tám người đến trước Quách Tường thi lễ và xưng danh làm cho quần hùng xám mặt. Những cặp mắt dồn vào tám người ấy.

    Trong tám người có một lão hòa thượng, tức là Cảo Sơn Thiết Lâm tự Đạt Ma Thiền viện trưởng Vô Sắc Thiền Sư . Kế là Triệu lão chưởng, với Thanh Linh Tử, những người này đều đứng dậy vòng tay đáp lễ, cười như hoa nở và nói:

    - Thực phiền cho quí vị quá sức. Vậy món lễ thứ ba là gì đó?

    Những chiếc bao cực to nằm trên vai bốn người coi rất nhẹ nhàng. Khi họ để xuống đất chưa tháo mở ra, vật trong bao động đậy, và kêu rột rẹt vài tiếng. Cái bao to lớn bị rách làm bốn mảnh. Trong bao nhảy ra một người đầu trọc như nhà sư . Gã này gật đầu xuống đất và nhảy ra ngoài, thân thể mười phần tráng kiện, mặt mày của gã đầy nét giận dữ. Gã cất tiếng la lên

    - Cơ ly cô cô

    Không một người nào hiểu gã này nói gì. Duy có Quách Tỉnh và Hoàng Dung biết rõ gã này là đại đệ tử của Kim Luân Pháp Vương tên Đạt Nhĩ Ma. Nhưng không rõ vì đâu mà gã bị Vô Sắc thiền sư và Triệu lão Trưởng sư bắt giữ.

    Quách Tường lại nghĩ món lễ vật thứ ba này phải là món lễ rất ngoạn mục, nào ngờ lại thấy một gã đầu đà thô lỗ, hình vóc rất xấu xí, Quách Tường thất vọng nói:

    - Đại ca ca tặng hòa thượng cho tôi làm gì? Tôi không mang ơn tí nào cả. Tôi chỉ muốn ca ca có mặt đây thôi.

    Trong số tám người mang lễ vật đến, chỉ có Thanh Linh Tử là đã ở rất lâu tại xứ Tây Tạng, cho nên biết nói tiếng này.

    Thanh Linh Tử liền đến bên tai Đạt Nhĩ Ma nói mấy câu:

    - Cô lô cô la

    Đạt Nhĩ Ma biến sắc, rống lên một tiếng thật to, đôi mắt nhìn sững lên đài hướng vào Hà Sư Ngã .

    Thanh Linh Tử liền cất tiếng nói to đùng vài câu ngạn ngữ, và đưa cho Đạt Nhĩ Ma một cây gậy Hoang Kim.

    Nguyên Đạt Nhĩ Ma giao đấu với bọn người này đã dùng gậy Hoàng Kim, nhưng rủi thất cơ bị bắt và khí giới lại về tay kẻ địch.

    Đạt Nhĩ Ma gật đầu tỏ ra hiểu biết rồi phi nhanh lên đài. Thanh Linh Tử nhìn Quách Tường nói:

    - Quách cô nương! Hòa thượng Tây Tạng sẽ làm trò ảo thuật cho cô nương xem.

    Quách Tường reo mừng vỗ tay:

    - Thế à? Tôi lấy làm lạ không hiểu tại sao ca lại phí sức bắt một g hòa thượng đến làm trò như vậy?

    Bấy giờ ở trên đài, Đạt Nhĩ Ma hướng vào Hà Sư Ngã nói lớn:

    - Cô Ly co âlô

    Mặt Hà Sư Ngã nổi giận hét to:

    - Ngốc hòa thượng, ngươi nói cái gì? Ta chẳng hiểu một tiếng nào cả.

    Đạt Nhĩ Ma giơ cao cây hoàng kim can, và bước mạnh đến trước một bước, hô to một tiếng rồi giáng cây gậy xuống đấu Hà Sư Ngã .

    Hà Sư Ngã thối lui mấy bước. Đạt Nhĩ Ma múa nhanh cây can hoàng kim cố bức đối phương.

    Hà Sư Ngã hai bàn tay bị thương, nên không đưa chưởng phong ra chống chế được, chỉ còn nước rút lui và né tránh mãi.

    Đại bang Khất Cái thấy g đầu đà Tây Tạng rất hung hăng, uy hiếp tân bang chủ của họ, khiến họ tức giận vô cùng, cất tiếng hét vang trời.

    Lương trưởng lão lớn tiếng nói:

    - Đại hòa thượng không nên thô lỗ như thế, vị này là Tân bang chủ của Khất Cái bang.

    Đạt Nhĩ Ma có hiểu gì đâu, đưa ra cây cản huỳnh kim múa như vũ lộng, tiếng kêu vu vu càng lúc càng lớn, như một luồng bão táp sắp đến.

    Có sáu, bảy đệ tử của Khất Cái Bang không chịu nổi, uất hận nhẩy đến bên đài để cứu việc Hà Sư Ngã . Nhưng một việc hết sức bất ngờ là Thanh Linh Tử và bẩy người tiền bối, năm anh em họ Sứ, và mười quỷ Tây Sơ n, tất cả là hai mươi ba người chia nhau vây xung quanh đài, cản không cho một ai lên.

    Tuy bang chúng Khất Cái rất đông, nhưng chẳng ai lên được. Loạn rồi ư ! Thanh Linh Tử lại tung mình lên đài, để nhặt cây gậy của Hà Sư Ngã đã rơi trên đài. Hà Sư Ngã mặt mày xám ngắt muốn rượt theo Thanh Linh Tử để cướp cây gậy, nhưng bị Đạt Nhĩ Ma bức bách dữ dội, và nhảy đến cản đầu gã .

    Quách Tỉnh và Hoàng Dung không rõ sự lý ra sao, tưởng Dương- Qua kéo nguời đến đây để gây náo loạn. Nhưng tại sao gã lại tặng cho Quách Tường hai món lễ đều là "đại lợi" cho thành Tương Dương ? Còn món lễ thứ ba sao lại trở thành chuyện gây rối ?

    Tuy nhiên 2 ông bà vẫn ngồi yên như tượng để quan sát mọi việc xảy ra. Gia Luật Tề tuy bị Hà Sư Ngã đánh rớt đài, nhưng chàng vẫn giữ đúng theo đệ tử Cái Bang, và chàng đã lập chí từ lâu muốn nối nghiệp nhạc mẫu, nên coi công việc của Cái Bang rất trọng, dù sinh tử cũng không nề hà.

    Chàng thấy Hà Sư Ngã bị Đạt Nhĩ Ma bức bách đến nỗi phải đảo loạn cả chân tay, liền cất tiếng gọi to :

    - Hà huynh đừng hốt hỏang, có đệ đến tiếp sức.

    Chàng liền tung thân đến bên đài. Lại nghe có tiếng quát to từ trên góc đài vọng xuống :

    - Không ai được lên đài cả.

    Tiếp đó có bóng người đứng ngang cản lối không cho Gia Luật Tề lên. Gia Luật Tề giận vươn tay ra, chộp nhanh vào vai người lạ, thế võ này nguy hiểm dị thường, chiêu số này mười phần tin diệu dù cho người này có nội công giỏi, cũng không chịu nổi.

    Nhưng Gia Luật Tề bỗng kinh hãi vì nhận ra người này là một trong năm anh em họ Sử, tên là Sử Thúc Cương.

    Gia Luật Tề chiêu số biến liền liền, song chung quy cũng không chạm đuợc vào người Sử Thúc Cương một mảy may nào, nên lòng cả sợ và nhủ thầm :

    - Chết rồi ! Gã này chỉ là thủ hạ của Thần Điêu Đại hiệp mà võ nghệ dường này. Thần Điêu Đại hiệp là ai mà hô một hiệu lịnh, có rất đông võ lâm tiền bối đến ám trợ kìa ? Ta không hiểu gã này là một kỳ nhân quái khách dạng nào ?

    Thanh Linh Tử giơ cao cây gậy sắt, cất giọng nói to :

    - Mời quý vị anh hùng và Khất Cái bang đệ tử xem thử vật này là chi .

    Ông vừa dứt lời, đưa tay ra vuốt mạnh cây gậy sắt phát ra tiếng lách cách, và cây gậy nát vỡ tung tóe.

    Xem kỹ, đó chỉ là vỏ gậy, còn cốt gậy ở trong là một đoạn trúc dài màu xanh biếc óng ánh.

    Thanh Linh Tử giơ lên cao, tất cả Khất Cái bang nhìn và kêu lên :

    - Đả Cẩu bổng của Bang chủ. Đả cẩu bổng đã giấu trong thiết trượng, tại sao lại lọt vào tay Hà Sư Ngã ? Tại sao gã lại cất giấu mà không nói ra ?

    Mọi người chờ Thanh Linh Tử giải thích các điều nghi ngờ, mà Thanh Linh Tử lại im lặng không nói, chỉ bước xuống đài, đem cây gậy trúc đến giao tận tay Quách Tường.

    Quách Tường thấy vật nhớ người, tưởng đến lời nói, tiếng cười của Lỗ Hữu Cước, trong lòng xúc động bồi hòi, nàng liền đứng dậy nâng cao cây gậy trúc đến giao tận tay mẫu thân.

    Bấy giờ Đạt Nhĩ Ma càng múa cây hoàng kim can, đuổi đánh Hà Sư Ngã rất kịch liệt, nhưng Hà Sư Ngã cũng là kẻ tài ba lỗi lạc, xuyên bên tảng bên hữu, lùi qua Đông chạy qua Tây.

    Sự nguy hiểm sắp kề, Khất Cái bang đệ tử đã mất hẳn lòng tin vào Hà Sư Ngã , nhứng khi trông thấy tường tận cây Đa ûcẩu bổng mà Thanh Linh Tử đưa ra thì chúng nhân đã hiểu Thanh Linh Tử mang Đạt Nhĩ Ma đến giao chiến với Hà Sư Ngã là hảo ý. Vấn đề này còn nhiều uẩn khúc bí ấn, cho nên mọi người không ai muốn lên đài tiếp cứu cho Hà Sư Ngã nữa. Mọi người đưa mắt theo dõi 1 0 chiêu nữa thì Hà Sư Ngã phải táng mạng dưới cây hoàng kim can.

    Hoàng Dung bỗng khám phá ra mọt việc, nói thầm :

    - Hà Sư Ngã dùng đao đả thương Tề nhi, hắn giấu binh khí trong tay áo, đến lúc nguy cấp mới đem ra sử dụng để sát hại địch thủ.

    Lại thấy Đạt Nhĩ Ma cầm cây trượng vàng quét ngang chân Hà Sư Ngã . Hà Sư Ngã lập tức thối lui để tránh, Đạt Nhĩ Ma lại đưa cây gậy vàng ra sử dụng một chiêu "Hậu nghệ xạ nhật" đánh vào đối phương.

    Hà Sư Ngã nhún mình lên không trung, đôi chân lướt khỏi mặt đất. Đấy là gã sử dụng một chiêu tuyệt luân khinh công. Bỗng nghe tiếng binh khí va chạm nhau, Hà Sư Ngã thối lui ra ngoài, tay rút ra một cây binh khí ngắn, không hiểu gã giấu nơi đâu. Đạt Nhĩ Ma mặt đầy sắc giận, cất tiếng quát mắng om sòm. Cây gậy hoàng kim múa loang loáng tấn công Hà Sư Ngã .

    Hà Sư Ngã không chịu kém, sẵn có đỏan khí trong tay, gã múa quay cuồng, đâm trên chém dưới, thích bên tả, đả bên hữu, chiêu số vô cùng ảo diệu, so với Đạt Nhĩ Ma hai người giao đấu tưong đương.

    Chu Tử Liễu trông vào các chiêu số trong giây phút bỗng ông hiểu ra mọi việc, nên quay sang Hoàng Dung bảo nhỏ :

    - Quách phu nhân, tôi biết Hà Sư Ngã là ai rồi. Nhưng còn thắc mắc 1 việc.

    Hoàng Dung mỉm cười nói :

    - Có gì mà chẳng rõ, nó lấy sáp ong, keo nước bột mì và thạch cao chế biến ra đó.

    Gia Luật Tề, Quách Phù và Quách Tường cả3 người đứng kế bên mà không rõ hai người đang nói gì. Họ không hiểu lời giải đáp quái lạnày. Do đó Quách Phù hỏi :

    - Chu lão bá ! Ông cho gã là ai thế ?

    Chu Tử Liễu nói :

    - Tôi bảo người đả thương Gia Luật Tề là một gã giả ra Hà Sư Ngã
    Quách Phù hỏi :
    - Tại sao chẳng phải Hà Sư Ngã ? Thế thì Hà Sư Ngã là ai ?

    Chu Tử Liễu nói :

    - Ngươi hãy nhìn xem Hà Sư Ngã dùng thứ binh khí gì?

    Quách Phù định thần nhìn kỹ và nói :

    - Binh khí của gã dùng toàn là binh khí ngắn, nếu bảo là Nga Mi Thích hay Phán Quan Bút thì không đúng hẳ n.

    Hoàng Dung nói :

    - Ngươi hãy lấy óc xét đoán xem, tại sao gã không đưa ra binh khí để chống đối với địch, gặp lúc nguy hiểm lại chạy đông lách tây, lại để cho g đầu đà bức bách cảtrăm chiêu mà chẳ ng đ a ra binh khí để chống trả? Và sao gã dập tắt hết mấy ngọn đuốc mới chịu xuất binh khí để đả thương Gia Luật Tề ?

    Quách Tường nói :

    - Có lẽ gã sợ hội trường nhận ra binh khí và chân tướng của gã .

    Chu Tử Liễu khen :

    - Đúng vậy ! Quách nhị cô nương thông minh thật !

    Quách Phù thấy Chu Tử Liễu khen tặng cô em, đâm ra ghen tức nên nói :

    - Tại sao g lại sợ lộ chân tướng ? Gã đã chiến thắng mọi người, và đứng ràng ràng trên đài, tất cả lại chẳng trông thấy sao ?

    Quách Tường suy gẫm lời nói của mẫu thân rồi nói :

    - Đúng rồi, da thịt của gã chỗ lồi chỗ lõm, là do keo nước bột mì gắn lên, thoạt trông vào gương mặt giả của gã mọi người tưởng gã mắc bệnh cùi. Còn tôi thì chỉ cần nheo một mắt cũng rõ.

    Hoàng Dung nói :

    - Bởi vậy gã không dám để mặt thật, mới cải trang ra như vậy để mọi người thấy diện mạo hung ác, chẳng thích nhìn lâu.

    Chu Tử Liễu nói :

    - Gương mặt thì có thể giả được, chứ võ công và thân pháp không thể giả được vì đã luyện tập trên 1 0 năm thấm nhuần, không thể nào thay đổi được.

    Quách Phù nói :

    - Ngươi bảo Hà Sư Ngã là giả? Vậy chứ gã này là ai ? Muội tử, ngươi rất thông minh, hãy đoán thử xem ?

    Quách Tường lắc đầu nói :

    - Tôi đâu có thông minh. Về điểm này tôi chẳng biết tí nào cả.

    Chu Tử Liễu mỉm cười nói :

    - Đại tiểu thơ thì đã gặp gã rồi, còn nhị tiểu thơ sinh muộn thì làm thế nào mà biết mặt gã . Mười bảy năm về trước có cuộc Anh hùng đại hội như thế này, đại tiểu thơ lúc ấy cũng có mặt. Tiểu thơ nhớ lại xem, có một người giao đấu với tôi trên một trăm hiệp bất phân thắng bại, người ấy là ai ?

    Quách Phù nói :

    - Có phải là Toa Đô chăng ? Đúng rồi, tôi đã gặp mặt hắn. ừ ! Hắn đã dùng một cây quạt nhỏ như binh khí của Hà Sư Ngã . Đúng rồi, vì cây quạt Hà Sư Ngã xếp lại, nên không nhìn rõ mặt quạt, do đó tôi không nhận ra.

    Chu Tử Liễu nói :

    - Lúc trước tôi giao đấu với gã là một chuyện nguy hiểm nhất từ xưa tới nay, cho nên thân pháp và chiêu số của gã tôi nhớ rõ cả. Nếu Hà Sư Ngã chẳng phải là Toa Đô, thì khoét mắt tôi đi cũng được.

    Quách Phù nghe nói vậy liền nhìn lên đài quan sát thấy Hà Sư Ngã thân pháp hùng mạnh, thân thể khang kiện, bước tới bước lui trông rất ngoạn mục. Nàng nhớ lại cuộc hội năm xưa có mặt gã là Toa Đô hoàng tử, nên cất tiếng hỏi :

    - Nếu phải gã là Toa Đô, thì vị Tây Tạng hòa thượng này là sư huynh của gã mà ! Thế thì tại sao họ lại không nhận nhau mà cứ tiếp tục giao đấu ?

    Hoàng Dung nói :

    - Đạt Nhĩ Ma nhận ra được sư đệ chứ, nhưng g lại hận tên sư đệ này đến cùng tột, suýt làm hại đến tính mạng của gã . Nguyên do là thế này : một năm nọ tại Trùng Dương cung ở Tung Nam Sơn có xảy ra một cuộc giao chiến kịch liệt, Dương- Qua dùng cây huyền thiết trọng kiếm giao đấu với Đạt Nhĩ Ma và Toa Đô. Toa Đô thấy nguy hiểm đến nơi, liền thi hành gian kế trốn thóat bỏ sư huynh hắn lại một mình. Câu chuyện này mọi người trong phái Toàn Chân đều biết hết, ngươi không nghe người ta nói hay sao ?

    Quách Phù nói :

    - Vì thế mà Đạt Nhĩ Ma căm giận Toa Đô?

    Quách Tường nghe mẹ nói : Dương- Qua dùng thanh huyền thiết trọng kiếm cầm giữĐạt Nhĩ Ma và Toa Đô, nàng tưởng tượng Dương- Qua thủa xưa cũng là tay kiệt liệt anh hùng, nên vẻ mặt tươi hẳn lên :

    - Tại sao nó biến thành tên Khất Cái ? Và tại sao nó lại giữ Đả Cẩu bổng làm gì?

    Hoàng Dung nói :

    - Có gì khó hiểu đâu ! Toa Đô phản bội sư môn, tự nhiên nó phải sợ sư phụ và sư huynh của nó chứ. Vì vậy nó mới hóa trang, cải dạng, xin ra nhập Khất Cái bang, lại giả bộ khù khờ để không lộ chân tướng. Cũng đáng khen, nó chịu đựng được khổ hạnh ăn mày trong 1 0 năm mới được thăng làm đệ tử 5 bị, do đó trong Khất Cái bang không ai nghi ngờ được. Chính Kim Luân Pháp Vương ra lệnh tróc nã gã chẳng được. Gã gian ác này rất tự phụ, cho nên mới cố tìm một đời sống mới. Cơ hội đã đến với gã , gã mới lập cách ám hại Lỗ Hữu Cước để giành chức Bang chủ Khất Cái bang. Nhân lúc Lỗ Hữu Cước tuần du ngoài thành, thì gã đã âm thầm theo thi hành độc kế. Trong khi hạthủ, gã cố ý để lộ mặt thật và nói năng om sòm, để chúng đệ tử Cái Bang thấy rõ kẻ giết Lỗ Hữu Cước chính là Toa Đô. Rồi g đoạt luôn Đả Cẩu bổng, và giấu trong cái ống thép, thoạt nhìn thì cứ tưởng là cây thiết trượng. Đợi đến ngày khai đại hội, và suy cử Tân Bang chủ, gã có điều kiện trở thành một vị Tân bang chủ. Tuy nhiên, võ công của gã không áp đảo nổi quần hùng, cho nên gã mới bịa ra câu chuyện "Tìm Đả Cẩu bổng".

    Đúng theo quy củ của Khất Cái bang, Đả Cẩu bổng lưu truyền từ đời này qua đời nọ, thì có ai nghi ngờ dã tâm của hắn được ? Hi hi ! Tên gian tặc Toa Đô này đã làm kế hoạch rất công phu, có thể gọi là người anh kiệt.

    Chu Tử Liễu cả cười nói :

    - Nếu không có Quách phu nhân tại đây, gã sẽ trổ hết chân tướng, toàn thắng quần hùng.

    Hoàng Dung mỉm cười :

    - Gã chung sống với toàn bang hành khất, mà không để lộ tung tích một mảy may. Nếu tôi còn giữ chức Khất Cái bang chủ, thì Toa Đô chẳng bao giờ qua mặt Hoàng Dung này đựoc.

    Chu Tử Liễu nói :

    - Thằng bé Dương Qua thật là tài tình, nó khám phá ra cơ mưu của Toa Đô nên mới sai người đi nhặt Đả Cẩu bổng và lật mặt nạToa Đô để làm món lễ phẩm thứ ba tặng cho Quách nhị co ânương. Tôi đoán chẳng sai đâu.

    Quách Phù trề môi và nói :

    - Xì, làm sao Dương- Qua có kế hoạch tinh xảo nh vậy ?

    Quách Tường nhớ lại một việc liền nói :

    - Toa Đô đã ở rất lâu trong Khất Cái bang và hóa trang ra một người rất xấu xí. Nếu sự này chẳng xảy ra thì trong Sử Thị huynh đệ cũng phải đi tìm hắn để rửa hận vì chính Toa Đô ngày trước đã đả thương Sử tam thúc.

    Hoàng Dung gật đầu nói :

    - Trong giới giang hồ ai cũng để ý và truy nã Toa Đô, nhưng có ai rõ Toa Đô đã ẩn mình trong Khất Cái bang, lấy hiệu là Hà Sư Ngã ?

    Quách Phù nói :

    - Mẹ, tại sao chúng ta không giết gã Toa Đô, để thiên hạ chê cười sao ?

    Hoàng Dung nói :

    - Ngươi chẳng cần lo điều ấy !

    Quách Tường nhủ thầm : - Cái ngày ở tại miếu Dương Thái phó, ta đang tế Lỗ Hữu Cước bá bá, chắc là Dương đại ca đã nghe được lời khấn vái của ta. Chàng đã rõ tâm sự của ta, nên mới cố tâm truy ra kẻ đại nghịch để trả thù cho Lỗ lão bá. Nhưng tại sao đến giờ chàng vẫn không lại ?

    Lúc bấy giờ trên đài Toa Đô và Đạt Nhĩ Ma đang giao đấu rất mãnh liệt. Hai người cùng học một thầy, nên biết rõ hết chiêu số của nhau. Đạt Nhĩ Ma thắng ở chỗ sức lớn, khí thịnh. Toa Đô lại giỏi hơn về dẻo dai và nhẹ nhàng cho nên 2 người giao chiến với nhau trên cả trăm chiêu mà vẫn bất phân thắng bại.

    Bỗng Đạt Nhĩ Ma hét lên một tiếng cực lớn, ném mạnh cây Hoàng kim can vào người Hà Sư Ngã , cây can này nặng trên 30 cân, khi thoát ra khỏi tay khí thế cực kỳ hung mãnh.

    Toa Đo âkêu lên một tiếng kinh hồn. Vì thủa bình sang tới giờ gã chưa thấy sư huynh sử dụng chiêu số này lần nào cho nên Toa Đo âthan thầm :

    - Sư huynh giao đấu với ta lâu quá không thắng được nên trổ môn tuyệt kỹ quyết hạta rồi.

    Gã thất kinh nhảy nhanh ra xa tránh cây can bổ tới. Đạt Nhĩ Ma thấy vậy, phóng đến nhặt cây hoàng kim can, rồi giơ lên cao nhằm ngay đầu đối phương bổ xuống.

    Toa Đo âlật đật lùi ra mấy bước, vừa tránh vừa nghĩ :

    - Trong 1 0 năm qua, sư huynh ta sát cánh với sư phụ chắc là được sư phụ truyền cho các thế võ tinh diệu. Bây giờ sư huynh đem ra sử dụng thì ta biết làm thế nào mà né tránh được ?

    Nghĩ vậy nên Toa Đô cứ lùi mãi, không dám đỡ nữa. Nhưng cây hoàng kim can trên tay Đạt Nhĩ Ma càng lúc càng vũ lộng, làm cho các bó đuốc quanh đài bị ngọn gió đàn áp lúc tỏ lúc mờ.

    Mọi người dưới đài trông lên ai cũng bảo sớm muộn gìToa Đô cũng chết dưới tay Đạt Nhĩ Ma.

    Trong khi Toa Đo âluống cuống chống trả thìĐạt Nhĩ Ma đưa ra hằng 1 0 chiêu số khác nhau, cây hoàng kim can bay vun vút như muôn ngàn mũi tên xẹt vào người Toa Đô.

    Toa Đô hết phương tránh khỏi. "Bình" một tiếng, cây hoàng kim can giáng mạnh vào bụng Toa Đô, thân mình gã lảo đảo và gã lăn xuống đài nằm bất động.

    Đạt Nhĩ Ma thâu lại cây hoàng kim can, cất tiếng khóc to ba tiếng và quỳ bên xác Toa Đô, bắt đầu niệm :

    - Nam mô a di bà đạ

    Tụng xong bài chú vãn sanh, Đạt Nhĩ Ma mới nhảy xuống đài và đem cây hoàng kim can lại dâng lên Thanh Linh Tử, cúi đầu tỏ ra cung kính.

    Thanh Linh Tử không lấy binh khí của y, mà nói tiếng Tây Tạng có nghĩa là :

    - Cung hạĐạt Nhĩ Ma đã rửa đuợc mối thù mà giết thác kẻ bội sư phản huynh. Thần Điêu Đại hiệp đã tha cho ngươi, và bảo ngươi hãy trở về Tây Tạng lo việc làm ăn, không được đến Trung Nguyên nữa.

    Đạt Nhĩ Ma nói :

    - Đa tạThần Điêu Đại hiệp ! Tiểu tăng xin vâng theo mạng lệnh. Nói xong hắn quỳ xuống hành lễ rồi tung mình mất dạng.

    Quách Phù thấy Toa Đô nằm chết trên đài, vẻ mặt và thể xác vẫn y nguyên, nàng không tin Hà Sư Ngã chính là Toa Đô giảmạo nên rút thanh trường kiếm tung mình lên đài nói :

    - Tôi muốn nhìn cho tường tận mặt mũi kẻ gian nhân ra sao !

    Nói xong nàng đưa đầu kiếm vào lỗ mũi Toa Đô. Toa Đô hét lên một tiếng cực to và ngồi bật dậy, song chưởng tung ra đánh vào ngực Quách Phù.

    Nguyên gã bị đập một cây hoàng kim can nhưng chưa chết hẳn, chỉ bị trọng thương. Tánh tình của gã hung hăng ác nghiệt, nên cố ý nằm yên bất động, đợi chờ Đạt Nhĩ Ma đứng trước mặt xem xét, thì sẽ tung ra một chưởng cuối cùng để cả hai cùng chết.

    Không ngờ Đạt Nhĩ Ma lại quỳ trên đầu gã niệm chú, chúc cho gã sớm về nơi cực lạc. Khi dứt bài trú, Đạt Nhĩ Ma lại đi mất.

    Kế đó, Quách Phù lên đài đứng trước mặt gã và dùng lưỡi kiếm trỏ vào mũi. Cái chưởng phong cuối cùng của gã đã vận dụng toàn thể chân khí vì gã nghĩ không sớm thì muộn gã cũng chết.

    Quách Phù thấy xác chết biến động, hoảng kinh đưa kiếm ra đỡ. Nàng có áo da nhím hộ thân, nhưng đã trao cho chồng mặc rồi. Hiện giờ nàng chỉ còn mạng không, và với chưởng phong của Toa Đô nàng làm sao tránh nổi .

    Quách Tỉnh, Hoàng Dung, Gia Luật Tề lập tức đứng dậy muốn nhảy lên đài tiếp cúu, nhưng không tài nào kịp.

    Trong lúc thập phần nguy hiểm bỗng có tiếng đờn "tăng tăng", té ra đó là 2 mũi ám khí. Một ám khí chống lại chưởng phong cứu Quách Phù, một ám khí nhắm ngay bụng Toa Đô bắn tới.

    Hai vật ám khí này thoạt thấy như sợi tơ, mà sức mạnh phi thuờng. Toa Đo âtrúng ám khí lăn vài vòng rớt xuống đài, mửa ra một búng máu tươi, thân thể dập nát, hồn về địa phủ.

    Mọi người kinh ngạc, ngước mắt nhìn xem ai đã bắn ám khí tài tình như vậy.

    Không có bóng dáng người nào cả, chỉ thấy ráng tà sắp lặn, vài ngôi sao chớp lập lòe.

    ám khí từ trên cao bắn xuống, tựa hồ như trên lá cờ cao chót vót bay ra. Hoàng Dung nhìn thấy ám khi xé không khí kêu "tăng tăng" thì bà đoán chắc ngoài Hoàng Dược Sư phụ thân mình, không còn ai có thuật Đàn Chỉ Thần Công ấy cả. Bà không còn nghĩ ngợi gì thêm, cất tiếng kêu to :

    - Gia phụ giá lâm !

    Lại nghe có tiếng người phát ra trầm trầm, từ trên chót vót ngọn cờ bên hữu nói vọng xuống :

    - Dương Qua ! Người bạn nhỏ ! Chúng ta xuống chứ ?

    Tại ngọn cờ bên tả có tiếng người đáp lại :

    - Vâng ạ!

    Hai bên ngọn cờ bỗng thấy có 2 người xuất hiện đáp từ từ xuống mặt đài, nương theo ánh sáng của bóng trăng.

    Một ông lão tóc bạc như sương, râu năm chòm mặc đạo bào xanh, và một g cụt tay choàng áo màu lục. Chính là Hoàng Dược Sư và Dương- Qua. Hai người nắm tay nhau bay lơ lửng xuống mặt đài, in như câu chuyện thần tiên của đời thượng cổ.

    Mọi người không nghe rõ 2 người này nói chuyện, cho nên họ tưởng hai tướng nhà trời hạ trần.

    Quách Tỉnh và Hoàng Dung mừng nhảy thoắt đến bên Hoàng Dược Sư cúi đầu làm lễ.

    Dương- Qua hướng vào 2 vợ chồng Quách Tỉnh lạy và nói :

    - Điệt nhi Dương- Qua cúi lạy Quách bá bá và Quách bá mẫu.

    Quách Tỉnh lật đật đỡ dậy và nói :

    - Qua nhi ! Con đã tặng cho 3 món lễ vật rất hậu này thật là ... thật là ...

    Lòng Quách Tỉnh quá cảm xúc nên ông không nói hết lời. Quách Phù lại sợ phụ thân bắt mình lạy tạ Dương- Qua đền ơn cứu mạng, nên lật đật chạy đến bên Hoàng Dược Sư nói :

    - Ông ngoại, ông ngoại cho gian nhân một ám khí chết queo.

    Dương- Qua biết ý Quách Phù nên mỉm cười và bước tới trước mặt Quách Tường nói rằng :

    - Tiểu muội ! Ta đến có hơi chậm.

    Quách Tường vui mừng quá đổi, gương mặt đỏ bừng và nói :

    - Đại ca đã phí sức lo cho tôi quá nhiều, với 3 món lễ vật này thật là.. thật là khổ cực cho đại ca quá.

    Dương- Qua cười nói :

    - Vì ngày sanh của tiểu muội, tôi phải tạo vui vẻ náo nhiệt để vui chơi, chẳng có chi cực nhọc.

    Nói xong chàng đưa tay lên vẫy mấy cái, Đại Đầu Quỷ thấy vậy hô to :

    - Hãy giơ tay lên, hoan hô!

    Tất cả hội trường đều giơ tay hoan hô dậy đất, thanh âm truyền đi thật xa. Vài phút sau, có một đoàn người đi vào, mỗi người trên tay đều có cầm 1 cây đèn lồng rất đẹp, và trên lưng có mang mấy cái bao thực lớn. Khi tập họp đông đủ, họ mới chia nhau mang cây ván ra ráp một cái đài tại hướng Đông của hội trường, và hướng Tây dựng lên một cột đèn màu.

    Họ tiến vào trong hội trường mỗi lúc một đông, kẻ vác ván người đóng đinh, không ai nói lời nào cả. Họ làm việc cực kỳ mau lẹ. Trong phút chốc đã dựng xong cái đài và trụ cờ.

    Quần hùng và Khất Cái bang thấy Dương- Qua gửi tặng 3 món lễ hậu, nên tất cả đều bội phục lắm. Bây giờ chàng lại triệu tập một số đông người lại đây, quần hùng định là còn vài chuyện lạnữa nên vẫn im lặng đón chờ.

    Chỉ chốc lát, tiếng trống, kèn, đờn, địch nổi lên. Ban đại nhạc ra trình diễn với mọi người khúc nhạc "Bát tiên hạ thọ"

    Tiếp đến đoàn ca vũ, trên góc đài phía Tây Bắc, kéo ra ca vũ theo khúc "Mãng Sàng Vật" Đấy là bài ca chúc thọ của Quách Tử Nghi trong ngày sinh nhật, có 7 cậu đồng nhi và 8 cô gái nhỏ ca xang và dâng lễ.

    Trong khoảnh khắc, hoa pháo phóng lên bên đài rực rỡ, tiếp theo là hàng ngàn giọng ca xang múa hát, tiếng đờn tiếng địch vang trời, thật là một cuộc vui chẳng ai ngờ đuợc.

    Mỗi một đài gồm các danh ca nhạc sĩ hai xứ Hồ và ba tỉnh Tương hợp diễn, thật không có người nào dám mua một dàn hát lớn thế này, và nghệ thuật của họ đến mức ảo diệu.

    Quách Tường thấy Dương- Qua đối đãi với mình rất tốt thì mừng đến ứa nước mắt, không nói được tiếng nào.

    Quách Phù nhớ lại lúc ở miếu Dương Thái phó, cô em gái có nói "Sẽ có một người thiếu niên hiệp sĩ đến chúc thọ", bây giờ đúng y như lời nói nên lòng ghen tức bắt đầu nổi dậy. Quách Phù nắm tay Hoàng Dược Sư hỏi đủ thứ chuyện, đối với sự náo nhiệt tưng bừng giả bộ không biết đến.

    Quách Tỉnh thấy Dương- Qua đối đãi với con gái ông như vậy cũng vui lây. Ông lại nghĩ đến chàng từ thủa nhỏ đến giờ hay làm những chuyện lạ thường, nay lại giúp cho thành Tương Dương và Khất Cái bang 3 điều đại sự. Bấy nhiêu hành động của chàng làm cho ông hài lòng vuốt râu cười khề khà và không nói gì cả.

    Hoàng Dung day qua hỏi phụ thân:

    - Gia phụ đã ước hẹn với Qua nhi gặp nhau tại trụ cờ chăng ?

    Hoàng Dược Sư cả cười nói :

    - Không phải như vậy ! Có một hôm ta ở Động Đình Hồ thưởng trăng trên dòng nước bạc, bỗng nghe có tiếng người truyền lệnh giữa đêm khuya, ta đến hỏi gã thợ câu thì gã cho biết đấy là tiếng của Thần Điêu Đại hiệp bảo mọi người đến thành Tương Dương. Lời gã thợ câu nói không nhầm, và ta hoang mang cực độ, sợ gã Thần Điêu Đại hiệp này đem điều bất lợi đến cho nữ tử và nữ tế của ta, cho nên ta lần dò xem xét thì hóa ra Thần Điêu Đại hiệp lại là người bạn nhỏ Dương- Qua. Nếu ta biết sớm thì ta đâu cần phải thăm dò cho mệt xác.

    Hoàng Dung thấy thân phụ tuy đang rong chơi trong chốn giang hồ mà lòng vẫn lo lắng cho con gái và con rể thì cảm động lắm, nói :

    - Gia phụ ! Nếu không có câu chuyện này thì bao giờ cho mới có dịp ghé thăm con cháu, để đoàn tụ cho vui trong một vài hôm ?

    Hoàng Dược Sư làm ngơ không đáp, ngó Quách Tường đưa tay vẫy gọi, nói :

    - Cháu gái nhỏ ! Lại đây cho ông ngoại xem một tí.

    Quách Tường từ thủa lọt lòng đến nay chưa nhìn thấy ông ngoại lần nào, nên lật đật chạy đến cúi lạy.

    Hoàng Dược Sư nắm lấy tay cháu, và nhìn xem, ông gật đầu bảo nhỏ :

    - Thực giống như khuôn đúc.

    Hoàng Dung biết cha đang nhớ đến mẹ, nên mới nói Quách Tường giống bà ngoại như khuôn đúc.

    Quách Phù vui vẻ nói :

    - Ông ngoại không biết chứ nó có cái biệt hiệu là Tiểu Đông Tà đó, ông ngoại gọi nó là Tiểu Đông Tà được rồi.

    Quách Tỉnh nói to :

    - Phù nhi ! Ngươi không được vô phép với ông ngoại !

    Hoàng Dược Sư cười to :

    - Tường nhi ! Ngươi có ngoại hiệu là Tiểu Đông Tà sao ? Ngươi tự xưng như thế à ?

    Quách Tường thẹn đỏ mặt ấp úng đáp :

    - Cháu đâu dám thế ! Ông ngoại ! Lúc đầu tỉ tỉ gọi chơi, dần dần mọi người thấy hay hay đều gọi cháu như thế cả.

    Hoàng Dược Sư cất tiếng cuời dài Bấy giờ những người trưởng lão trong Cái Bang đứng bên Dương- Qua, hết lời ca tụng và cảm tạ. Họ đều nghĩ giống nhau :

    - Chàng đã đoạt được Đả Cẩu bổng và khám phá ra mưu kế của Toa Đô. Nếu chàng có ý muốn làm bang chủ Cái Bang, thì thật là điều tốt đẹp vô cùng.

    Lương trưởng lão nói :

    - Dương đại gia ! Tệ bang Bang chủ Lỗ Hữu Cước vừa bất hạnh tạthế ...

    Dương- Qua đã rõ Lương trưởng lão muốn nói gì, chàng ngắt ngang :

    - Gia Luật đại huynh văn võ song tòan, anh minh nhân nghĩa, cũng là hảo hữu của ta, thì hãy mời Gia Luật đại huynh xuất nhiệm chức vị Tân Bang chủ.

    Hoàng Dược Sư hỏi Quách Tường mấy câu về võ thuật và hướng đôi mắt như ngầm bảo Dương- Qua là ông sẽ đi.

    Dương- Qua quay lại đã thấy thân hình ông thấp thoáng ra khỏi hội trường, lại nghe tiếng ông vọng lại :

    - Dương- Qua, người bạn nhỏ, ngươi có đi không ?

    Dương- Qua gật đầu, phất mạnh tay áo. Chỉ trong nháy mắt chàng đã theo kịp Hoàng Dược Sư , rồi một già một trẻ nắm tay nhau băng mình đi trong đêm tối.

    Hoàng Dung muốn than thở một vài lời tha thiết với cha, nhưng trước mặt người lạ quá đông, chưa tiện mở lời thì Hoàng Dược Sư đã đi mất. Bà cúi đầu sụt sùi khóc, rồi chẳng biết nghĩ sao bà cũng đứng dậy chạy theo.

  2. #82
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 97 ÂN OÁN BA ĐỜI


    Hoàng dược Sư và Dương Qua chạy tuy mau nhưng Hoàng Dung đuổi theo gần kịp chỉ còn cách chừng 1 0 trượng là đến ngang 2 người.

    Hoàng Dung kêu to :

    - Gia phụ ! Qua nhi ! Hãy trở lại nghỉ ngơi ít hôm !

    Tiếng kêu vừa dứt thì Hoàng dược Sư và Dương Qua đã mất dạng, chỉ nghe tiếng của Hoàng dược Sư nói vọng lại :

    - Dung nhi ! Hai ta là người thảo dã , rất sợ bó buộc. Ngươi hãy để cho chúng ta tự do tự tại là hơn.

    Thanh âm nhỏ dần, cách hơn dặm đường. Hoàng Dung thở dài và biết không thể nào đuổi theo kịp nên phải quay về.

    Trong đại hội trường, tiếng la, tiếng trống vang rền náo nhiệt. Bấy giờ Tây Sơn Nhất Khuất Quỷ, Sử thị huynh đệ, Thanh Linh Tử cùng với 7 vị tiền bối võ lâm, lần lượt ra về, còn đoàn nhạc lữ ở lại.

    Khất Cái Bang có 4 đại trưởng lão họp nhau để thương nghị, không còn lo ngại về Toa Đô nữa, nên lập Gia Luật Tề lên chức Bang chủ.

    Bang chúng theo tập tục cổ truyền mỗi người phải nhổ nước miếng vào mặt Gia Luật Tề để hành lễ. Những quần hùng ở bên ngoài, người người đều hướng vào Gia Luật Tề chúc hạ, tiếng nói thật ồn ào, náo nhiệt.

    Hoàng Dung bảo quân khố xuất bạc ra tặng cho đoàn hát. Các ban hát diễn tới mặt trời sáng rực mới cảm tạ ra về.

    Quách Tường thấy Dương Qua đến chỉ nói ít câu rồi mỉm cười nhìn nàng, trong giây phút đã chia tay, lòng nàng còn chưa thỏa nên nao nao buồn. Nàng lại nhìn thấy tỉ tỉ cao hứng ở bên chồng, và chen lời cảm tạ quần hùng, nàng không còn lý do gì nấn ná lại đây nữa nên đứng dậy rời khỏi hội trường về phòng riêng.

    Hoàng Dung đi theo bên nàng, nắm tay nói :

    - Tường nhi, chuyện gì thế ? Hôm nay chắc con vui vẻ lắm

    Quách Tường nói :

    - Không, con cảm thấy mệt mỏi !

    Nàng chỉ nói được bấy nhiêu lời thì đã khóc òa, đôi mắt đầy lệ. Quá hổ thẹn, Quách Tường cúi đầu lầm lũi bước đi. Hoàng Dung biết rõ tâm sự của con gái, nên nói lảng qua câu chuyện khác. Bà kể lại những tuồng hát và chọc cho con gái cười phá lên. Hai mẹ con chầm chậm đi về phủ.

    Hoàng Dung đưa Quách Tường về phòng riêng rồi hỏi nhỏ :

    - Tường nhi ! Con có mệt không ?

    Quách Tường đáp :

    - Con chẳng sao cả. Mẹ đã một đêm không ngủ, cần nghỉ để dưỡng sức.

    Hoàng Dung dìu con gái vào trong giường. Hai mẹ con đồng ngồi xuống. Bà lấy tay xoa đầu, vuốt tóc con và hỏi :

    - Tường nhi, con có rõ cuộc đời của Dương Qua không ? Ta sẽ nói hết cho con nghe. Câu chuyện dài lắm.

    Quách Tường chấn động tinh thần, hỏi :

    - Mẹ kể cho con nghe câu chuyện của Dương đại ca ?

    Hoàng Dung nói :

    - Ta sẽ kể từ đầu, từ thời của ông nội nó về sau.

    Bà lần lượt kể từ lúc Dương Thiết Tâm và Quách Khiếu Thiên kết nghĩa tại Ng u Gia Thôn ở thành Lâm An. Quách, Dương hai nhà định kết sui gia.

    Nhưng sau đó Dương Khang nhận kẻ địch làm cha, bán nước cầu vinh, đến ngày sau chết chẳng toàn thây. Dương Qua được gửi tại Đào hoa đảo nuôi dưỡng. Bà cũng kể chuyện Quách Phù chặt cánh tay của Dương Qua, và sau hết Tiểu Long nữ chia tay với Dương Qua tại Tuyệt Tình Cốc. Bà kể rõ mọi việc cho Quách Tường nghe.

    Sau khi nghe xong, Quách Tường kinh hãi, dang tay ôm chặt mẫu thân. Bàn tay nàng ướt đẫm mồ hôi.

    Trong tâm của nàng, hình ảnh Dương đại ca không bao giờ phai mờ. Dương Qua đối với gia đình nàng có mối liên hệ uyên nguyên, không ngờ rằng cánh tay cụt của chàng cũng là do tỉ tỉ nàng chặt đứt, và cũng vì tỉ tỉ nàng mà Tiểu Long nữ phải chịu cảnh chia ly. Rồi cũng do tỉ tỉ nàng đánh Băng Phách Ngân Trâm mà Tiểu Long nữphải bị độc.

    Nàng thương cho Dương Qua là một trang hiệp sĩ ưa gánh vác việc thiên hạ, và có thiện cảm với gia đình nàng nên mới tặng lễ, đáp lời như vậy, ngờ đâu trong đó lại chứa đựng một cuộc ân oán mang nặng đến 3 đời.

    Quách Tường nghe mẹ nói xong, tâm thần hỗn loạn, như ngây như dại. Hoàng Dung buồn bã thở dài và nói :

    - Lúc đầu ta có ý nghĩ sai lầm về Dương Qua. Ta không nghĩ nó quen biết với ngươi là có thành tín như thế này. Ta còn thua xa cha ngươi ở chỗ biết người. Dương đại ca của ngươi, tối nay đã làm 3 việc lớn lao, để chứng tỏ nó không có tà niệm, và có lẽ lòng nó không đuợc vui. Ta nghĩ đã mang ơn của nó không nhỏ., thật là cảm kích vô cùng.

    Quách Tường lấy làm lạ, hỏi :

    - Mẹ ! Dương đại ca tại sao không vui và tà niệm về việc gì ?

    Hoàng Dung nói :

    - Lúc đầu ta tưởng là nó nhớ đến cái hận lâu đời với Quách gia, tìm kế hại ngươi để báo cừu.

    Quách Tường lắc đầu nói :

    - Dương đại ca chắc không nghĩ như vậy. Nếu muốn giết chết con thì dễ như trở bàn tay. Như lúc tại Tây Sơn, đại ca chỉ cần búng ngón tay cũng đủ giết chế con rồi, cần gì phải phí tâm phí sức.

    Hoàng Dung nói :

    - Ngươi thật ngây thơ, chẳ ng hiểu gì. Dương Qua nó làm cho ngươi đau khổ và phiền muộn cả đời, như vậy còn ác hơn giết ngươi thập bội! ý ! Không cần nói ta cũng biết nó còn chứa chất trong lòng một thắc mắc. Cũng như trong tâm ta còn một chuyện lo nghĩ chẳng yên.

    Quách Tường nói :

    - Mẹ lo nghĩ làm gì ! Con thấy Dương đại ca nói với con rằng Long tỉ tỉ vì thọ trọng thương nên được Nam Hải Thần Ni cứu thoát đem về để chữa trị nội thương, và có hẹn ước với đại ca 1 6 năm sau hội ngộ. Vợ chồng Dương đại ca tình sâu nghĩa nặng thì làm thế nào họ cũng cố để gặp nhau.

    Hoàng Dung nhíu mày nói :

    - Ôi ! Khó quá !

    Quách Tường lại hỏi :

    - Dương đại ca có nói : Long tỉ tỉ lúc ở Đoạn Trường Nhai lấy kiếm rạch lên phiến đá một hàng chữ: Mười sáu năm sau hội ngộ tại đây. Vợ chồng nghĩa nặng, xin đừng lỗi hẹn, muôn ngàn trân trọng, cầu mong gặp mặt.

    Chẳng lẽ hàng chữ này ai giả mạo ra hay sao ?

    Hoàng Dung nói :

    - Nét chữ thật là của Tiểu Long nữ không sai. Tiểu Long nữ yêu thương Dương Qua lắm. Do đó Dương Qua lúc nào cũng hy vọng gặp lại nàng.

    Quách Tường không rõ ý nghĩa lời nói của mẹ, nên ngước mắt nhì n bà ra ý hỏi.

    Hoàng Dung nói :

    - Mười sáu năm về trước, vợ chồng Dương đại ca của ngươi đều bị thuơng nặng, phần Dương đại ca của ngươi có thuốc trị liệu, còn Long tỉ tỉ của ngươi thì chất độc đã ngấm vào xương tủy. Dương đại ca của ngươi thương yêu vợ của nó vô cùng, tin chắc nàng không sống được trừ phi có tiên đơn diệu dược, do đó Dương đại ca của ngươi từ chối không dùng thuốc để chữa bệnh.

    Quách Tường nghe mẹ nói như vậy giật mình. Trong giây phút nàng ngập ngừng nói :

    - Nếu gặp trường hợp này là con, con sẽ giả trang ra người khác, nhường cho chàng thuốc giải độc.

    Hoàng Dung không ngờ con mình còn ngây thơ mà có tâm chính người lớn, liền bảo:

    - Chẳng phải vậy đâu ! Ta chỉ nghĩ Tiểu Long nữ ngộ độc nặng, chớ không ngờ nàng lại bỏ Dương Qua mà đi như vậy. Nàng vạch lên đá những lời thống thiết, nào là vợ chồng nghĩa nặng, xin đừng lỗi hẹn, lại còn nói : Muôn ngàn trân trọng, mong cuộc đoàn viênÕ. Rồi nàng đột nhiên bỏ đi tuyệt tích, không ai tìm ra được.

    Nàng ra đi, mục đích là để Dương đại ca của ngươi yên lòng uống thuốc, bình yên mạnh khỏe chờ đợi trong vòng 1 6 năm. Ôi ! Ta cũng nghĩ mười sáu năm qua, tưởng đâu mối tình cũ của nó đã nguôi ngoai theo ngày tháng, mặc dù Dương đại ca của ngươi đã chịu uống thuốc chữa bệnh, và không còn ý định tự tận nữa. Nhưng mối cựu tình của Dương đại ca ngươi không ngờ vẫn nóng bỏng như tự thủa nào.

    Quách Tường hỏi :

    - Còn việc Nam Hải Thần Ni thì sao ?

    Hoàng Dung nói :

    - Nam Hải Thần Ni, chính là câu chuyện do ta bịa đặt, và không hề có một người như thế bao giờ.

    Quách Tường kinh hãi :

    - Vậy ra không có Nam Hải Thần Ni ?

    Hoàng Dung thở ra, nói :

    - Ngày ở trong Tuyệt Tình Cốc tại Đoạn Trường Nhai, ta thấy Dương Qua the âlương khổ sở, làm cho lòng ta bất nhẫn, ta mới bịa đặt ra chuyện Nam Hải Thần Ni để an ủi nó, để nó yên lòng uống thuốc mà chờ đợi trong 1 6 năm cho khuây khỏa nỗi niềm. Ta nói Nam Hải Thần Ni ở Đại Trí đảo, nhưng trên thế gian này làm gì có đảo ấy. Ta lại nói Nam Hải Thần Ni dạy chưởng pháp cho ngoại tổ ngươi, để đánh tan sự nghi ngờ của nó. Dương đại ca của ngươi thông minh tuyệt đỉnh, nếu ta không vẽ rồng vẽ rắn làm sao nó chịu tin. Nếu nó không tin thì nó sẽ tự tử mất vì nó đ quá yêu Tiểu Long nữ.

    Quách Tường nói :

    - Mẹ nói vậy thì ra Long tỉ tỉ chết rồi sao ? Vậy là câu chuyện ước hẹn 1 6 năm không có nữa rồi.

    Hoàng Dung bảo :

    - Không, không hẳn thế ! Nếu Tiểu Long nữ còn sống trên đời thì đến ngày ưước hẹn, nàng và Dương Qua gặp nhau, họ sẽ vui vẻ tạ ơn trời đất. Tiểu Long nữ là đệ tử đắc ý nhất của phái Cổ Mộ, mà tổ sư của phái này là Lâm Triều Anh nữ hiệp, học vấn uyên thâm, nội ngoại thần công còn giỏi hơn nhiều môn phái khác, may ra Tiểu Long nữ có thể không chết.

    Quách Tường nói :

    - Con tưởng tượng nếu Dương đại ca và Long tỉ tỉ gặp nhau thì chẳng khác nào muôn hoa đua nở, còn trái lại Dương đại ca sẽ phát điên lên mất.

    Hoàng Dung nói :

    - Hôm nay có ông ngoại ngươi đến với nó, thì làm thế nào nó không hỏi ông ngoại ngươi, và nhờ giúp nó đến gặp Nam Hải Thần Ni.

    Quách Tường buồn rầu hỏi :

    - Con đã hiểu Dương đại ca và ông ngoại cùng đi chung, thế nào đại ca cũng đề cập việc Nam Hải Thần Ni. Ông ngoại không biết gì, thì chuyện này chắc là không êm đẹp phải không mẹ ?

    Hoàng Dung đáp :

    - Nếu như Tiểu Long nữ cùng Dương Qua đoàn tụ, thì là một việc cực tốt, mọi việc đều yên. Nếu đến kỳ hạn mà đại ca ngươi không gặp được Tiểu Long nữ thì tất nhiên tính tình nó biến đổi sinh ra náo loạn. Nó sẽ giận ta lừa nó, làm cho nó phải khổ sở chờ đợi 1 6 năm dài.

    Quách Tường nói :

    - Mẹ đâu có gạt Dương đại ca, mọi chuyện đều là vì Dương đại ca. Mẹ có lòng tốt cứu tính mạng cho đại ca đó chứ.

    Hoàng Dung buồn bã lắc đầu :

    - Tuy vậy nhưng trong khi đau khổ quá nó chẳng bao giờ nghe lời người ta khuyên bảo.

    Quách Tường nói :

    - Mẹ ! Cách 1 6 năm thì chắc sự thương tâm cũng nhạt phai rồi, chẳng lẽ Dương đại ca lại tự tận hay sao ?

    Hoàng Dung trầm ngâm giây lát, đoạn nói :

    - Có nhiều người bảo là ta đã đem đau khổ đến cho Dương đại ca ngươi. Vì vậy ta khó mà đem lời giảng giải cho nó hiểu được. Ta cũng muốn cho ngươi gặp nó, trừ phi Tiểu Long nữ còn sống thì mới có thể cảm hóa được Dương Qua.

    Quách Tường ngơ ngác nói không nên lời. Hoàng Dung nói :

    - Tường nhi, mẹ hết lòng thương con, nếu con không chịu nghe lời mẹ nói, sau này hối hận không kịp.

    Hoàng Dung nói đến đây nhăn mặt nhíu mày, đôi mắt đỏ hoe, qua một lúc bà ôn tồn tiếp :

    - Tường nhi, ta sẽ kể thêm cho ngươi 1 chuyện mà Dương Khang, phụ thân của Dương đại ca ngươi đã làm.

    Đoạn bà bèn kể từ lúc Dương Thiết Tâm thâu nhận Mục Niệm Từ làm nghĩa nữ, và đến việc tỷ võ chiêu phu gặp Dương khang, đến lúc Dương Khang tạo nhiều ác nghiệp mà Mục Niệm Từ trước sau vẫn đối đãi với Dương Khang bằng mối tình sâu đậm. Rồi Mục Niệm Từ lại tự tử chết theo Dương Khang ở Dương Thiết Thuơng miếu. Tất cả đều được bà lần lượt kể lại rõ ràng. Và sau hết, Hoàng Dung tóm tắt :

    - Mục Niệm Từ tỉ tỉ tài mạo song toàn, có một không hai trong những trang nữ kiệt, chỉ vì vướng phải lưới tình mà đọa lạc rất thảm thương.

    Quách Tường nói :

    - Mẹ ! Bà ấy không còn phương pháp gì sao ? Nếu bà làm cho Dương thúc thúc vui lòng, đâu nỡ phụ bà, mà phải hành động bi quan như vậy ?

    Hoàng Dung biết con gái còn ngây thơ quá đỗi, nhủ thầm :

    - Con còn nhỏ lắm, làm sao hiểu được tình trường muôn mặt.

    Bà liếc nhìn thấy thần sắc của Quách Tường quá đỗi mệt nhọc, đôi mắt lim dim chứng tỏ nàng đ buồn ngủ nên bà cúi xuống cởi aó dìu Quách Tường lên giường và kéo màn phủ xuống, bảo :

    - Con buồn ngủ lắm rồi, hãy nằm nghỉ để mẹ trông chừng cho.

    Quách Tường vì một đêm không ngủ nên khi vừa nằm xuóng đã thở khì và trong phút chốc đã đắm chìm trong cõi mộng mê man.

    Hoàng Dung nhìn thấy vẻ mặt vôt của con, lòng vui vẻ lẩm bẩm :

    - Trong ba con, ta đều yêu mến như nhau, nhưng chỉ có Tường nhi tính tình chất phác nhất.

    Bà nhẹ bước rời khỏi phòng trở về khách sảnh. Chiều hôm ấy, anh em họ Võ phái thám mã về phi báo. Lương thảo ở Nam Dương quả nhiên bị lửa thiêu trụi. Lúc ngọn lửa chưa tắt hẳn thì đạo quân tiên phong của Mông Cổ đã lùi ra xa trên trăm dặm, và tạm thời án binh bất động. Trong thành Tương Dương đuợc tin, ai nấy đều hoan hỷ.

    Cái tên Thần Điêu Đại hiệp được truyền khẩu từ cửa miệng của bá tánh không dứt. Họ thêm dầu thêm mở cho Dương Qua là kẻ xuất quỷ nhập thần, chỉ trong 1 ngày đã lắt tai khóet mắt hai đạo quân tiên phong của Mông Cổ ở Tân Dư và Đặng Châu, lại dám đốt tiêu mấy ngàn muôn hộc lương thảo ở Nam Dương nữa.

    Cũng đêm ấy, Lữ Văn Hoán triệu mời 2 vợ chồng Quách Tỉnh đến đàm đạo. Cả ba hân hoan thương nghị chuyện quân tình sáng suốt.

    Theo thường lệ, mỗi sáng tinh sương các con đều phải vào thỉnh an vợ chồng Quách Tỉnh. Nhưng hôm nay, Gia Luật Tề, Quách Phù, Quách phá Lỗ tề tựu đ lâu mà Quách Tường vẫn chưa đến.

    Hoàng Dung lo ngại, bèn sai người thị tì đến phòng Quách Tường. Tên nữ tì này bẩm rằng :

    - Quách nhị tiểu thơ đi đâu lúc nửa đêm không có trở về phòng an nghỉ.

    Hoàng Dung hốt hoảng hỏi :

    - Tại sao khuya này các ngươi chẳng đến bẩm báo ?

    Tên tì nữ của Quách Tường đáp :

    - Chiều hôm qua khi phu nhân trở về hậu đường trong giây lát thì Nhị tiểu thơ ra đi. Tì tử chẳng dám bẩm báo, sợ nhị tiểu thơ về phòng thình lình sẽ trách mắ ng tì tử. Tì tử hết sức chờ đợi ca ûđêm mà nhị tiểu thơvẫn chưa về phòng. Hoàng Dung cúi đầu suy nghĩ, rồi thả bước đến phòng Quách Tường. Khi vào đến phòng, bà đưa mắ t quan sát thì thất quần áo và binh khí cô con gái đã mang đi tất cả. Bà chưa hết kinh hãi thì thoạt thấy có một tờ giấy trắng giắt ở một góc trên giường.

    Hoàng Dung đã hiều phần nào sự việc, nên thở dài đưa tay nhặt tờ giấy lên, thấy trong ấy đề rằng :

    "Kinh trình cha mẹ, Con xin ra đi để gặp Dương đại ca mà khuyên nhủ không nên đau buồn khổ sở nếu không tìm được Long tỉ tỉ. Nếu con khuyên nhủ dược đại ca xong rồi thì lập tức con trở về hầu cha mẹ.

    Con Tường nhi kính bái

    Õ Hoàng Dung ngồi xuống giường, tái mặt chẳng nói nên lời, nghĩ thầm :

    - Con của ta tính tình chân thật, hiền hòa, khác xa với Dương Qua. Dương Qua trên đời này nó chỉ nghe một mình Tiểu Long nữ khuyên nhủ mà thôi, ngoài ra nó đâu có chịu nghe lời ai. Nếu nó nghe lời khuyên nhủ của người khác, thì nó sẽ không còn là Dương Qua nữa.

    Lòng bà lại muốn đi tìm Quách Tường nhƯng được tin hai đại tiền quân Mông Cổ kéo đến trùng trùng, hiệp lại để tấn công thành Tương Dương. Trước mắt bà là sự thịnh suy của quốc gia, bà phải lo huy động binh tình mà chống trả, đâu nỡ vì một đứa con mà bỏ cả đại cuộc nước nhà.

    Nghĩ vậy bà liền viết ra 4 bức thƯ , giao cho 4 tên đệ tử Cái Bang đi bốn hướng khác nhau kiếm Quách Tường bảo phải trở về nhà lập tức.

    Nguyên lúc Quách Tường nghe mẹ nói những chuyện đã qua thì ngủ thiếp đi, và nằm mơ thấy nhiều chuyện ác nghiệt, nào là Dương Qua dùng kiếm tự sát, nào là đưa kiếm lên chặt nốt cánh tay còn lại, và thấy Dương Qua từ trên cao nhào xuống vực tan nát thân mình.

    Nằm mộng thấy những chuyện quá khủng khiếp như vậy, bỗng nàng giật mình, thức giấc, mồ hôi đổ ra nh tắm. Nàng suy nghĩ :

    - Đại ca cho ta 3 cây trâm vàng, đã lấy lại 2 cây và tặng lại ta 3 món lễ vật. Bây giờ ta lấy ra cây trâm còn lại, đem giao cho đại ca, may ra cầu được việc. Đại ca là người nghĩa vĩ anh hào, lời nói tất rất trọng, vậy ta hãy tìm chàng xem sao.

    Do đó nàng lưu lại một phong th và ra ngoài thành tìm Dương Qua.

    Dương- Qua và Hoàng Dược Sư nắ m tay nhau tìm con đường vô định, khoảnh khắc hai nguời đ đến một nơi hẻo lánh xa xôi thì ai còn biết đâu mà tìm được nữa ?

    Quách Tường đi trên 30 dặm, đã đói run lên, muốn tìm một ngôi nhà để xin tá túc, hoặc một tửu điếm để ăn cơm. Nhưng lúc bấy giờ ngoài thành Tương Dương trăm họ đều lo tị nạn, nhà cửa đều không có người ở, thì còn nói gì đến tửu điếm trà đình.

    Quách Tường đơn thân đi trên con đường vắng tanh. Đi đuợc một đỗi xa trên 30 dặm, cũng không thấy có bóng người lai vãng. Nàng dừng lại, ngồi trên phiến đá, ôm đầu nghĩ ngợi, lòng sầu thảm vô cùng.

    Được một lúc lâu, nàng nhủ thầm :

    - Quán cơm, nhà ở không có, tìm đâu ra được trong khi bụng đã đói cào ?

    Nàng quan sát xung quanh chỗ mình ngồi, chỉ thấy rừng cao dày mịt, không một túp lều.

    Trong lúc suy nghĩ miên man, Quách Tường nghe có tiếng vó ngựa từ hướng đông xa đưa lại. Nàng đưa mắt về hướng ấy, thấy một lão tăng quắc thước, tuổi quá 70, mình mặc áo bào vàng, đầu đội chiếc mũ nỉ có cái ngù cao đang phi ngựa thật nhanh về hướng chỗ nàng ngồi.

    Khi còn cách nàng trên 1 0 trượng, vị lão tăng liền gò cương dừng lại. Vẻ mặt của ông có nhiều sự kinh ngạc, nhìn nàng hỏi :

    - Cô bé kia ! Ngươi là ai ? Tại sao một mình lại dám đến đây?

    Quách Tường nhìn thấy đôi mắt ông sáng quắc như điện quang, oai phong lẫm lẫm, tướng mạo hùng hùng, liền nhớ lại lúc ở Hắ c Long đầm đã gặp Nhất-đăng đại sư . Nàng nghĩ rằng :

    - Vẻ mặt của Nhất-đăng đại sư từ bi chí thiện, râu dài mặt trắng, đôi mắt hiền lành. Còn lão này vẻ mặt ranh mãnh, tướng tá hùng hồn, có lẽ là nguơì từng xông pha chiến trận nên gương mặt có lộ vài điểm ác căn.

    Nàng đáp :

    - Tôi là Quách Tường từ trong thành Tương Dương ra đây, và chỉ đi có một mình thôi.

    Vị lão tăng nói :

    - Ngươi đi tìm ai ?

    Quách Tường nguớc mắt mỉm cười nói :

    - Lão hòa thượng lo chi chuyện thiên hạ? Tôi chẳng nói cho ông nghe đâu.

    Vị lão tăng nói :

    - Ngươi nói ngươi đi tìm một người. Thôi, ngươi đi theo ta, ta sẽ chỉ đường đi nước bước cho ngươi.

    Quách Tường nửa mừng nửa ngại, nói :

    - Tôi đi tìm một người. Người đó là một chàng thanh niên cụt tay. Chàng thường dắt theo mình con đại điêu và bay đi trên những con đuờng vắng lặng.

    Vị lão tăng này chính là Kim Luân Pháp Vương, khi nghe nàng nói lão hiểu ngay người đó chính là Dương- Qua, thì trong lòng rúng động, vẻ mặt hiện lên một ác ý. Lão nói :

    - A, ta đã biết người này rồi, có phải người họ Dương, tên là Qua không ?

    Quách Tường mừng rỡ nói :

    - Đúng vậy ! Ông biết chàng sao ?

    Pháp Vương cười lớn nói :

    - Ai ta lại chẳng biết ! Dương- Qua chính là người bạn nhỏ của ta. Ta biết nó khi mới chào đời còn đỏ hỏn.

    Quách Tường vui vẻ nói :

    - Đại hòa thuợng, pháp danh của ông là gì ?

    Pháp Vương nói :

    - Người đời thường gọi ta là Châu Mục Lang Ma.

    Nguyên Châu Mục Lang Ma là tên một hòn núi cao nhất ở biên giới Tây Tạng. Sở dĩ Kim Luân Pháp Vương nói ra như thế, là có ẩn ý tự phụ võ công của mình cao như ngọn núi đó.

    Quách Tường nói :

    - Thật là rắc rối ! Tên gì lại là Ma ? Theo chữ Tây Tạng là Cô la cô lô, cái tên chữ quá dài.
    Kim Luân Pháp Vương nói :
    - Ta bảo ta là Châu Mục Lang Ma.

    Quách Tường vừa cười vừa đáp :

    - Tôi có cãi đâu, ông bảo Châu Mục Lang Ma thì Châu Mục Lang Ma. Vậy đại lão hoà thượng có biết đại ca tôi ở đâu không ?

    Pháp Vương nói :

    - Dương- Qua là đại ca của ngươi ư ?

    Quách Tường nói :

    - Đúng thế, Dương- Qua là đại ca của tôi đó.

    Pháp Vương nói :

    - A, ngươi gọi Dương- Qua là đại ca, sao ngươi lại họ Quách ?

    Quách Tường vẻ mặt ửng hồng, nói :

    - Đây là người bà con, lúc nhỏ đại ca ở nhà tôi.

    Kim Luân Pháp Vương bỗng nảy ra một ý nghi hoặc, giả vờ nói :

    - Ta có một người bạn thâm giao, đã lâu ngày mà chưa gặp mặt, người này võ công cao cường, danh dương thiên hạ. Ông họ Quách, tên Tỉnh, chẳng biết cô nương có hiểu biết không ?

    Quách Tường ngẫm nghĩ :

    - Ta từ trong thành Tương Dương trốn ra đây. Theo lời lão này nói chính là bạn của phụ thân ta, nếu ta nói thật thì lão sẽ dắt ta về ngay. Thật là điều bất diệu.

    Nàng đáp dối rằng :

    - Ông nói người đó là Quách đại nhân phải không ? Ông ấy chính là người tộc trưởng trong họ tôi. Đại hòa thượng hãy đến thành Tương Dương mà tìm ông ấy.

    Kim Luân Pháp Vương là một người tuổi tác già nua, thông hiểu thế sự nhân tình, nên nhìn sắc mặt Quách Tường đã hiểu được tâm ý của nàng rồi. Vì vậy ông giả cách than dài nói :

    - Tôi và Quách đại hiệp là bạn đồng sinh tử, chỉ vì 20 năm chưa gặp mặt. Tôi thì ở phương Bắc, còn Quách đại hiệp lại ở phương Nam. Vì nghe có tin đồn Quách đại hiệp đã từ trần, làm cho lão tăng vô cùng chua xót. Do đó lão mới đi tìm. Ôi ! Vị đại anh hùng này chẳng may mai một, thật là tạo hóa bất công.

    Lão nói đến đây đôi mắt ràn rụa, chứng tỏ đang bi thảm vô cùng. Kim Luân Pháp Vương là một người có nội công đến bậc thượng thừa, toàn thân ông từ da thịt, hơi thở, sắc mặt muốn rung động giờ nào, chỗ nào cũng được. Ông có thể chuyển vận tùy theo ý muốn, thì những chuyện giả khóc giả sầu đâu có khó khăn gì.

    Quách Tường thấy ông than khóc quá bi thảm, tuy biết là phụ thân nàng chưa chết, nhưng tì nh phụ tử làm cho nàng không cầm lòng được, cất tiếng nói :

    - Đại hòa thượng ! Không nên bi thảm như thế ! Quách đại hiệp chưa chết đâu.

    Kim Luân Pháp Vương lắc đầu bảo :

    - Ngươi đừng giấu ta ! Quách Tỉnh đã chết rồi. Ngươi là một đứa bé sao biết rõ việc người lớn.

    Quách Tường cố cãi lại :

    - Tôi ở trong thành Tương Dương ra đây, có gì mà tôi chẳng biết. Tối qua tôi đã tận mắt thấy ông ấy mà.

    Bấy giờ Kim Luân Pháp Vương hết nghi ngờ, ngước mặt lên trời cười dài, nói :

    - A ! Vậy ra tiểu thư là ái nữ của Quách đại hiệp.

    Quách Tường ngẩn người ra. Pháp Vương lại nói tiếp :

    - Chẳng phải ! Chẳng phải ! ái nữ của Quách đại hiệp có tên là Quách Phù. Ta biết cô gái này lắm, năm nay nàng ước độ ba mươi tuổi đầu.

    Quách Tường sẵn dịp nói luôn không nghĩ ngợi :

    - Đấy là tỉ tỉ của tôi ! Chị ấy tên là Quách Phù, tôi tên là Quách Tường.

    Kim Luân Pháp Vương cả mừng, nhủ thầm :

    - May quá, hôm nay thực là trời giúp vận xui khiến cho nói đến gặp ta.

    Lão liền bảo Quách Tường :

    - Nói như vậy là Quách đại hiệp vẫn còn mạnh khỏe ư ?

    Quách Tường nhìn thấy thần sắc của lão tươi như hoa thì tưởng lầm là Pháp Vương nghe tin phụ thân nàng còn sống nên mừng rỡ như vậy. Nàng có cảm tưởng Pháp Vương là một người có lương tâm tối thiện, nên nói :

    - Tôi nói là ông ấy không chết ! Vì Quách đại hiệp là cha của toi, tôi dối gạt ông làm gì ?

    Kim Luân Pháp Vương nói :

    - Rất tốt ! Ta tin ngươi, Quách nhị cô nương. Như vậy thì ta cũng không cần đến thành Tương Dương làm gì. Cảm phiền cô nương về thưa với lệnh tôn là Châu Mục Lang Ma kính lời thăm viếng.

    Ông biết rõ thế nào Quách Tường cũng hỏi thăm tin tức Dương- Qua nên ông giả bộ đi gấp vội xốc áo nhảy lên ngựa, đôi tay nắm chặt cương kéo con tuấn mã quay đầu.

    Quách Tường nói :

    - úy ! Đại hòa thượng ! Còn câu chuyện ấy người không giảng nốt cho tôi nghe !

    Pháp Vương nói :

    - Tiểu thơ bảo giảng về chuyện gì ?

    Quách Tường nói :

    - Tôi đã nói cho ông nghe rõ tin tức của phụ thân tôi, bây giờ ông nên cho tôi biết tin Dương- Qua đại ca tôi hiện giờ ở đâu.

    Kim Luân Pháp Vương nói :

    - Hôm qua ta gặp hắn tại sơn cốc, về hướng Bắc thành Tương Dương. Ta và người bạn nhỏ của ta đang luyện kiếm ở đấy. Có lẽ lâu lắm hắn mới rời sơn cốc. Ngươi muốn đến đó ta sẽ chỉ đường cho.

    Quách Tường nhíu mày đáp :

    - Có rất nhiều sơn cốc thì biết đại ca ở sơn nào ? Ông cũng nên chỉ rõ ràng minh bạch.

    Kim Luân Pháp Vương tỏ vẻ trầm ngâm giây lát, đoạn nói :

    - Cũng được ! Sẵn dịp ta đi về hướng Bắc, ta sẽ đưa ngươi đến gặp Dương- Qua.

    Quách Tường mừng rỡ nói :

    - Nếu được vậy tôi mang ơn Đại hòa thượng lắm !

    Pháp Vương nhảy xuống ngựa nói :

    - Tiểu cônương hãy lên ngựa, còn lão tăng sẽ chạy theo sau.

    Quách Tường hỏi lại :

    - Làm sao Đại hòa thượng chạy theo kịp ?

    Pháp Vương cười lớn nói :

    - Ngựa có 4 vó thì lão tăng há chẳng có 2 chân ư ?

    Quách Tường ý mốn leo lên ngựa, bỗng nàng nói to :

    - Không được ! ái da ! Đại lão hoà thượng ! Tôi đói lắm rồi, phải tìm một chỗ để ăn, vậy Đại hòa thượng hãy dẫn tôi đi ăn trước đã .

    Pháp Vương nghe nói liền đưa tay lấy trên lưng ra một túi lương khô. Quách Tường đang đói, bóc bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Phút chốc nàng đã ăn hết nửa túi nhỏ, rồi lên ngựa giục vó ra đi.

    Kim Luân Pháp Vương tà áo phất phơ, chạy thoăn thoắt bên mình ngựa. Quách Tường nhớ đến câu nói của hòa thượng : "Ngựa có 4 vó, lão tăng há chẳ ng có 2 chân ư " liền tra roi vào bụng ngựa, cười to bảo :

    - ĐạI hòa thượng ! Tôi đợi ông phía trước mặt ! Lời nói chưa dứt, con tuấn mã đã phi vun vút về phía trước. Con ngựa này thuộc loại chiến mã , 4 vó ngựa chạy rất nhanh. Quách Tường chỉ thấy 2 hàng cây chạy sau lưng, bên tai gió thổi ù ù, phút chốc con tuấn mã đã đưa nàng đi trên một dặm đường.

    Quách Tường quay đầu lại nói :

    - Đại hòa thượng ! Tôi chạy hơn ông rồi !

    Dứt lời, Quách Tường hốt hoảng vì không thấy tông tích Pháp Vương. Ông đã biến mất tự bao giờ !

    Bỗng nàng nghe tiếng của ông từ khu rừng trước mặt vọng lại :

    - Quách nhị cô nương ! Đôi chân tôi không chịu đi nữa. Vậy cô nương giục ngựa nhanh lên, tôi ngồi chờ ở đây.

    Quách Tường lấy làm lạ:

    - Tại sao lão chạy qua mặt mình lúc nào mà mình chẳng hay ?

    Nghĩ thế nàng ra roi vào hông tuấn mã cho nó phi nhanh đến trước, thì thấy Pháp Vương cất bước như kẻ nhàn du, cách đầu ngựa chừng 1 0 trượng, làm cho Quách Tường quá sức kinh dị.

    Nàng giục con tuấn mã chạy như bay, song thủy chung vẫn cách Kim Luân Pháp Vương chừng 1 0 trượng, không thắng nổi.

    Bấy giờ 2 người đi trên đại lộ, con đường phía Bắc dẫn đến thành Tương Dương. Họ rong ruổi càng lúc càng xa, mắt trông về hướng Bình Giã, bốn vó ngựa phi nhanh làm cho đất bay mù mịt tựa khói lam hồng.

    Pháp Vương thân thể như con én, đôi chân thoăn thoắt nhẹ nhàng, tựa hồ như cưỡi mây và bay trước gió.

    Quách Tường lấy làm phục thầm :

    - Hòa thượng khinh công giỏi như thế này, thảo nào kết bạn với gia gia ta.

    Nàng tỏ ra kính trọng gọi to :

    - Đại hòa thượng ! Ông là bậc tiền bối, vậy ông nên ngồi trên ngựa để tôi chạy chầm chậm theo sau.

    Pháp Vương quay đầu lại nói :

    - Không nên phí ngày giờ ! Ta gấp đưa ngươi đến gặp Dương- Qua. Lúc này Quách Tường buông lỏng dây cưong để con ngưạ chạy chậm, dần dần cách Pháp Vương một khoảng cách khá xa. Cũng vào lúc ấy, về phía Bắc trước mặt có tiếng vó ngựa vang lại, và có 2 người kỵ mã cưỡi ngựa như bay chạy đến.

    Kim Luân Pháp Vương ho âto :

    - May quá ! Có 2 con tuấn mã sắ p đến. Ta sẽ đổi lấy một con cho ngươi cưỡi.

    Chẳ ng mấy chốc 2 người kỵ mã đã đến gần. Pháp Vương đưa tay ra chỉ vào 2 người ấy bảo :

    - Các ngươi hãy xuống ngựa.

    Hai con ngựa đã bị chưởng phong của lão quật nhẹ, chúng hoảng sợ nhảy lồng lên hí mấy tiếng, như muốn quật ngã người ngồi trên yên.

    Hai người kỵ mã này là những tay kỹ thuật cao diệu, mặc dù con ngựa nhảy ngược đưa ngang, họ vẫn chễm chệ trên yên không bị rơi ngã .

    Hai người cả giận thét to :

    - Ai đó ? Giết chết nguời ta hay sao ?

    Họ vừa nói xong chiếc yên như sắ p sửa rời khỏi lưng ngựa. Quách Tường thấy rõ 2 người đó vội kêu to :

    - Đại Đầu Quỷ! Trường Tu Quỷ ! XIn đừng động thủ, đây là người quen cả!

    Hai người kỵ mã này chính là người trong bọn Tây Sơn Nhất Khuất quỷ, tên là Trường Tu Quỷ và Đại Đầu Quỷ. Lúc ấy Kim Luân Pháp Vương đưa tay ra giật mạnh tựa thiên thần, cái yên ngựa tuy làm toàn bằng da trâu, nhưng Pháp Vương đã dùng sức mạnh đến trăm cân cũng không đoạt được.

    Tuy vậy, đôi tay ông vẫn không chịu buông tha cho Đại Đầu Quỷ. Hai người cứ mãi trì kéo lẫn nhau.

    Kim Luân Pháp Vương cười to nói :

    - Tiểu tử giỏi thật !

    Ông liền gia tăng thêm chưởng phong vào đôi tay, lách cách mấy tiếng, chiếc yên ngựa đã bị sức mạnh ngàn cân của Pháp Vương chấn gẫy làm 2 đoạn rơi xuống đất.

    Đại Đầu Quỷ nổi giận phóng mình xuống ngựa, vươn cánh tay ngắn ngủi ra muốn giao đấu với Pháp Vương.

    Trường Tu Quỷ thấy vậy hét to :

    - Tam đệ, hãy chậm lại !

    Ông nói thêm :

    - Quách nhị tiểu thơ! Tại sao tiểu thơ lại đi chung với Kim Luân Pháp Vương ?

    Trước đây có dạo Dương- Qua và Kim Luân Pháp Vương hai người đều vào Tuyệt Tình Cốc. Lúc ấy Trường Tu Quỷ Phàn Nhất Ông được dịp gặp lão Pháp Vương rồi, nên biết rõ.

    Quách Tường đáp lại :

    - Ông lầm người rồi ! Hòa thượng đây là Châu Mục Lang Ma, bạn thân của gia gia tôi, còn Pháp Vương là kẻ cừu địch của gia gia tôi, hai người khác xa nhau lắm.

    Trường Tu Quỷ nói :

    - Vậy nhị tiểu thơ gặp lão hòa thượng này nơi đâu ?

    Quách Tường nói :

    - Tôi đang ngồi trên phiến đá thì gặp ông ấy. Vị hòa thượng này nói gia gia tôi đã từ trần và ông còn nói nhiều chuyện rất buồn cười. Ông hứa dẫn tôi đi tìm Dương đại ca.

    Đại Đầu Quỷ nói :

    - Cô nương lầm rồi ! Hòa thượng này không phải người tốt! Lão gạt cô đấy.

    Quách Tường bán tín bán nghi hỏi :

    - Lão gạt ta sao ?

    Đại Đầu Quỷ nói :

    - Quách cô nương, Thần Điêu Đại hiệp ở hướng Nam mà lão lại dẫn cô nương về hướng Bắc, chẳng phải lão cố ý dối gạt hay sao ?

    Kim Luân Pháp Vương mỉm cười và nói :

    - Hai gã lùn đừng ăn nói hàm hồ !

    Tiếng nói vừa dứt, lão đ tung ra song chường nhằm ngay hai cái đầu của Trường Tu Quỷ và Đại Đầu Quỷ giáng mạnh xuống. Chưởng lực như bài sơn đảo hải, nặng muôn ngàn cân.

    Mười năm về trước ở tại Mông Cổ, Kim Luân Pháp Vương đã khổ luyện nội công theo pháp môn Long Tượng Ban Nhược công, môn pháp này chỉ mật truyền cho những người có căn cơ cao, để tùy thân hộ mệnh.

    Môn pháp này là của Mật Tông chế hóa, gồm có 1 3 chiêu thế, gọi là Long Tượng Ban Nhược công. Từ xưa đến giờ ch a ai luyện được trên 1 0 chiêu.

    Về thời Bắc Tống,ở biên giới Tây Tạng có một vị cao tăng khổ luyện đến 9 chiêu thì người của ông trở nên dũng mãnh phi thuờng. Khi ông luyện qua chiêu thứ 1 0 thì tâm hỏa phát khởi, trở nên điên loạn, không có phương pháp nào chữa trị được. Lão ta múa may quay cuồng suốt 7 ngày đêm để rồi đứt hết các mạch máu mà chết.

    Từ xưa tới nay chỉ có Kim Luân Pháp Vương là một người kỳ tài, chẳng những luyện qua 1 0 chiêu mà còn luyện đến chiêu thứ 11 , thật là chấn cổ hang kim. Tuy không dám nói tương lai chẳng có ai được như thế, nhưng ông đã hơn được những người xưa.

    Cũng vì câu chuyện ngày xưa, Kim Luân Pháp Vương đã bị đại bại dưới tay kiếm Dương- Qua và Tiểu Long nữ nên ông có cảm tưởng là mình mang đại nhục nhất trên đời. Ông gắng công luyện tập thành công, thừa lúc hoàng đế Mông Cổ ngự giá thân chinh, Pháp Vương xin đi theo với mục đích là dùng song chưởng quật chết vợ chồng Dương- Qua để rửa cái nhục năm nào.

    Môn pháp Long Tượng Ban Nhược Công chia ra 1 3 chiều tầng khác nhau. Chiêu thứ nhất chỉ để dậy cho kẻ nào không biết võ công, phải trường kỳ khổ luyện trong một hoặc hai năm ròng r ã. Rồi cứ thế luyện tập mỗi chiêu tầng kế mỗi năm một chiêu, cho đến bốn năm năm sau là đã thành một tay võ công thượng thặng. Bấy giờ muốn luyện thêm nữa, phải đợi ba bốn năm sau mới có thể luyện lên tầng thứ sáu, chiêu tầng này công phu tuần tự mà tiến, dần dần mới trở thành tuyệt kỹ kinh nhân. Tuy vậy vẫn chưa có ai luyện đủ 1 3 chiêu tầng của môn pháp Mật Tông. Trừ ra người nào sống đến ngàn tuổi mới có đủ thời giờ luyện được. Nhưng kiếp sống con người chỉ có hạn, võ học thần công bao la như biển rộng sông dài. Trong phái Mật Tông có rất nhiều đạo sĩ tăng nhân tu luyện trên trăm tuổi, nhưng chỉ luyện được chín, mười tầng chiêu số là cùng.

    Mọi người cứ tuần tự luyện tập không ai đi quá trớn, vì trước họ có những bậc tiền bối muốn mau tiến triển mà đi đến chỗ điên cuồng, chết chóc.

    Từ xưa đến nay chỉ có Kim Luân Pháp Vương dám đứng ra hứng chịu mọi cảnh nguy nan, để luyện được 11 chiêu tầng Long Tượng Ban Nhược Công truyền lại. Mỗi chưởng tung ra tựa hồ rồng bay cọp múa.

    Kim Luân Pháp Vương thấy mình luyện tập như vậy là đủ lắm rồi, không cần phải cao vọng nữa làm chi. Ông ta nghĩ rằng như thế cũng thừa đủ tung hoành trong thiên hạ rồi.

    Bấy giờ trông thấy song chưởng bủa vào đầu, Đại Đầu Quỷ đưa tay ra đỡ. "Bùng bùng" hai tiếng, đôi tay của Đại Đầu Quỷ gãy văng ra xa, và có tiếng nổ ầm ầm, song chưởng bổ vào đầu Đại Đầu Quỷ bể nát óc chết ngay.

    Trường Tu Quỷ Phàn Nhất Ông võ công rất thâm hậu, nhưng biết chưởng phong của Pháp Vương lợi hại, Trường Tu Quỷ vội đưa tay ra một chưởng Thác Đại Thế, chưởng này nặng trên muôn cân, trước mắt chỉ thấy một màn đêm tối dày mịt, tỏa ra khắp mặt đất.

    Quách Tường thấy vây cả giận, hướng vào Pháp Vương nói to :

    - Hai vị này đều là bạn hữu của tôi, sao hòa thượng lại đả thương người ?

    Trường Tu Quỷ nhổ ra hai bụm máu tươi, lăn nhào xuống đất ôm chặt đôi chân Pháp Vương nói to :

    - Cô nương chạy trốn mau đi !

    Đôi tay của Pháp Vương đấm túi bụi vào kẻ địch, mong gỡ đôi tay của Trường Tu Quỷ ra. Pháp Vương tuy có sức mạnh hơn người, song gỡ không ra đôi tay của Trường Tu Quỷ.

    Quách Tường nổi giận, tuy nàng còn nhỏ song lại có máu hiệp nữ. Nàng thấy Pháp Vương không tốt, muốn giết Trường Tu Quỷ, mà Trường Tu Quỷ lại cam chịu chết để nàng đào sanh.

    Quách Tường đưa đôi tay bé nhỏ lên hét :

    - ác hòa thượng ! Ngươi đừng độc dữ quá vậy ! Hãy buông tha Trường Tu Quỷ thì cô nương sẽ đi theo ngươi.

    Trường Tu Quỷ bị kẹp cứng cổ nhưng cố gượng hô to :

    - Quách cô nương hãy trốn cho mau, đừng nghĩ ...

    Ông muốn nói "đừng nghĩ đến tôi nữa", thì đôi bàn tay của Pháp Vương đã siết chặt vào, làm cho Trường Tu Quỷ chết luôn.

    Pháp Vương đạp lên mình Trường Tu Quỷ cười hăng hắc nói với Quách Tường :

    - Ngươi muốn trốn tránh, sao không lên ngựa đào sanh ?

    Quách Tường từ thủa nhỏ chưa thấy những điều nguy hiểm, chỉ có ngày Lỗ Hữu Cước bị thảm sát dưới tay Toa Đô thì nàng mới căm hận quyết giết chết Toa Đô trảthù. Đến sau khi Toa Đô chết thì nàng không còn cừu giận ai cả.

    Bây giờ lại thấy Pháp Vương độc ác, tàn nhẫn, sự bực tức đã xé nát tâm can làm Quách Tường ứa lệ, nhưng nàng không sợ hãi chút nào.

    Pháp Vương lại nói :

    - Tiểu cônương ! Nguơi có sợ ta chăng ?

    Quách Tường hét to :

    - Ta chẳng sợ ngươi đâu. Ngươi giết ta càng tốt ! Hãy giết ta đi !

    Kim Luân Pháp Vương đưa ngón tay trỏ dí vào mũi nàng, khen :

    - Tốt lắ m ! Hổ phụ sanh hổ tử. Con giống hệt cha.

    Quách Tường giận căm gan đưa mắ t nhì n Pháp Vương hằn học. Nhớ đến cái chết của hai người bạn làm cho nàng chua xót, bồi hồi. Nàng đến bên 2 cái xác, cúi xuống đỡ Trường Tu Quỷ và Đại Đầu Quỷ lên yên ngựa rồi buộc chặt ca û2 vào yên tử tế. Đoạn nàng vỗ vào đầu hai con tuấn mã bảo rằng :

    - Mã nhi ! Hãy đưa chủ ngươi về nhà ! Ngoan nhé !

    La ïthay loài ngựa này ! Khi vừa nói xong, đôi ngụa gục gặc đầu tỏ ý hiểu, rồi phóng bốn vó đi nhanh, trong phút chốc đã mất dạng.

    * * *

    Lại nói về Dương- Qua và Hoàng Dược Sư , hai người nắm tay nhau dùng hết tuyệt kỹ khinh công đi về hướng Nam, trong phút chốc đã xa hơn 1 0 dặm đường. Qua cuối giờ Mão họ đã đến Tuyên Thành. Hai người vào một tửu lâu gọi rượu thịt ăn uống và bàn tán chuyện nhân tình thế thái.

    Hoàng Dược Sư nói về chuyện Trình Anh, Lục Vô Song 1 0 năm về trước đã ở tại Tương Châu, Lăng Hồ, họ thường làm bạn với cô ngốc. Ông lại nói đến việc 2 người ra giang hồ hành hiệp, để co ângốc ở lại thực là ngoài ý muốn của Trình Anh và Lục Vo âSong.

    Dương- Qua thở dài mà không nói gì cả. Hai người uống qua vài tuần rượu, Dương- Qua bèn kính cẩn nói :

    - Hoàng đảo chúa ! Muời năm trước vãn bối muốn đến thăm Hoàng đảo chúa để cầu hỏi ngài một việc, nhưng mãi đến hôm nay mới có dịp.

    Hoàng Dược Sư cười lớn nói :

    - Ta sức suy, trí kiệt, càng già thì càng tà dại quái gở thêm. Không biết lão đệ muốn hỏi ta điều gì ?

    Dương- Qua toan trả lời, bỗng nghe có tiếng chân người từ dưới thanh lầu đi lên.

    Lắng tai nghe rõ thì ra tiếng chân của 3 người. Hoàng Dược Sư và Dương- Qua nghe tiếng bước chân đã biết họ có nghệ thuật khinh công rất cao.

    Dương- Qua giương mắt quan sát nhận được người thứ nhất là Tiêu Tương Tử, nguời thứ hai mặt ngăm đen chàng chưa gặp lần nào, người thứ ba chính là Doãn Khắc Tây. Bấy giờ Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây cũng nhìn thấy Dương- Qua, cả hai ngạc nhiên vô độ muốn thoái bước xuống lầu

  3. #83
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 98 QUÁI KHÁCH QUÈ CHÂN


    Dương Qua nhíu mày mỉm cười gọi :
    - Cố nhân lâu ngày cách biệt hôm nay trời xui gặp lại, tại sao lại vội vã ra đi ?

    Doãn Khắc Tây vòng tay cười nói :

    - Dương đại hiệp, thật chúng tôi vô ý quá.

    Tiêu Tương Tử còn nhớ ở Chung Nam Sơn đã bị nhục với Dương Qua, dù chàng lúc đó đã bị chặt tay. Tuy cách biệt trên 1 0 năm, Doãn Khắc Tây vẫn còn có dịp nghe võ công của Dương Qua ngày càng tiến triển. Bởi vậy, gã xét mình không phải là đối thủ của Dương Qua, nên chẳng dám nấn ná lâu, chỉ nhìn sơ Dương Qua rồi rút lui xuống lầu.

    Cái người mặt đen mà Dương Qua không biết ấy là tên võ sĩ của Hốt Tất Liệt. Người này rất tự phụ. Lúc bấy giờ hắn đã cùng với Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử đi do thám tình hình trong thành mà chẳng ai để ý biết được. Cái tánh tự phụ của gã võ sĩ này là thường hay nhìn người bằng nửa con mắt, đến lúc thấy hai bạn đồng hành toan rút lui xuống lầu, gã giương mắt thao láo nhìn Dương Qua rồi bảo 2 bạn :

    - Tiêu Tương huynh ! Doãn Khắc huynh ! Chuyện gì mà phải dừng bước, nếu gặp khách dữ, bạn tà thì càng cao hứng chứ có sao ? Vậy nhị vị có sợ thì hãy đi trước để tiểu đệ nói chuyện với gã .

    Gã võ sĩ này nói tới đây đưa ra một nắm tay thực to nhắm ngay vai Dương Qua mà thoi tới. Gã tưởng với nắm tay này chuyền nhập vào mình đối phương thì chẳng dập tay cũng gãy xương.

    Dương Qua nhìn thấy trong nắm tay của gã có nhiều môn tà độc thì biết rõ người này đã luyện được Độc Sa Chưởng, nên giả cách không chú ý tới mà nghĩ thầm:

    - Ta chẳng muốn hơn thua với 3 người này làm gì. Hiện ta chỉ muốn thăm dò Hoàng lão tiền bối về câu chuyện Nam Hải Thần Ni.

    Đột nhiên cái nắm tay sắp chạm vào tay chàng, chàng vươn tay ra gạt một cái kêu một tiếng bình thật to.

    Hoàng dược Sư trông thấy rõ ràng, ông hỏang hốt nghĩ thầm

    - Chưởng phong của Dương Qua thật quá hay !

    Ông không ngờ võ công của Dương Qua trác tuyệt và tiến triển tột bực như ngày nay.

    Lại nghe tiếngÛbinh binh liên hồi, Tiêu, Dõan hai người trúng chưởng phong của Dương Qua tạt chạm vào vai. Dương Qua thấy Doãn Khắc Tây đã có lễ phép đối với mình nên mới dung tha cho cả bọn.

    Hoàng dược Sư cả cười nói :

    - Dương lão đệ ! Ngươi mới chế ra một đường chưởng pháp hay là học được của bực cao minh nào ?

    Lão phu xét thấy Dương bằng hữu đã tạo được một kỳ chưởng lạ nhất trên đời, thực là một điều may mắn.

    Dương Qua đáp :

    - Đây là do sự truyền dạy của Hoàng tiền bối đó chớ. Bấy giờ chàng liền đem sử dụng nhữ ng chiêu số tuyệt đẹp trong ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng pháp cho Hoàng dược Sư xem.

    Hoàng dược Sư đưa mắt thấy tay áo của Dương Qua huy động như cuồng phòng, cánh tay đưa ra như vũ bão, sử dụng một chiêu ngắn là Trì nê đái thủy rồi biến qua chiêu kế là Thần bất phủ mạo. Cả 3 người Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây và gã võ sĩ mặt đen đều bị chưởng phong vây hãm.

    Thân hình 3 người này như lọt vào ngọn sóng triều dồi qua đập lại, theo sự chuyển động chưởng pháp của Dương Qua.

    Cả3 vô phương chống cự, toàn thân mỗi người rung lên bần bật và chực ngã quỵ xuống sàn lầu.

    Hoàng dược Sư nâng ly rượu lên uống cạn và than rằng :

    - Người xưa hay ngâm thơ và uống rượu, còn lão phu hôm nay ngồi nhìn tiểu huynh đệ thi triển võ công mà uống rượu, thật là một điều hào hứng từ xưa tới nay chưa có một.

    Dương Qua nói :

    - Xin mời Hoàng lão tiền bối chỉ điểm cho một chiêu.

    Nói xong chàng bủa ra một chưởng hướng vào Hoàng dược Sư . Hoàng dược Sư chẳng dám khinh thường, liền đưa tay trái ra đỡ và đánh tạt vào hai người Tiêu, Doãn.

    Thấy gã võ sĩ mặt đen đi đến, Hoàng dược Sư lại nâng ly lên uống ngụm rượu, đưa ra một chưởng.

    Dương Qua giương mắt lên nhìn thất chưởng pháp của ông tuyệt cao diệu nên nghĩ rằng :

    - Nếu ta chẳng dùng hết toàn lực mà công địch thì dễ gì Hoàng dược Sư lại chịu sử dụng chuởng pháp mà ta đoán là học được của Nam Hải Thần Ni ?

    Do đó chàng vận khí Thiên Cung tụ vào đơn điều, thôi thúc chưởng lực đánh vào ba người Tiêu Tương Tử, Doãn Khắc Tây và gã võ sĩ mặt đen.

    Hoàng dược Sư đánh trả lại vào chưởng, thì có cảm giác chưởng phong của Dương Qua tựa hồ như làn sóng cuồng nộ đang thi nhau bủa đầu ghềnh. Không hiểu Dương Qua đã học đâu môn chưởng pháp giỏi như vậy nên ông nghĩ thầm :

    - Chưởng lực của thiếu niên mà đã cao kỳ như thế, sau này ắt là kỳ nhân trong thiên hạ.

    Bây giờ gã mặt đen lui tới không vững, đôi chân tựa hồ hổng trên mặt đất. Gã ngã về phía Hoàng dược Sư .

    Hoàng dược Sư đưa chưởng ra chế ngự làm cho tất cả rượu trong bình trước mặt ông bay lên như sa mù.

    Còn Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử chân tay rụng rời tựa hồ như bị chưởng phong của Dương Qua đánh ngã vậy.

    Hoàng dược Sư ho âto :

    - Tốt lắm!

    Ông liền đặt ly rượu lên bàn, giơ tay hữu lên đánh trảlại một chưởng Dương Qua thích chí, la lớn :

    - Tốt lắm !

    Hai người thi nhau trao đổi chưởng lực, thân thể ba người Doãn Khắc Tây như một trái cầu da, lộn vòng trên không trung.

    Dương Qua chỉ dùng có phân nửa thành lực ám Nhiên Tiêu Hồn chưởng, Hoàng dược Sư thì dùng Lạc Anh chưởng pháp, thân mình như một cánh bướm bay lượn.

    Ông đưa mắt nhìn thấy Doãn Khắc Tây thân mình bay lượn như một mũi tên thì đã rõ gã không còn đủ sức chịu đựng hay chống trả, nên liền đưa ra một chỉ, tiếng kêu Ûtăng tăng nổi lên, một luồng dịch phong kèm theo một sức nặng trầm trầm xạ ra.

    Kế đó Hoàng dược Sư phát thêm ba tiếng tích, tích, tích nữa làm cho Tiêu Tương Tử và hai người kia đều nằm im trên mặt sàn lầu.

    Ngón Đàn Chỉ Thần Công này thực là một chỉ phong vô cùng ác liệt, nhưng đối với ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng của Dương Qua thì hai môn này tương đương, thật chẳng ai hơn ai được. Do đó họ ra hiệu hòa với nhau

    Hai người vui cười hỉ hả, trở lại bàn tiếp tục ngồi uống rượu. Hoàng dược Sư nói :
    - Lão đệ ! Theo sự nhận xét của ta, chưởng pháp uy dũng của ngươi chắc chắn là cao hơn Giáng Long Thập Bát chưởng của tiểu tế Quách Tỉnh và Lạc Anh chưởng pháp của ta cũng không bì kịp.

    Dương Qua khiêm tốn trả lời :

    - Vãn bối có nghe lão tiền bối luyện đựoc môn chưởng pháp kỳ lạ của Nam Hải Thần Ni, chẳng hay lão tiền bối có thể ban cho vãn bối xem qua một tí được chăng ?

    Hoàng dược Sư lấy làm lạ hỏi :

    - Nam Hải Thần Ni là ai ? Ta chưa hề nghe ai nói tới lần nào !

    Dương Qua sắc mặt biến đổi, liền đứng dậy nói :

    - Không lẽ trên đời này không có Nam Hải Thần Ni ?

    Hoàng dược Sư thấy mặt chàng biến sắc, lòng kinh ngạc nên cất tiếng trầm trầm nói :

    - Chẳng lẽ là một kỳ nhân vừa xuất hiện trong những ngày gần đây ? Lão phu chưa nghe thấy lần nào.

    Dương Qua ngơ ngác ngồi yên, lòng bối rối và hồi hộp, chàng nghĩ thầm :

    - Quách bá mẫu đã nói rõ ràng Long nhi đã được Nam Hải Thần Ni cứu mạng, chẳng lẽ dùng lời ma tiếng quỷ gạt người ? Không lẽ bá mẫu gạt ta ? Đúng rồi, bá mẫu đã gạt ta ! Đúng rồi !

    Chàng ngước mặt lên trời kêu aÕ một tiếng, đôi mắt chảy dài hai dòng lệ thảm.

    Hoàng dược Sư kinh ngạc :

    - Lão đệ có chuyện gì khó xử, hãy kể cho lão nghe may ra lão phu có thể giúp đỡ.

    Dương Qua rên rỉ :

    - Vãn bối lòng rối như tơ vò, nên nói những lời kém suy nghĩ, xin tiền bối thứ tội.

    Dương Qua nói xong, phep phẩy tay áo bước xuống lầu. Nội cái phất tay cũng pháp ra tiếng loảng xoảng. Hoàng dược Sư không rõ lý do gì, lẩm bẩm :

    - Nam Hải Thần Ni là ai kìa ? * * *

    Dương Qua chạy bất kể ngày đêm, suốt mấy ngày ròng rã chẳng ăn chẳng ngủ. Tâm sự đau buồn đang thi nhau cuồn cuộn. Chàng muốn tự tận nhưng ý nghĩ về Tiểu Long nữ cứ lảng vảng trong đầu óc.

    Chàng cố xua đuổi không dám nghĩ nữa. Một màu đen tối bủa vây ! Chàng chạy bất kể đường lối.

    Suốt 3 ngày đêm chàng đi đến một con sông thực lớn, chắn mất lối đi, lòng chàng thêm rộn r õ, vội vàng nhìn xem tứ phía, thì thấy trước mặt có một con thuyền phất phới cánh buồm nâu.

    Chàng tung người nhảy xuống thuyền mà không hỏi gì cả, chỉ lấy ra 2 lượng bạc giao cho chủ thuyền và giục đi gấp.

    Chàng cũng không buồn hỏi con thuyền này sẽ đi về đâu, cứ nằm ngay xuống sạp thuyền ngủ một giấc mê man.

    Thuyền xuôi về Đại Giang Đông, sóng vỗ rìrào, mênh mông trời nước. Lúc Dương Qua tỉnh dậy, thì thuyền đã đỗ bến, ghé vào một chợ thương cảng rất sầm uất.

    Thuyền ghé vào bờ cất hàng hóa, trong vòng 3 ngày thì xong. Thuyền lại trương buồm ra khơi.

    Dương Qua như say như tỉnh, không nghĩ đến thuyền này sẽ đi về đâu, đêm đêm tay chống mạn thuyền dưới ánh trăng già thở dài rên siết, hoặc cất tiếng rú ngân dài, hoặc cười sặc sụa, làm cho những người khách thương trong thuyền lầm tưởng chàng là tay lãng tử giang hồ, không còn chú ý tới nữa.

    Một ngày nọ, thuyền ghé bến Giang Âm, chủ thuyền nói với Dương Qua lời từ biệt vì thuyền sẽ xuôi Nam, xuống phủ Gia Hưng gần kinh đô Lâm An mua lụa, tơ ...

    Dương Qua nghe nói 3 chữ ÛGia Hưng phủO làm cho lòng chàng chua xót nghĩ thầm :

    - Thân phụ ta xưa kia bị Hoàng Dung sát hại tại Phủ Gia Hưng, miếu Dương Thiết Thuơng, không biết mộ phần xây cất tại nơi nào ? Ta là con mà không rõ hài cốt của phụ thân đã chôn cất nơi nào, thật là bất hiếu.

    Chàng liền tỏ lời nài nỉ và chịu thêm vài lượng bạc để quá giang đến Gia Hưng.

    Bấy giờ ở Giang Nam tuy vào tiết Trọng Đông, không có tuyết đổ, giá băng như ở Bắc phương, nhưng khí trời lạnh thấu xương.

    Thuyền vừa đỗ bến, Dương Qua đã nhảy lên bờ, dầu chàng vấn cái khăn mỏng mình khoác áo tơ i bằng cật, nhắm phủ Gia Hưng đi tới.

    Khi tới nội thành thì trời đã lỡ hoàng hôn, chàng liền ghé một quá rượu dùng cơ m và hỏi thăm miếu Vương Thiết Thương ở phương nào.

    Mặc dù gặp lúc tối trời, gió lạnh thấu xương, chàng không kể gì đường đêm tối lạ, ra đi tìm ngôi miếu vũ.

    Chàng đi đến Vương Thiết Thương miếu thì đã canh hai, gió vẫn chưa ngừng thổi, mây mù che khuất ánh trăng, làm cho bầu trời càng u ám.

    Chàng đưa mắt nhìn trong màn đêm mờ mịt, chỉ hiện lờ mờ miếu xưa cũ kỹ, không người tu bổ, hai cánh cửa lâu ngày mục nát xiêu vẹo, nằm nghiêng nga ûmột bên.

    Dương Qua bước vào trong miếu nhìn thấy nhện giăng cửa mốc, dĩ nhiên là ngôi miếu đường hoang vắng, không kẻ lửa hương.

    Chàng ngồi trên điện, nhớ lại câu chuyện 30 năm về trước, cũng tại đây cha chàng đã bị người giết chết rất thảm thương ! Chàng không rõ mặt mũi phụ thân ra sao. Từ thủa chàng mới chào đời, đến ngày cha chàng khuất núi chẳng biết đã xảy ra bao nhiêu thảm cảnh, chàng đưa mắt lên nhìn thần tượng Vương Thiết Thương, và nghĩ một đời khai quốc công thần giờ đây không người hương khói, để cho tượng thần bị mọt ăn loang lổ, màu sắc đen mờ. Bất giác chàng thở dài ảo não, tưởng đến phụ thân lòng đau như muối xát, kim châm.

    Chàng lần đi khắp miếu, đưa mắt quan sát mọi vật, dùng tâm tìm kiếm xem phụ thân chàng có để lại di tích gì không ?

    Nhưng đã 30 năm qua, làm gì còn gì nữa ? Chàng đi ra sau miếu, ngó thấy 2 cây đại thọ che khuất 2 nấm mồ , trước mỗi nấm mồ có dựng một tấm mộ bia bị rêu phủ đầy.

    Dương Qua đưa tay áo phất nhẹ một luồng dịch phong đánh vào mộ bia để lộ ra hai hàng chữ của mỗi tấm.

    Một tấm ghi rằ ng : Dương môn liệt nữ Mục Thị chi mộÕ Còn tấm kia đề rằng : Bất tiếu đệ tử Dương Khang chi mộ

    Kế đó là một hàng chữ nhỏ lờ mờ : ... bất tài nghiệt sư Kh u Xứ Cơ lập biaÕ...

    Dương Qua ngơ ngẩn nghĩ thầm :

    - Dương môn liệt nữ Mục Thị là ai kìa ?

    Chàng lại nghĩ mà giận cho lời chú trên bia mộ của cha chàng, chàng lẩm bẩm rằng :

    - Lão đạo Khưu Xứ Cơ thật tình ! Cha ta đã chết rồi, chuyện gì lập bia mộ lại phơi bày lỗi lầm của ngưòi chết ? Cha ta đã làm chuyện gì mà gọi là bất tiếuÕ ? ồ ! Lão đạo mũi trâu này thực là khó chịu. Bất tiếu cái gì? Sau này ta sẽ đến Toàn Chân giáo mà giết chúng một trận cho bõ ghét. Mối hận này khó mà tiêu được !

    Sẵn cơn giận, chàng vung ra một chưởng làm vỡ nát hai tấm mộ bia. Sau khi đánh vỡ hai tấm mộ bia, bỗng nghe từ hướng Bắc truyền lại tiếng chân người đi rất nhanh và thực nhẹ như chiếc lá rụng, chứng tỏ người này là một tay khinh công thượng thặng.

    Nghe cho kỹ tựa hồ như hai con thú chạy nhanh, giẫm trên đất, bên nặng bên nhẹ khác nhau, thực mà một môn pháp công kỳ lạ.

    Dương Qua động tính háo kỳ, lắng tai nghe tiếng chân người này bước vào Vương Thiết Thương miếu rồi dừng lại chỗ tượng thần, trong ngôi chánh điện.

    Chàng lẳng lặng bước theo xem việc gì xảy ra, hoặc là quái vật gì xuất hiện.

    Trong khoảng khac, chàng dừng lại trước miếu và đứng yên vì sợ trong miếu có người mai phục.

    Một lúc lâu, chàng bước nhanh vào phòng. Khi vào đến bên trong, chàng đưa mắt nhìn quan sát, bất giác chàng tức cười nôn ruột nhưng cố dằn lòng.

    Tiếng chân khấp khểnh lúc nãy là tiếng của 4 người đang đứng trong đại điện. Tất cả đều què một cái chân trái. Mỗi người đều choàng qua cổ một sợi dây xích to, và cột lủng lẳng người này dính người kia, làm cho mỗi lần di động là không ai được tách rời hàng ngũ. Mỗi người đều chống một cây gậy

    Người thứ nhất mặt mày nhăn nhep, mang cái chân cụt, mà bắp vế bị xẻ làm hai, đã tàn phế lại càng có vẻ tàn phế thêm.

    Ngưòi thứ hai nếp trán nhăn nheo, in rõ ba vết thẹo trên gương mặt. Người thứ ba thì lùn nhỏ, mặt mày cũng dơ dáy hốc hác như 2 lão kia.

    Người thứ tư là một vị hòa thượng thân hình to lớn. Dương Qua rất lạ lùng nhủ thầm :

    - Mấy người này thật là quái gở, chẳng lẽ trọn đời họ chẳng rời nhau một bước ?

    Một tiếng keng nổi lên, lão thứ nhất đấnh đá lấy lửa châm vào ngọn đuốc, giơ lên làm cho Dương Qua trông thấy rõ từng nguời.

    Chàng nhìn kỹ 4 người này, trừ lão già thứ nhất có cặp mắt sáng quắc, còn 3 gã kia đều mù cả.

    Chàng nói thầm :

    - A ! Lão này là người tiên phong dẫn lộ cho ba gã kia, thực là kẻ chột làm vua xứ mù.

    Lão già mắt sáng đưa cao cây đuốc đi lục soát khắp từ trước đến sau miếu. Bốn người bị chằng kéo theo sợi dây xích sắt. Mỗi người họ chỉ đứng cách nhau độ 3 bước.

    Dương Qua bước nhẹ theo, quan sát từng cử động một. Ai cũng tưởng 4 người này hành động rất bất tiện, vì họ đã đui lại què. Nhưng 4 người này tai mũi đều thính, vẻ mặt đanh ác lộ trên vừng trán. Tuy nhiên, họ lại không trông thấy được chàng đứng sau tượng thần.

    Bốn người đi tuần sóat một hồi, đoạn trở về đứng giữa chánh điện. Lão già mắt sáng cất tiếng bảo :

    - Kha lão đầu chẳng để lộ một hành tung. Nếu lão quyết ý ra tay thì chắc còn phải ẩn núp đâu đây.

    Người thứ ba nói :

    - Đúng đấy ! Gã đã bằng lòng ước hẹn ắt phải đến chứ. Con người của Kha lão đầu là một hạng hiệp sĩ tự phụ. Hai chữ Ûtín nghĩaÕ coi trọng hơn Thái Sơn.

    Cả 4 người đều ngồi xuống đất ngay chính điện. Lão già thứ hai liền cất tiếng bảo:

    - Sa đại ca ! Đại ca có chắc là Kha lão đầu đến chăng ?

    Người thứ nhất liền bảo :

    - Không chắc lắm ! Tuy lão đã hứa, nhưng có ai dại gì biết cái chết mà còn dấn thân vào.

    Người thứ ba vội vàng đính chính :

    - Không lẽ vậy đâu ! Kha lão đầu là một vị đầu lãnh của Giang Nam Thất Quái, chính Thấp ác Kh u lão đạo còn chẳng dám làm gì thay, Kha lão đầu muôn dặm băng ngàn đến xứ Mông Cổ để truyền dạy võ công cho Quách Tỉnh là một chuyện trong giang hồ ai ai cũng đều biết rõ, một lời hứa của Giang Nam Thất Quái đáng giá ngàn vàng. Chúng ta phải phòng bị trước mới được.

    Dương Qua núp sau tượng thần nghe rất rõ ràng. Chàng nhủ thầm :

    - à à ! Bọn chúng đến đây cốt ý chờ đợi Kha lão công !

    Người thứ hai trong bọn nói :

    - Tôi dám đoán chắc là Kha lão đầu không trở lại. Bành đại ca ! Đại ca dám đánh cuộc với tôi không ?

    Lời nói của lão chưa dứt, bỗng nghe có tiếng động mạnh từ xa đưa lại. Rõ ràng là tiếng chân người bước trên mặt đá, nhẹ nặng khác nhau, tựa hò như một người đang chống gậy đi lần về phía trước miếu. Dương Qua lúc còn nhỏ cùng Kha Trấn ác ở tại Đào Hoa đảo rất lâu, nghe tiếng bước chân chàng đã chắc chắn là Kha Trấn ác đến.

    Người ốm thứ ba cất tiếng cười ha hả:

    - Hầu lão đệ ! Kha lão đầu đ đến, đánh cuộc không đặng rồi.

    Người thứ hai lẩm bẩm nói :

    - Tặc tử điểu ! Quả nhiên không sợ chết, không phải là kẻ tà vậy. Tiếng lộp cộp nổi lên trên nền miếu. Phi Thiên Biển Bức Kha Trấn ác tiến vào chính điện, đứng ngay ngắn nói :

    - Kha Trấn ác giữ lời hứa mà lại, tôi đã lấy được Cửu hoa ngọc lộ hoàn của Đào hoa đảo chúa, gồm 1 2 viên, mỗi vị uống 3 viên là bình phục.

    Nói xong ông đưa ra một cái hộp nhỏ, giao tận tay lão già mắt sáng, ông này vui mừng tiếp lấy :

    - Đa tạ! Kha Trấn ác ôn tồn bảo :

    - Lão phu đã lo xong xuôi mọi việc nên lại đây để chịu chết.

    Nhìn thấy râu tóc trắng phau vẻ mặt rắn rỏi, Kha Trấn ác đứng oai vệ như một thiên thần giữa chính điện, khiến mọi người đều mến cảm cái uy vũ này.

    Người thứ nhì cảm thấy bồn chồn trong dạ:

    - Sa đại ca ! Xin đại ca hãy nghĩ lại ! Kha lão đầu thủ tín đã mang về đây Cửu hoa ngọc lộ hòan, thì dù cho đại ca có tiền cừu hận việc gì đại ca cũng mở rộng lòng nhân mà tha thứ hay bỏ qua cho lão.

    Người thứ ba cười sặc sụa, nói :

    - A ! Hầu lão đệ ! Lão đệ có tấm lòng nhân của đàn bà con gái, không sợ 4 người chúng ta sau này chết chẳng đất chôn hay sao ? Hầu lão đệ ! Hôm nay tâm ý của Kha Lão đầu chưa để lộ ra, bíêt đâu ngày sau Kha lão đầu lại chẳng giữ kín cho chúng ta.

    Bỗng có tiếng hét :

    - Hãy động thủ một lựot ! Tức thì 4 người đứng bao quanh một vòng trong làm cho Kha Trấn ác vô phương đào tẩu.
    Vị thủ lãnh của 4 người này là lão già mắt sang cất tiếng nói to :
    - Kha lão đầu ! Ba mươi năm về trước chính ngươi đã thấy cái chết thê thảm của Dương Khang, tưởng hôm nay ngươi đã cao chạy xa bay rồi, nào ngờ lẽ trời báo ứng chẳng sai.

    Kha Trấn ác chống gậy đứng giữa điện, nghe qua cả giận nói :

    - Dương Khang nhận giặc làm cha, bán nước cầu vinh, là loại tiểu nhân đê tiện. Ta là Kha Trấn ác, đường đường là nam tử trượng phu đội trời đạp đất, tại sao ngươi dám đem tên gian tặc Dương Khang ra so sánh với ta ?

    Người thứ ba là một người lùn nhỏ, cất tiếng mắng :

    - Cái chết đã đến nơi, mà vẫn còn giữ giọng anh hùng hảo hán. Khi gã này nói dứt, cả 4 người đều vung ra song chưởng, như mưa sa bão táp đánh mạnh vào người Kha Trấn ác.

    Kha Trấn ác đã nhận định rõ tình thế, biết không thể nào chống cự nổi 4 người này, nên ông đứng yên bất động không buồn ra chiêu chống trả.

    Trong khi chưởng phong của 4 người này chưa chạm đến mình đối phương, bỗng thấy từ sau lưng Kha Trấn ác có một luồng dịch phong như vũ bão phát ra làm cho cát bụi trên trần nhà rơi xuống như mưa. Nhưng luồn chưởng quái dị này như không muốn tấn công vào ai trong 4 người.

    Bốn người cảm thấy sức mạnh vô biên của chưởng lực mà chính họ cũng không chống lại nổi.

    Lão già mắt sáng đưa mắt quan sát. Chính Kha Trấn ác bị vây đứng bất động, thì còn ai phát ra chưởng phong này ? Đôi mắt của lão đăm đăm nhìn thần tượng Vương Thiết Thương và đoán biết sau tượng có người núp.

    Bốn người đưa bốn chưởng đánh vào não môn của thần tượng, là cho chiếc đầu của Thần tượng văng xuống đất bể từng miếng.

    Trong bốn người thì hết ba đã mù lòa không còn trông thấy gì nữa. Duy có lão già mắt sáng là kẻ cầm đầu, nhưng không rõ Kha Trấn ác biến đi đâu mất. Lão cảgiận hiệp cùng ba người kia bước đến chỗ tượng thần quan sát.

    Họ thấy một người thanh niên tuổi độ ba mươi, mặt đầy vẻ giận dữ, cánh tay ôm chặt cổ Kha Trấn ác giơ cao lên nói như gầm thét :

    - Ngươi lấy cớ gì mà mắng nhiếc tiên phụ của ta ?

    Kha Trấn ác hỏi to :

    - Nguơi là ai ?

    Dương Qua nói :

    - Ta là con trai của Dương Khang, tên là Dương Qua. Ta với ngươi lúc ở Đào hoa đảo, ngươi còn nhớ chăng ? Tại sao trong lúc vắng mặt ta ngươi đành lòng mắng người khuất núi ?

    Kha Trấn ác lạnh lùng nói :

    - Chuyện đời biến đổi, hết xưa đến nay. Phàm làm điều gì cũng được muôn đời ghi chép. Có kẻ để tiếng xấu muôn đời cũng do bàn tay thiện ác của họ làm, đừng phiền trách sự đàm tiếu của kẻ thế nhân.

    Dương Qua thấy Kha Trấn ác chẳng mảy may phục tùng, lại còn đem lý sự ra cãi, càng làm cho chàng thêm uất giận. Chàng giơ cao thân mình lão ném mạnh xuống đất và hét to :

    - Ngươi hãy nói cho rõ vì sao cha ta phải mang tiếng xấu như vậy ?

    Lão mắt sáng thấy Dương Qua oai phong lẫm liệt, chỉ trong phút chốc mà làm một chuyện kinh thiên động địa, ông không thể ngờ được. Liệu biết mình và 3 người bạn không phải là tay đối địch với Dương Qua, nên ông nhẹ nhàng cất buớc, nắm sợi xích ra hiệu cho 3 người lần lượt ra khỏi miếu đường.

    Dương Qua lanh như điện chớp, vừa lắc một cái đã án ngữ tại cửa miếu và quát to :

    - Hôm nay các ngươi không nói rõ ràng, tất cả đều không còn sống để ra khỏi cửa miếu.

    Cả bọn không chịu kém. Họ hét to, mỗi người đẩy ra một chưởng đánh vào Dương Qua.

    Dương Qua hét to :

    - Vậy càng tốt !

    Chàng liền đưa ra một chưởng mạnh tựa vũ bão, chạm phải chưởng lực 4 người này phát ra tiếng kêu bình bình. Hai loại chưởng chạm nhau bay vần vũ, như cơ n gió lốc có một áp lực kinh hồn. Bốn người gặp một áp lực mãnh liệt làm cho họ sững sờ, muốn ngã về phía sau. Trong nhóm 4 người có người thứ hai võ công yếu hơn, bị chưởng phong đánh vào não môn bắn ra, nằm mọp xuống đất thở hồng hộc.

    Dương Qua nói :

    - Bốn người là ai ? Tại sao có thân hình quái dị như thế ? Sao lại ước hẹn với Kha Trấn ác gặp mặt ?

    Lão già mắt sáng bị trúng chưởng phong của Dương Qua ở bụng, lục phủ ngũ tạng như bị xáo trộn, nên vội vàng ngồi xuống vận khí lực để tránh nguy hiểm đến tính mạng, và cũng chẳng dám nói lời nào.

    Bốn lão già này lai lịch như sau : Người mắt sáng là Sa Thông Thiên Người thứ hai là sư đệ của lão, có biệt hiệu là Tam đầu giao Hầu Thông Hải.

    Người thứ ba là gã lùn nhỏ biệt hiệu Thiên Thủ Nhân Bành Liên Hổ. Người thứ tư là gã hòa thượng biệt hiệu Đại Thủ ấn Linh Trí Thuợng Nhân. Ba mươi năm trước 4 người này bị Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông bắt đem giao cho Khưu Xứ Cơ và Vương Xứ Nhất trông giữ, giam cầm tại Trung Dương Cung ở Chung Nam Sơn, để chúng hối lỗi rồi mới phóng thích.

    Tuy nhiên bọn chúng tính ác khó bỏ, cả bọn tìm đủ trăm phương ngàn kế để thoát thân. Mỗi lần trốn khỏi đều bị bắt về. Đến lần thứ ba, Bành Liên Hổ, Linh Trí Thượng Nhân và Hầu Thông Hải giết chết mấy tên đệ tử của Toàn Chân phái canh gác để trốn thoát. Nhưng lần này cũng lại bị đạo sĩ phái Toàn Chân bắt được.

    Mấy đạo sĩ giận quá truyền bắt hết bọn người này chặt chân khoét mắt, trừ Sa Thông Thiên không có nhúng tay vào máu nên tha không khóet mắt lão này.

    Cho đến 1 6 năm sau, quân Mông Cổ bao vây Trùng Dương cung, cả bọn 4 người thừa cơ trốn thoát.

    Trừ Sa Thông Thiên, cả3 người kia đều bị mùa lòa. Bành Liên Hổ lại sợ rằng lão trở lòng, phụ anh em bỏ đi mất, nên lấy dây xích sắt xâu lại thành một chuỗi người, không ai có thể tự tiện đi đâu được.

    Lúc Dương Qua đang học võ ở Trùng Dương cung không hề biết được việc này vì thầy và sư huynh quá nghiêm khắc nên không đến được chỗ giam cầm, không biết mặt mũi mấy gã này ra sao.

    Sa Thông Thiên từ khi rời khỏi Trùng Dương cung, đoán biết không sớm thì muộn cũng bị đạo sĩ phái Toàn Chân bắt gạp vì tai mắt của phái này đầy dẫy trong thiên hạ, mà tự xét mỗi người đều tàn tật, chắc không thể địch nổi, nên đưa tất cả bọn xuống phương Nam tìm một thôn ấp hoang vu để trốn lánh.

    Một ngày họ đang đi ngoaiø đường bỗng gặp Kha Trấn ác từ miếu Thái Dương đi lại. Sa Thông Thiên sợ lão Kha tiết lộ chỗ ở của họ, bèn ra tay một lượt cầm giữ Kha Trấn ác. Kha Trấn ác võ công lại kém hơ n 4 người, nên bị chúng bắt và hạch sách đủ điều. Chúng rõ Kha Trấn ác không có ác ý gì với bọn họ cả, nhưng oán thù Kha Trấn ác rất sâu vì hai lẽ. Một là hai nẻo tà chánh không thể sống chung. Hai là sợ Kha Trấn ác chỉ chọc chỗ ẩn thân của chúng, vì vậy 4 người muốn đánh chết Kha Trấn ác cho an lòng.

    Bấy giờ Kha Trấn ác mới lên tiếng năn nỉ xin cho lão đến Làng Hồ có việc cần thiết, sau khi công việc hoàn thành sẽ trở về đây chịu chết. Nếu bọn què chịu dung cho lão vài ngày thì khi đến Lăng Hồ lão sẽ lấy thuốc trị thương của Hoàng dược Sư là Cửu hoa ngọc lộ hoàn mà biếu tặng.

    Bốn lão này từ khi bị chặt chân, mỗi khi có mưa bão gió tuyết về đêm là đau đớn vô cùng. Nay nghe Kha Trấn ác nói đến việc tặng linh đơn khiến cả 4 người rất hoan hỉ. Họ bảo Kha Trấn ác phải nặng lời thề thốt, một là không chỉ chỗ ẩn núp của họ, hai là không được tìm thêm hào kiệt trợ giúp và hẹn ngày gặp nhau tại miếu Vương Thiết Thương.

    Sa Thông Thiên nhắc lại chuyện cũ :

    - Dương công tử, lệnh ton ngày trước cư xử với chúng tôi như thượng khách, khi ông chết chúng tôi vẫn giữ mái mối tình cố cựu không quên, mong công tử tha thứ cho chúng tôi nhờ.

    Mười năm về trước, Sa Thông Thiên và Bành Liên Hổ là hai tay khét tiếng giang hồ, vua không sợ thần không kinh, dù cho gươm đao kề cổ, búa rìu trước mặt cũng không tỏ ra khiếp nhược như thế này. Nhưng mấy năm dài lao lý, lại bị chặt chân khoét mắt, bao nhiêu hào khí, hùng phong nhụt dần, cho nên họ mới hướng vào Dương Qua cầu xin mạng sống.

    Dương Qua xì một tiếng chẳng đáp, quay sang Kha Trấn ác hỏi :

    - Kha lão công, ông đến Lăng Hồ có nghe tin tức của Trình Anh và Lục Vô Song không ?

    Kha Trấn ác cất tiếng cười dài :

    - Dương Qua, Dương Qua ! Chuyện nhỏ mọn đó ngươi hỏi đến làm gì?

    Dương Qua hỏi :

    - Tại sao vậy ?

    Kha Trấn ác cất tiếng cười dài nói :

    - Công việc hôm nay, ta là Phi Thiên Biển Bức nào kể đến tấm thân già nữa, nếu gặp lúc thiếu niên sức cường lực tráng thì Kha Trấn ác này cũng đâu có kinh sợ ? Võ công cao diệu chỉ có thể uy hiếp những kẻ tham sanh úy tử, chứ đối với Giang Nam Thất Quái đâu có dễ gì bức sách được ?

    Dương Qua nhìn thấy lão râu tóc bạc phơ, mặt mày lẫm liệt nên sinh ra kính phục :

    - Kha lão công công, ông nhìn tôi có phải Dương Qua chăng ? Chỉ vì công công chạm đến danh dự của cha tôi nên tiểu bối mới đắc tội. Kha lão công vang danh bốn biển, dự mãn càn khôn, Dương Qua tôi từ lúc trẻ vẫn khâm phục, đâu dám vô lễ với công công.

    Kha Trấn ác với nụ cười cởi mở nói :

    - Theo lời nói này, lão phu đã đoán được nhân phẩm của các hạ. Các hạ là người đã lập được đại công ở thành Tương Dương, thực là một vị anh hùng. Vậy ngươi đâu có thể sánh cùng một bọn với phụ thân ngươi. Nếu ta chỉ trích đến ngươi thì hóa ra ta tự chuốc nhục hay sao?

    Dương Qua mịt mờ không rõ hành vi của phụ thân ra sao, nên vội vàng hỏi :

    - Kha lão công, sự lầm lẫn của phụ thân tôi như thế nào, công công cho tôi được nghe rõ.

    Không ngờ Dương Qua chẳng biết mảy may gì về việc này, dù chàng đã giao du với dủ mọi tầng lớp nhưng chẳng ai đề cập đến dĩ vãng của Dương Khang. Trong lúc bất ngờ, lại nghe lời nói thẳng của Kha Trấn ác, làm sao chàng chẳ ng bồi hồi cảm xúc và hỏi rõ ngọn nguồn cho được ?

    Kha Trấn ác ngỡ là Dương Qua giả vờ, nhung nghe giọng nói tha thiết và thành khẩn của chàng ông mới bắt đầu kể rõ nguồn cơn từ lúc Quách Tỉnh và Dương Khang kết nghĩa, lại nói việc Dương Khang và Âu Dương Phong âm mưu hãm hại năm người trong nhóm Giang Nam Thất Quái ra sao. Và do đâu bị trúng độc từ áo da nhím của Hoàng Dung tại miếu Vuơng Thiết Thương rồi phải chết thê thảm. Sau rốt ông nói rất bi thiết :

    - Những chuyện đã qua, quý vị ở đây đều thấy tận mắt. Sa Thông Thiên, Bành Liên Hổ, các vị hãy kể cho Dương công tử nghe coi lời nói của lão phu có sai sự thật không ?

    Kha Trấn ác vừa dứt lời, bỗng nghe tiếng quạ, quạ kêu inh ỏi, từ trên cao bay xuống đậu ở nóc miếu 1 0 con quạ lông đen cất tiếng kêu dậy đất.

    Sa Thông Thiên thở dài rên rĩ :

    - Có một đêm trong năm nọ, qua ïkêu rền trời, ta đã bắt nó giao cho Dương công tử, lúc ấy Bành lão đệ thấy cơ hội đã đến bèn đi mất, ta có nghe Dương công tử bị chặt tay nhưng không ngờ còn sống đến ngày nay.

    Dương Qua ôm đầu, ngồi bệt xuống đất, cảm thấy buồn tủi vô cùng. Chàng không ngờ ngày trước cha mình đã tạo ra nhữ ng chuyện tồi tệ làm di xú khiến cho mình phải mang tiếng xấu đời đời.

    Giữa ngôi thần điện, sáu người ngồi yên chẳng ai nói một tiếng nào cả. Chỉ nghe tiếng quạ kêu vang trời.

    Dương Qua vốn tính cực thiện, Kha Trấn ác biết vậy liền lên tiếng :

    - Dương công tử lập được đại công như thế làm cho bá tánh trong thành Tương Dương vui vẻ khâm phục, mà phụ thân của công tử cũng được thơm lây. Phụ thân của công tử tuy an giấc ngàn thu nơi suối vàng, cũng mãn nguyện có được một người con chí hiếu. Ta có nghe nhị đệ nói qua, vua HạVõ là vị vua thánh đức, mà phụ thân lại là kẻ khắc bạc ác nhân

    Dương Qua ôn lại sự tình từ lúc gặp mặt vợ chồng Hoàng Dung, Quách Tỉnh, và nghĩ đến Hoàng Dung luôn đề phòng, không bao giờ nhắc đến những việc đã qua liên quan đến phụ thân hay cá nhân chàng. Bấy giờ trong đầu óc chàng quả nhiên phiền não, mọi việc không hay đều do phụ thân chàng gây ra, làm cho chàng uất ức, thở dài. Chàng hỏi Kha Trấn ác :

    - Lão công ! Trình Anh và Lục Vô Song hai vị này vẫn bình yên đấy chứ ?

    Kha Trấn ác tươi cười bảo :

    - Hai người này được tin công tử đã thiêu rụi hai ngàn hộc lương của địch ở Nam Dương và tận diệt quân tiên phong Mông Cổ làm cho họ hoan hỉ vô cùng. Họ hỏi thăm tin tức của công tử mạnh khỏe thế nào, và hỏi thăm công tử có biết tin tức gì của Tiểu Long nữ cô nương chăng ? Cả hai chị em vẫn mạnh khỏe và hằng nhớ đến công tử.

    Dương Qua buồn bã nói :

    - Hai vị nghĩa muội này, đã xa cách 1 0 năm mà chưa gặp mặt !

    Bỗng Dương Qua quay đầu lại hỏi Sa Thông Thiên :

    - Kha lão công đã bằng lòng giao ca ûtính mạng cho ngươi quyết định. Lão công đã hữa thìvẫn giữ lời. Thế mà ngươi vẫn nằng nặc đòi giết lão công, vậy ngươi hãy ra tay giết chết lão công đi, để ta giết hết bọn chúng bay trảthù cho lão công.

    Sa Thông Thiên, Bành Liên Hổ đưa mắt nhìn nhau chẳng nói ra lời. Họ đứng ngây người hồi lâu, Sa Thông Thiên cất tiếng nói :

    - Dương đại hiệp, chúng tôi không biết nên mạo phạm đến oai rồng của Kha lão hiệp, mong 2 vị rộng lòng bỏ qua cho chúng tôi.

    Dương Qua nói như hét :

    - Các ngươi không biết thì thôi. Nhưng các ngươi có lỗi rất nặng là không biết giữ tròn tín nghĩa, và muốn làm thiệt mạng lão công, các ngươi nghĩ sao đây ?

    Sa Thông Thiên khom người xuống van xin :

    - Chúng tôi lỗi lầm đáng chết ! Mong nhị vị thứ lỗi. Kha lão hiệp đại tín đại nghĩa, làm cho chúng tôi khâm phục vô cùng.

    Dương Qua hét to :

    - Hãy mau mau rời khỏi nơ i đây, ta chẳng còn muốn thấy các ngươi nữa, nếu cãi lại ta sẽ ra tay...

    Sa Thông Thiên và 3 người kia như hòan hồn chẳng nói nên lời, chỉ biết khom người thi lễ và băng mình đi khỏi miếu rất nhanh.

    Dương Qua vô tình đã cứu đựoc Kha Trấn ác thoát khỏi cảnh thập tử nhất sinh. Kha Trấn ác tỏ vẻ cảm kích vô cùng. Hai người đi lần ra ngoài ngồi xuống nền miếu nói chuyện.

    Kha Trấn ác nói :

    - Sở dĩ ta đến Lăng Hồ trấn cũng là vì Quách nhị cô nương.

    Dương Qua cả kinh hỏi :

    - Tiểu muội đã gặp việc gì ư ?

    Kha Trấn ác nói :

    - Quách Tỉnh quý hai đứa con gái như châu ngọc, mặt dù tánh mỗi đứa mỗi khác. Nhưng không biết vì đâu Quách Tường bỗng nhiên biến mất khỏi thành Tương Dương. Không ai rõ nó đi hướng nào. Vợ chồng Quách Tỉnh sốt ruột phái đủ hạng người đi khắp mọi nơi tìm kiếm, nhưng ngày qua ngày không được tin gì của cô bé cả.

    Lão mù này cũng ở trong thành Tương Dương ra đi tìm côbé, nhưng bất lực không tìm được một dấu tích nào. Đông, Tây, Bắc ba ngả đều có người của Quách Tỉnh cho đi tìm, duy có ngả Giang Nam là lão quen thuộc tất cả phong thổ nhân tình cho nên lão mới đi về hướng này, và có nghe đựoc một vài tin tức.

    Dương Qua vội hỏi :

    - Tin tức gì vậy công công ?

    Kha Trấn ác nói :

    - Khi lão lần mò đến Lâm An, có nghe hai tên sứ thần Mông Cổ nói : ÛCon gái nhỏ của Quách đại hiệp ở thành Tương Dương đang bị giam cầm trong trại quân Mông Cổ.Õ

    Dương Qua hỏang hốt kêu lên :

    - Ôi chao ! Không rõ việc này là thật hay giả?

    Kha Trấn ác vội nói :

    - Hai đạo quân tiên phong hậu tập của Mông Cổ hiệp nhau công phá thành Tương Dương. Bấy giờ trong triều đình có tên đại thần mê muội bàn kế nghị hòa. Hai tên sứ thần Mông Cổ đã dối gạt được đại thần của Tống triều, ắt là cấp bậc không nhỏ. Cả hai dùng tiếng Mông Cổ trò chuyện với nhau, mà không ngờ lão Kha Biển Bức này đưở tại Mông Cổ trên mười năm, lão đã nghe và hiểu tường tận.

    Dương Qua lại nói :

    - Nếu đúng vậy thì câu chuyện này có thật rồi!

    Kha Trấn ác nói :

    - Đúng vậy ! Sau khi nghe xong, ta giận quá đánh cho hai tên sứ giả hai Ûcon văng cực độc, và tính trở về thành Tương Dương cho biết tin tức. Nào ngờ lại gặp phải bốn con ác quỷ cản đường. Lão đã suy nghĩ với tấm thân già sớm muộn gì cũng về trời, còn tin tức của Quách nhị cô nương chẳng lẽ làm im không báo, cho nên lão khẩn cầu chúng xin hoãn lại vài ngày, để lão đến Lăng Hồ trấn báo cho Trình Anh và Lục Vô Song biết mọi việc.

    Khi hai vị này lên đường về thành Tương Dương thì lão phu trở lại đây để giữ trọn lời ưước hẹn mà chịu chết. Kẻo đã giữ đúng lời giao hẹn tưởng đâu bốn con ác quỷ buông tha, nào ngờ chúng bội ước, cho đến lúc sự chết gần kề chúng nó mới không dám ra tay, ha ha...

    Dương Qua ngẫm nghĩ giây lâu, đoạn hỏi :

    - Kha lão công đã nghe hai tên sứ thần Mông Cổ nói chuyện. Tại sao Quách nhị cô nương bị giam cầm ? Và tánh mạng có bị nguy hiểm gì không ?

    Kha Trấn ác nói :

    - Điều này ta chẳng nghe qua.

    Dương Qua run run nói :

    - Chuyện này nóng như lửa đốt. Vãn bối xin đi trước để tìm phương thế cứu Quách nhị cô nương. Còn lão công chầm chậm mà trở về.

    Lúc Kha Trấn ác ở tại thành Tương Dương đã nghe thấy Dương Qua làm nên chuyện lớn, lòng vẫn thầm phục, nên ông nói tiếp :

    - Dương công tử có ra đi phải cần thận cho lắm, lão sẽ trở về thành Tương Dương đợi tin mừng.

    Dương Qua cất giọng ôn hòa nói :

    - Kha lão công ! Vãn bối bái tạ lão công, xin ký thác cho một việc là mong tiền bối vui lòng lập lại giùm tấm mộ bia. Trên mộ bia đề rằng : OKhang chi cữu. Bất hiếu tử Dương Qua cẩn lập...Õ.

    Kha Trấn ác ngây người, nhưng lãnh hội ngay lời nói của Dương Qua nên đáp :

    - Đúng đấy ! Đúng đấy ! Ngươi chính là kẻ bất hiếu đối với lệnh tôn. Ngươi nhận là kẻ bất hiếu, nhưng sự bất hiếu này khác xa kẻ khác. Lão Kha sẵn lòng giúp đỡ việc này.

    Dương Qua cúi đầu cảm tạ và quay người về hướng Bắc. Dương Qua đến Gia Hưng mua hai con ngựa để đi về phủ Nam Dương. Chàng đi suốt ngày đêm không nghỉ và cũng chẳng thay ngựa, phút chốc đã đến gần dinh quân Mông Cổ.

    Nguyên Hoàng đế Mông Cổ ngự giá thân chinh, lúc bao vây thành Tương Dương thì tại Tân Dư và Đặng Châu bị thất thủ đại bại, nên không biết rõ quân nhà Tống thực hư thế nào. Vì thế quân Mông Cổ rút lui về Tương Dương để an dinh lập trại, án binh bất động. Chỉ thấy cờ xí rợp trời, gươm đao chơm chởm, nhìn vào dinh trông thấy vô số người qua lại.

    Dương Qua chờ đến tối mới mò mẫm vào đại dinh quan sát, nhìn thấy cuộc bố phòng thật nghiêm ngặt, xung quanh ngự dinh một rừng giáo mác, không vật gì có thể lọt vào được.

    Dương Qua tuy võ công uy dũng, sức lực có thừa, nhưng chàng nghĩ mãnh hổ nan địch quần hồ, hảo hán khó thể cự nổi nhiều người nên chàng im lặng theo dõi mà chẳng dám để lộ hành tung.

    Đêm đến, chàng lục soát khắp Đông dinh, ngày kế là Tây dinh, lần lượt mỗi đêm đến một dinh. Qua hết bốn doanh trại lớn, chàng cũng không gặp tin tức gì của Quách Tường cả. Sau cùng chàng lập kế bắt cóc một vị tham mưu của Mông Cổ để tra hỏi. Tên này khai là trong tất cả doanh trại không có bắt co âgái nào là con của Quách Tỉnh đại hiệp ở thành Tương Dương, gã không nghe và cũng không thấy việc này. Dương Qua vẫn để lòng phòng bị, lục soát thêm vài ngày nữa cũng không thấy tin tức nào đáng chú ý. Chàng nhủ thầm :

    - Hay là Quách bá bá đã cứu khỏi, hoặc hai tên sứ thần đ nghe lỏm những lời giả dỗi, rồi có dịp bàn hươu tán vượn?

    Chàng đưa mắt nhìn xem cảnh vật thấy hoa nở rợp cành, báo hiệu mùa xuân sắp đến, cái kỳ hạn của Tiểu Long nữ Ûmười sáu năm đã sắp hết, làm cho lòng chàng hồi hộp, vội vã đi về hướng Bắc, theo lối cũ trở về Tuyệt Tình Cốc.

    * * *

    Nhắc lại việc Quách Tường và Kim Luân Pháp Vương. Nàng thấy Kim Luân Pháp Vương là tay ác độc vô cùng, đã giết chết hai người bạn Trường Tu Quỷ và Đại đầu Quỷ, lòng nàng vô cùng chua xót. Nàng nghĩ thế nào cũng phải chết dưới ma chưởng của quái lão hòa thượng, nhưng vẫn hiên ngang, ngước mặt nói :

    - Ngươi muốn giết chết ta, sao còn chưa ra tay ?

    Kim Luân Pháp Vương cười hô hố nói :

    - Giết chết ngươi chẳng khó gì? Hôm nay ta đã giết người như vậy là tạm đủ, còn số phận ngươi ta đợi ngày nào tốt mới đem ra khai đao, và ta chẳng để ngươi chạy thoát đâu.

    Quách Tường thấy rõ hoàn cảnh của mình không thể chống cự nổi với quái hòa thượng, chi bằng cứ theo lời lão rồi sẽ tính kế thoát thân sau.

    Suy nghĩ xong, Quách Tường leo lên ngựa, từ từ cất vó phi chậm. Kim Luân Pháp Vương vui vẻ nghĩ thầm :

    - Hoàng thượng và Hoàng đệ tìm đủ thiên phương bách kế câu thúc tính mạng của Quách Tỉnh mà không được. Hôm nay ta giữ con bé này làm con tin để bức Quách Tỉnh phải theo về phía ta. Nếu Quách Tỉnh không chịu, ta sẽ đem con gái cưng của hắn ra cửa thành Tương Dương hành hạ, làm cho vợ chồng nó tinh thần tán loạn rồi thừa dịp công thành. Như thế thật là diệu kế, lấy thành Tương Dương như trở bàn tay.

    Hai người đi đến lúc trời xẩm tối, tìm chỗ trú ngụ.

    Gặp được một căn nhà hoàng vắng, trống trước trống sau, không người ở đã lâu, gian nhà này trơ trọi chỉ còn 4 bức vách xiêu vẹo.

    Kim Luân Pháp Vương và Quách Tường vào trong. Ông lấy lương khô chia cho Quách Tường ăn, đưa nàng vào buồng trong ngơi nghỉ, còn lão ngồi giữa nhà tĩnh tọa và vận nội lực bồi dưỡng tinh thần.

    Quách Tường tâm trí rối bời, làm sao ngủ được. Nàng thao thức đến nửa đêm rồi nhẹ bước ra ngoài nhìn xem Pháp Vương đang làm gì. Nàng nhìn thấy Kim Luân Pháp Vương nằm ngoẻo đầu vào vách hơi thở đều đều, chứng tỏ ông đang chìm đắm trong giấc mộng mê man.

    Quách Tường cả mừng, liền lẻn ra ngoài dẫn ngựa đi hỏi ngôi nhà độ 1 0 trượng, đoạn thót lên yên, thúc con tuấn mã phi nước đại. Phút chốc đi trên nửa dặm đường, nàng quay đầu lại chẳng thấy Kim Luân Pháp Vương đuổi theo nên mừng rỡ giục ngựa phi nhanh.

    Nàng lại nghĩ khi Kim Luân Pháp Vương tỉnh dậy ắt ông đuổi theo và có lẽ ông tin rằng nàng đã trở về thành Tương Dương bằng nẻo đường phía Nam.

    Vì nghĩ thế nên Quách Tường rẽ về hướng Bắc đi thật nhanh hòng đánh lạc hướng Kim Luân Pháp Vương. Dù cho ông có thuật khinh công cao đến đâu cũng không thể đuổi theo kịp.

    Tuy nhiên nàng vẫn lo sợ phập phồng, cứ phút chốc lại quay đầu nhìn xem Kim Luân Pháp Vương có đuổi theo chăng. Nàng phi ngựa chạy càng lúc càng nhanh, đến khi trời vừa rựng sáng đã cách xa chỗ cũ bảy tám mươi dặm đường, bấy giờ mới yên lòng gò cương ngựa chậm lại.

    Quách Tường đưa mắt nhìn về phía trước thấy một hòn núi xum xuê hoa lá, nàng lại muốn thưởng ngoạn nên giục ngựa lên sườn núi.

    Càng lên cao phong cảnh càng mỹ lệ. Bỗng nghe có tiếng thở ồ ồ trước mặt, nàng vội vã giục ngựa bước tới, thấy một người nằm ngủ say sưa, gối đầu trên một phiến đá.

    Quách Tường lật đật xuống ngựa bước tới bên cạnh xem xét, thìra người này đầu trọc mũi to, mặc áo đạo bào màu vàng lại chính là Kim Luân Pháp Vương. Không rõ làm sao lão lại đến trước mặt mình tài tình như vậy ?

    Quách Tường cả sợ nhảy thót lên yên ngựa, giục ngựa chạy xuống núi. Nàng quay đầu nhìn lại, thấy Pháp Vương vẫn nằm yên bất động không trỗi dậy đuổi theo.

    Nàng vội vàng giục ngựa chạy nhanh tới chân núi, rẽ vào một con đường hoang loang lổ. Nàng phi ngựa chạy nh bay, độ chừng thổi chín một nồi cơm thìthấy phía trước có một người khoanh tay đứng dựa vào gốc cây đại thọ, nhìn nàng cười hì hì, chính là Kim Luân Pháp Vương. Quách Tường chẳng sợ hãi chút nào mà giận dữ quát lên :

    - Quái lão hòa thượng, ông cứ cản trở mãi, hết lối này đến lối khác, tại sao ông dám đùa bỡn bản cô nương !

    Nói xong nàng giục ngựa đến trước và giơ cao roi ngựa đánh bổ vào mặt Kim Luân Pháp Vương

  4. #84
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 99 TRONG VẠN HOA CỐC


    Quách Tường vung roi ngựa đánh mạnh vào mặt Kim Luân Pháp Vương nhưng Pháp Vương vẫn đứng yên không né tránh làm cho nàng cả mừng, toan thâu roi lại đánh vào lưng lão một roi nữa. Đột nhiên có luồng gió mạnh thổi qua làm cho thân mình nàng té xuống ngựa, bay lơ lửng giữa không trung.

    Nguyên lúc Kim Luân Pháp Vương thấy ngọn roi vừa đánh vào mặt, ông vội thổi nhẹ vào ngọn roi làm cho thân mình nàng bị chưởng phong dồn ép, không thể chế nự nổi mới bay long lóc như thế.

    Quách Tường tuy bị bay lơ lửng nhưng tâm trí vẫn sáng suốt. Trong khi đó Pháp Vương bối rối sợ nàng té xuống đất giập xương nên vươn hai tay đỡ lấy mình nàng và bảo to:

    - Hãy cẩn thận!

    Quách Tường kêu lên:

    - ối da!

    Và rớt cách bàn tay của Pháp Vương độ năm tấc. Đột nhiên hai tiếng Ûbình bìnhÕ vang lên, Quách Tường đã vung song chưởng đánh vào bụng lão. Tuy Kim Luân Pháp Vương là người đầy cơ trí, võ thuật phi phàm nhưng trong lúc bất ngờ không thể nào chống trả kịp, chỉ kêu lên một tiếng ối daÕ lảo đảng quỵ xuống đất, nằm bất tỉnh.

    Quách Tường không thể tưởng tượng chưởng pháp của mình cao diệu dường nào, chỉ một chưởng cũng đã làm ng một tay cự phách anh hào. Nàng cúi xuống nhặt một phiến đá to toan đánh ngay lên đầu Kim Luân Pháp Vương.

    Nhưng, từ thuở sơ sinh đến ngày thành nhơn chi mỹ, chưa bao giờ Quách Tường nhúng tay vào một việc giết người. Tuy nàng giận Pháp Vương đánh ngã và giết thác hai người bạn quí nhưng nàng không nỡ nhẫn tâm giết người như thế. Cho nên, nàng đứng ngây người trong phút chốc rồi ném mạnh hòn đá xuống đất.

    Quách Tường chỉ đưa tay ra điểm vào Thiên đỉnh Huyệt ở cổ, kế là Bình phong huyệt sau lưng, Thần phong huyệt trước bụng Thanh linh uyên huyệtÕ trên vai, và Phục hổ huyệt dưới mắt. Chỉ riêng Ûkhẩu chí huyệtÕ nàng không điểm.

    Nàng điểm xong mười ba yếu huyệt trong mình Kim Luân Pháp Vương nhưng lại lo sợ Pháp Vương tỉnh dậy bất thần, nàng đi khuân bốn phiến đá, mỗi phiến nặng trên 70 cân dằn từ ngực xuống đến chân Kim Luân Pháp Vương.

    Xong nàng nói:

    - ác nhơn hỡi ác nhơn! Cô nương chẳng giết người hôm nay là mong ngày sau nhớ đến tự lỗi lầm mà cải hóa, đừng hại thêm người nữa!

    Nàng nhảy lên yên, so cương sắp cho ngựa chạy thì Kim Luân Pháp Vương mở to đôi mắt cười ha hả nói:

    - Tiểu cô nương lương tâm cực tốt, lão hòa thượng có lòng cảm mến cô nương!

    Bốn phiến đá bỗng kêu bình bìnhÕ văng ra thật xa, và Kim Luân Pháp Vương từ từ đứng dậy, làm cho Quách Tường bối rối vô cùng, vì mười ba đại huyệt nàng đã phong bế cả rồi, tại sao lão đứng dậy được?

    Nàng đưa mắt ngó trân quái hòa thượng mà chẳng nói ra lời. Nguyên Pháp Vương có trúng song chưởng của ngàng thực nhưng chỉ đau chút ít trước bụng mà thôi. Hai người võ công khác nhau một trời một vực. Chẳng lẽ Quách Tường hạ có hai chưởng mà đánh ngã ông ấy ư ? Đấy chẳng qua là ông giả bộ thọ thương để coi cô bé ngà giở trò gì, ông đợi phiến đá đánh vào đầu sẽ phản công không muộn, nhưng nàng ném bỏ đi, thấy vậy ông nhủ thầm:

    - Con bé này thông minh lanh lợi, lại thêm có một tâm địa cực tốt. Ta có hai tên đồ đệ có sở trường, mà thiếu hai tên đồ đẹ về sở đoản.

    Lòng ông muốn thâu nàng làm đồ đệ! Tuy ông đã thâu ba tên đệ tử. Tên thứ nhất văn võ toàn tài, thông minh lịch thiệp, ông sắp sửa truyền y bát thì lìa đời, tên thứ nhì là Đại Nhĩ Ma tuy giỏi về thần công nội lực, nhưng lại kém thông minh không hiểu lẽ huyền bí của võ công, tên thứ ba là Hoàng Tử Toa Đô tuy thông minh giỏi dắn, võ thuật tinh thông nhưng tánh người bộc bạc, gặp lúc nguy hiểm bỏ thầy, từ bạn.

    Kim Luân Pháp Vương tuổi tác đã cao, võ nghệ siêu quần, ông tự nghĩ phải tìm một côt chất thông minh, lương tâm thuần hậu, để truyền dạy kẻo đến trăm năm sau bị mai một, không người nhắc nhở đến một tuyệt thế võ công. Mỗi lần nghĩ tời là long ông chua xót bàng hoàng.

    Bấy giờ, lại gặp Quách Tường, tuy còn non dại mà tư chất thông minh, lại thêm lương tâm tốt hảo, nên ông hoan hỉ vô cùng. Thực là người hiếm có trên đời. Mặc dù cô bé này là con của kẻ thù, nhưng nó còn non dạ, tâm tánh dễ cải biến, khi truyền hết tuyệt kỹ công phu, phải qua một thời gian rất lâu, dần dần nàng quên mất dĩ vãng đã qua.

    Trong giới võ lâm, đối với việc truyền dạy đệ tử rất quan trọng, vì khó mà tìm được người vừa ý để nối chí sư môn.

    Kim Luân Pháp Vương muốn thâu nhận Quách Tường làm môn đệ, nên ý nghĩ bắt nàng để bức bách Quách Tỉnh không còn nữa.

    Quách Tường thấy đôi mắt long lanh phát ra những tia sáng hiền hậu, nàng vội vàng nhảy xuống ngựa tới phía trước nói:

    - Lão hòa thượng, võ công người cao diệu phi thưởng, mong hãy bỏ qua những việc vừa rồi.

    Kim Luân Pháp Vương cười ha hả nói:

    - Ngươi đã mộ võ thuật của ta, thìh y lạy tôn ta làm thầy, ta sẽ đem hết căn cơ học thuật truyền hết cho người. Ngươi bằng lòng không?

    Quách Tường nói nhanh:

    - úy! Không đặng đâu? ta học hết võ thuật của Hòa thượng bắt ta làm ni cô đâu được?

    Kim Luân Pháp Vương cười xòa nói

    - Ngươi theo ta học võ thuật là một lẽ, còn việc làm ni cô ai bắt buộc bao giờ? Ngươi đã điểm mười ba đại huyệt, ta tự hóa giải hết, ngươi lấy đá dằn lên mình ta, ta cũng vùng dậy, mấy phiến đá văng mất Ngươi lén ta cưỡi ngựa đi trốn, lại gặp ta nằm ngủ giữa đường, vậy công phu của ta ngươi đáng kinh mộ không?

    Quách Tường công nhận nàng kính mộ võ thuật rất công phu của Pháp Vương, nhưng lão hòa thượng này là người ác, ton kẻ ác làm thầy sao? Vả lại, chính nàng đang nôn nóng muốn gặp Dương Qua, nàng lắc đầu:

    - Lão hòa thượng võ nghệ cao cường thật! Nhưng tôi không dám lạy người ác làm thầy!

    Kim Luân Pháp Vương tưởng đâu cô bé rõ thành tích của lão nên vội hỏi:

    - Ngươi nói ta là người ác! Ta ác chỗ nào?

    Quách Tường nói giọng hờn giận:

    - Ông bảo ông không ác? Vậy chớ ai đã giết chết hai người bạn của tôi là Trường Tu Quy và Đại Đầu Quỷ. Họ không oán cừu mà ông nhẫn thâm như thế ư ?

    Pháp Vương vỡ lẽ cười xòa nói:

    - Cô nương nói sai rồi! Chính ta ra tay bênh cô nương. Hơn nữa cũng tại hai người này ra tay trước, chính cô nương thấy rõ chứ? Nếu ta không có bản lãnh thì đã chết nát thây dưới tay chúng nói rồi, ta đã là hòa thượng ắt lấy việc từ bi làm gốc. Cực chẳng đã mới ra tay, không bao giờ muốn làm hại đến tính mạng người!

    Quách Tường không tin lời nói của lão:

    - Nếu ông là người tốt, tại sao ông chẳng chịu để cho tôi đi, mà cản trở mãi vậy?

    Kim Luân Pháp Vương cười nói:

    - Ngươi lầm rồi! Ngươi đã cưỡi ngựa phi như bay biến, muốn qua Đông thì qua, muốn đến Tây thìđến. Gặp ta nằm ngủ giữa đường, ngươi bỏ chạy sang ngõ khác, ta có cản trở gì ngươi đâu?

    Quách Tường vui vẻ nói:

    - Nếu đúng như vậy thì ông hãy để tôi đi tìm Dương Qua đại ca, mà chẳng nên nhỏ to gì nữa.

    Kim Luân Pháp Vương lắc đầu bảo:

    - Chuyện này không được? Trước nhất ngươi hãy lạy tôn ta làm thầy, rồi ta mới truyền hết cho ngươi hai mươi năm võ nghệ của ta rồi ngươi muốn tìm ai thì tìm, hay muốn đi đâu tùy ý.

    Quách Tường nhăn mặt nói:

    - Lão hòa thượng thiệt không thông lý sự. Tôi không thích lạy tôn người làm sư phụ, mà hòa thượng bảo tôi miễn cưỡng làm như thế nào?

    Kim Luân Pháp Vương nói:

    -Ngươi chính là con bé không thông lý sự! Lạy tôn ta làm thầy mà không chịu còn đòi đi đâu? Bất luận người cúi lạy ta dù bao nhiêu đi nữa, khổ sở khẩn cầu ta cũng không nhận làm đồ đệ. Hôm nay người gặp được ta là cơ hội ngàn năm một thuở, phúc đức của ngươi rất dày mới được ta chú ý như thế!

    Quách Tường nảy ra một kế:

    -Không được, hòa thượng không thể làm minh sư được?
    Lão thắng đứa con gái trên mười tuổi thì chẳng lấy gì làm giỏi! Lão hòa thượng không thắng nổi cha mẹ của tôi, ông ngoại của tôi. Đừng nói người ca cả, một mình Dương Qua đại ca tôi còn sợ hòa thượng còn đánh chẳng lại nữa.

    Kim Luân Pháp Vương nổi cáu, quát:

    -Ai bảo ngươi? Ai bảo ta thắng không nổi tên tiểu tử Dương Qua?

    Quách tường dùng lời khích tướng:

    -Thiên hạ anh hùng ai ai cũng nói thế. Nhân cuộc anh hùng đại yến trong Tương Dương thành, người người đều nói dù cho có ba lão Kim Luân Pháp Vương hiệp lực cũng không thắng nổi chàng cụt tay Dương Qua, tức là Thần Điêu Đại Hiệp!

    Những lời nói này chẳng qua nàng bịa ra để chọc tức Pháp Vương. Nàng thừa hiểu việc anh hùng đại hội chỉ là một dịp để anh hùng hào kiệt tụ họp bàn kế phòng thủ thành trì, chống quân Mông cổ mà thôi. Nhưng Pháp Vương lại cho là nàng thực tình, nên tức bực vô cùng.

    Cũng vì mười năm về trước ông bị Dương Qua đánh bại vẫn còn cừu hận trong lòng, nay nghe Quách Tường nói chư vị anh hùng bảo như thế, làm cho lửa giận bốc lên đỏ cả mặt, ông quát inh ỏi:

    -Tiểu tặc. Dương Qua nếu có mặt tại đây, ta sẽ dùng Long Tượng bang khổ côngÕ cho nó biết sự lợi hại. Ngươi sẽ nhìn tận mắt xem Dương Qua và Kim Luân Pháp Vương xem ai đáng sợ hơn.

    Quách Tường thấy lão trúng kế mình liền nói thêm:

    -Lão hòa thượng biết rõ đại ca Dương Qua không có mặt tại đây mới dám nói thế. Ông muốn đi tìm gã để thử sức không? Ông đã có Xà trượng bang khổ công.

    Kim Luân Pháp Vương hét to:

    -Ta có ÛLong trượng bang khổ công có nghĩa là môn pháp mạnh như rồng bay, voi tiến, chớ không phải rắn bò, heo ọt như ngươi nói!

    Quách Tường mỉm cười:

    -Đ úng vậy, nếu như ông thắng được Dương Qua thì môn pháp này đáng gọi là Long trượng bang khổ côngÕ, nếu ông đánh không lại chẳng hóa ra rắn bò heo ọt hay sao? Ông mà thắng nổi Dương Qua, khỏi cần nói nửa lời, tôi cũng cúi đầu lạy tôn ông làm sư phụ, chỉ sợ ông chẳng dám gặp Dương Qua.

    Kim Luân Pháp Vương tuy là tay thông minh lỗi lại nhưng không ngờ những lời này là kế khích tướng của Quách Tường.

    Cũng vì từ thuở nào đến giờ ông có cái tánh tự tôn tự đại, lại bị bại một lần dưới tay Dương Qua nên chẳng luận ngày đêm, luyện cho thành môn Long trượng bang khổ côngÕ. Khổ sở suốt mười một nam ròng rã , cốt ý là tìm Dương Qua để rửa cái nhục ngày trước.

    Bây giờ lại nghe Quách Tường nói khích, máu nóng sôi trào nhớ lại mọi việc đã qua, ông dằn không được nói to:

    -Ta ngặt một nỗi không biết Dương Qua ở đâu? Ta chẳng gạt ngươi đâu, nếu ngươi biết Dương Qua ở chỗ nào hãy dẫn ta đến đấy. Nếu ta bại, ngươi tự do về, nếu ta đánh thắng ngươi hãy cúi đầu làm lễ bái sư , ngươi chịu không?

    Quách Tường cả mừng nói thêm:

    -Hay qua! Lão hòa thượng đang thổi còi kêu đích, tôi sợ Dương Qua đến thình lĩnh, ông bôi đầu vào chân chạy cũng không thoát.

    Kim Luân Pháp Vương đôi mắt dựng ngược láo liên, tức giận vô cùng. Quách Tường lại nói:

    -Tuy tôi không rõ Dương Qua hiện ở đâu, vì cách đây mấy tháng, tôi nghe Dương đại ca nói sẽ đến một xứ mà chỗ này tôi biết.

    Pháp Vương hỏi nhanh:

    -Gã đến xứ nào vậy?

    Quách Tường nói:

    -ông hỏi chỗ này làm chi? Ông có dám đến gặp Dương Qua không? Hay là ông vừa thấy mặt đạ chạy rồi?

    Kim Luân Pháp Vương nghiến răng, trợn mắt nói;

    -Ngươi nói đi, ngươi chỉ chỗ đi!

    Quách Tường nói:

    -Gã đến Đoạn Trường Cốc, và đang ở tại Đoạn Trường Nhai chờ gặp mặt vợ hiền là Tiểu Long Nữ. Bởi họ có hẹn với nhau trong mùa trăng tròn này. Một tiếng Dương Qua đã làm cho da thịt ông run lên, nếu thêm Tiểu Long Nữ, ý hi, lão hòa thượng ôi, Ngài khổ thân đến Đoạn Trường Nhai để nộp mạng cho chúng sao?

    Mười năm về trước, Kim Luân Pháp Vương chẳng những bại nhục với Dương Qua mà còn chịu nhục khuất phục dưới môn Tố tâm kiếm phápÕ của Tiểu Long Nữ, cho nên ông cố công luyện cho được Long Tượng bang khổ công lấy một mà chống hai, để cự với đôi vợ chồng này.

    Cũng vì tủi nhục này ông mới đến xứ Trung Nguyên. Nay nghe Quách Tường nói như thế, chẳng khác nào đánh mạnh vào vết thương lòng của ông, nên ông cố dằn lòng xuống cười hềnh hệch nói:

    -Vậy thì ngươi hãy đưa ta đến Tuyệt Tình cốc. Nếu ta đánh bại vợ chồng Dương Qua và Tiểu Long Nữ thìngươi sẽ đối xử với ta ra sao?

    Quách Tường cả cười, nói:

    -Giá như ông thiệt có võ công tối diệu, đánh thắng được vợ chồng Dương Qua thì tôi sẽ cúi đầu lạy ông làm thầy. Chừng ấy tôi muốn cầu xin gì chẳ ng được! Vả lại Tuyệt Tình Cốc là nơi âm u hẻo lánh, đường xá khó khăn hiểm trở không dễ gì đến đó được!

    Kim Luân Pháp Vương cả cười nói:

    -Ngươi không lo điều này, ta sẽ đưa ngươi đi đến nơi vì đường sá ta thuộc lòng. Nhưng bây giờ hãy còn sớm lắm, ngươi theo ta về dinh Mông cổ, ta lo liệu một vài câu chuyện rồi đến Tuyệt Tình cốc

    Quách Tường khoan khoái vô cùng, nghĩ thầm:

    - Ta chỉ sợ l o không bằng lòng đến Tuyệt Tình cốc thôi. May lão bằng lòng thì ta còn sợ gì nữa? Mặc dầu lão là đại ác hòa thượng, trời giận, đất hờn, nhưng l o gặp đại ca ta, thì đại ca ta sẽ cho một trận nên thân.

    Nàng không đồng ý theo Kim Luân Pháp Vương quyết tâm thâu nhận Quách Tường làm đệ tử với hy vọng làm rạng rỡ tên tuổi và võ thuật của ông. Vì với một tánh từ thiện ôn hòa, nàng sẽ là một nhơn vật cừ khôi khiệt liệt của thế hệ sau.

    Trong rừng võ thuật, thầy giỏi khó cầu, nhưng lương tài đệ tử cũng khó chọn, ít có người nối trí sư môn. Trò vẫn cầu thầy, thầy vẫn chọn trò. Kim Luân Pháp Vương và Quách tường mải mê trò chuyện. Ông nhận thấy nàng thông minh tuyệt đỉnh tánh ý từ hòa nên ông hết sức hân hoan và khen thầm.

    Bấy giờ tâm tư của Quách Tường chỉ nghĩ đến cái chết thê thảm của Đại Đầu Quỷ và Trường Tu Quỷ nên tỏ lời trách cứ Pháp Vương đã đối xử độc ác với hai người bạn. Do đó Pháp Vương mới đoán được tính tình thâm ân hậu nghĩa của cô bé, khác hắn với Toa Đô hoàng tử là kẻ bạc bẽo vô nghì.

    Lúc Kim Luân Pháp Vương ra khỏi quân doanh, thì Dương Qua lại đây tìm không gặp, mới lên đường vè Tuyệt Tình Cốc, chàng đi như bay biến, còn Pháp Vương với Quách Tường tuy đi trước nhưng rốt cục lại ở phía sau. Ba người chỉ cách nhau độ nửa dặm, nhưng Dương Qua nóng lòng muốn chóng đến Tuyệt Tình Cốc, nên đến trước Kim Luân Pháp Vương và Quách Tường một ngày.

    * *

    Nói về Quách Tỉnh, Hoàng Dung từ khi Quách Tường đột ngột mất tích thì vợ chồng Quách Tỉnh lo lắng mất ca ûăn ngủ, mong ngóng đợi tin.

    Mười ngày sau, những tên đệ tử Khất Bang đi do thám từ 4 phương trở về bẩm báo không rõ tin tức của Quách Tường.

    Vài ngày sau nữa bỗng nhiên Trình Anh và Lục Vô Song đến thành Tương Dương, đem tin tức của Kha Trấn ác truyền về là Quách Tường đang ở trong bản doanh của quân Mông Cổ, làm Quách Tỉnh và Hoàng Dung cả kinh. Đợi đêm đến, Hoàng Dung, Trình Anh và Lục Vô Song ba người lén vào bản doanh Mông Cổ lục soát thám thính, rốt cuộc cũng như Dương Qua không tìm được gì cả.

    Đến đêm thứ ba, Hoàng Dung và Trình, Lục lại vào do thám trong trại, rủi bị bọn dũng sĩ Mông Cổ bắt gặp, nên cả ba rút gươm mở vòng vây làm chết hết 40 tên dõng sĩ Mông Cổ, áo quần ướt đẫm cả máu, họ mới thoát về thành Tương Dương.

    Hoàng Dung lại suy nghĩ, theo sự dò xét của bà thì Quách Tường không thể có ở trong trại quân Mông Cổ, nên đang đêm bà đến phòng Quách Tỉnh để thảo luận.

    Sự việc này nhất định không phải là điềm lành cho Quách Tường. Hoàng Dung quyết định ra khỏi thành để tìm con, Quách Tỉnh ưng chịu.

    Hoàng Dung dắt theo đôi chim điêu để nếu được tin tức gì nhờ nó về phi báo. Trình Anh và Lục Vô Song đi theo hộ vệ . Hoàng Dung thấy hai chị em Trình, Lục hết lòng vói mình, lấy làm vui, cả ba nhắm hướng Tây mà đi, không ghé thám thính doanh trại Mông Cổ nữa.

    Đang đi trên đường, Hoàng Dung nghĩ thầm :

    - Tường nhi lúc ra đi có nói đi tìm Dương Qua để khuyên nhủ. Trước đây nó đã gặp Dương Qua ở bến đò Phong Lăng, không chừng nó đi theo lỗi cũ, vậy ta hãy đến đó trước, may ra tìm ra manh mối của Tường nhi.

    Ba người ra khỏi thành Tương Dương độ năm mươi dặm, khí trời mát mẻ, sắp hết tiết Xuân. Họ đi chầm chậm hầu hỏi thăm tin tức.

    Khi đến bến đò Phong Lăng, vào lúc tháng hai nên tuyết tan, băng chẳng có, ghe thuyền qua lại tấp nập.

    Hoàng Dung và Trình, Lục lẩn quẩn tại bến đò Phong Lăng trên nửa ngày, hỏi thăm chủ đò, chủ ghe, khách điếm, phu xe và bộ hành, cũng không ai thấy tiểu thư nào đi ngang qua đây cả.

    Trình Anh thấy Hoàng Dung lộ vẻ thất vọng nên khuyên rằng :

    - Sư tỉ chớ quá u sầu. Tường nhi mới sinh ra ngày thứ nhất đã bị hai tên cự phách ma đầu là Kim Luân Pháp Vương và Lý Mạc Thu đánh cướp, người thường có nói : Găp đại nạn mà không chết, ắt có phước lớn về sau. Lúc mới sơ sanh đã gặp hung hiểm còn thoát được, huống hồ ngày nay đã lớn khôn, nhắm chẳng hề gì.

    Hoàng Dung thở một hơi dài, chẳng nói gì cả. Ba người liền rời bến Phong Lăng, đi về hướng Bắc dường như người thong thả nhàn du.

    Ngày kế, ba người đi dưới ánh nắng dịu, chầm chậm nhìn xem phong cảnh, ngọn gió Nam ấm áp thổi. Các cành cây lá xanh um, điểm đóa hoa sớm, tỏa ra một mùi hương mát dịu ! Xuân ý vui tươi !

    Trinh Anh kiếm cách giải khuây cho Hoàng Dung, nàng chỉ một cây đào đầy hoa hồng còn búp nói :

    - Sư tỉ ! Đất Bắc mùa xuân đến chậm, nên sư tỉ nhìn xem, chưa có một đóa hoa đào nở. Khác hẳn cảnh sắc nơi Đảo Đào hoa, hoa xuân sớm nở lại sớm tàn.

    Trình Anh miệng nói, tay với bẻ một nhành đào hoa, đưa qua đưa lại trông rất thích thú. Đoạn nàng ngâm nhỏ một câu tình ca :

    - Vấn hoa, hoa bất ngữ, Vị thùy lạc ? Vị thùy khai ? Toán xuân sắc tam phân Bán tùy lưu thủy ? Bán nhập trần ai ?

    Dịch :

    Đào hé nhụy, dập dìu ong Đến khi rơi rụng, hết trông ai nhìn Hỏi chúa hoa, chẳng lời đáp lại, Xuân ba phần, còn mãi hay không ? Hay là nửa cuốn dòng sông ? Nửa rơi trên đất, chập chồng gió sương ?

    Hoàng Dung nghe nàng ngâm nga, vội đưa mắ t nhìn thấy Trình Anh mặt mày trắng đỏ, mi thanh mắt sáng, tuy sắc đẹp còn sắc sảo mặn mà nhưng không che giấu được nét phong trần dày dạn. Đã trên 1 0 năm, mọi cô gái đài các phong lưu, cũng vì tương tư lo nghĩ mà kém đi vẻ thùy mị kín đáo trước kia.

    Giữa lúc đó, bỗng nghe tiếng kêu Ûong ongÕ nổi lên, một con ong mật to bay lượn qua mặt 3 người.

    Cũng vì Trình Anh đang cầm nhánh đào, trên nhánh đào có một đóa hoa vừa hé nở, con ong bất kể sự hiểm nguy đậu nhanh vào đóa hoa này hút mật.

    Hoàng Dung thấy con ong ấy màu xám tro, lại lớn gấp đôi ong rừng, bất giác nhớ lại một việc, đoạn nói :

    - Loại ong này là Ngọc Phong của Tiểu Long nữ nuôi, tại sao lại xuất hiện nơi đây vậy kìa ?

    Lục Vô Song lại nói :

    - Đúng vậy ! Ta hãy nhìn xem chúng bay hướng nào thì chủ nó ở chỗ đó chớ gì?

    Con ong mật đậu trên cành hoa đào của Trình Anh, hút mật một lúc lâu, rồi bay về phía Bắc.

    Ba người lầm lũi đi theo. Con ong quái dị này hễ bay vài phút là phải ngừng lại trên đóa hoa để hút mật. Bay rồi dừng, dừng rồi bay. Thời gian rất lâu, có thêm 2 con ong nữa nhập bọn. Ba người Hoàng Dung liền trổ hết thuật khinh công đuổi theo mãi.

    Khi trời vừa sắp tối, ba con ong mật đưa ngươi đi đến một ngọn núi nọ, phong cảnh rất hữu tình. Muôn hoa đua nở, đỏ, trắng, tím , hồng, tô điểm cho chân núi, như một bức tranh tuyệt mỹ. Giữa sườn non có sáu bảy cây to, đầy tổ ong. Ba con ong đưa đường cũng bay vào nhập đàn.

    Nhìn lên sườn non, thấy một ngôi nhà tranh chia ra ba gian. Một cặp chồn lông trắng đang đứng trước nhà, cặp mắt chúng long lanh nhìn người lạ trong giây phút rồi chạy vào trong nhà.

    Bỗng nghe có tiếng "A" nổi lên, một người xuất hiện. Hoàng Dung nhìn thấy một ông lão đàu tóc bạc phơ, râu dài đến ngực, vẻ mặt còn trẻ, chính là Lão Ngoan đồng Châu- bá- Thông.

    Hoàng Dung mừng rỡ kêu to :

    - Châu lão Ngoan đồng ! Ông có biết ai đến đây không?

    Châu- bá- Thông nhìn thấy Hoàng Dung liền cười ha hả, bước tới nghinh tiếp. Nhưng ông chỉ bước được hai bước, bỗng nhiên mặt đỏ bừng, kêu lên một tiếng "úy" rồi quay người chạy vào một ngôi nhà gần đấy và đóng sầm cánh cửa lại. Hoàng Dung lạlùng trước thái độ của lão, không rõ vì lẽ gìmà Châu- báThông hành động như vậy nên Hoàng Dung đưa tay lên vỗ vào cửa và nói to :

    - Lão Ngoan đồng ! Lão Ngoan đồng ! Làm gì thấy khách xa đến thăm lại vội đóng cửa thế ?

    Hoàng Dung vỗ vào cửa "bình bình" mấy tiếng, Châu- bá- Thông ở trong nói vọng ra :

    - Không mở cửa ! Không mở cửa đâu !

    Hoàng Dung lấy làm lạ nói :

    - Ông không mở cửa, tôi lấy lửa đốt nhà, để cho ông thành con heo quay cho mà xem !

    Bỗng nghe có tiếng cửa gian nhà bên trái mở ra, một người bước ra cười nói :

    - Chốn hoang sơn nào ngờ gặp khách quý ! Lão hòa thượng kính mừng ! Mời quý vị vào trong nhà.

    Hoàng Dung, Trình Anh, Lục Vô Song cả ba quay lại thìthấy Nhất-đăng đại sư đang vòng tay thi lễ, miệng nở một nụ cười nhân hậu

    Hoàng Dung thi lễ xong, cười dài nói :

    - Thật không ngờ đại sư và Lão Ngoan đồng bỗng nhiên đóng cửa từ khách. Xin đại sư cho biết lý do ?

    Nhất-đăng đại sư cau đôi mày bạc, đoạn từ từ nói :

    - Bần đạo biết rõ lý do ! Mời ba vị vào trong nhà dùng với bần đạo chung trà rồi nói chuyện sau.

    Cả ba bước vào trong. Sau khi mọi người đã yên vị, đại sư đem đãi nước trà xanh. Hoàng Dung hỏi thăm sức khỏe của đại sư và thắc mắc mãi câu chuyện của Lão Ngoan đồng.

    Nhất-đăng đại sư mỉm cười nói :

    - Quách phu nhân ! Phu nhân đoán thử xem ai ở gian nhà bên hữu ?

    Hoàng Dung bỗng sực nhớ lúc nãy Châu- bá- Thông đỏ mặt như có gì thẹn thùng lắm, liền hiểu ra :

    - Phải rồi, ta đã hiểu ra mọi việc !

    Nghĩ xong, Hoàng Dung cười xòa và nói :

    - "Hiểu hàn thâm xứ xuân phong bích thảo. Tương đối tục hồng y" Nghĩa là "xứ xa buồn ấm lạnh, gió xuân lướt nhẹ trên cỏ xanh, cái phận quần hồng tương đối thế!" Có phải vậy chăng ?

    Câu "Hiển hàn thâm xứ" là câu thơ của Lưu Quý phi Anh Côngày xưa đã dệt trên chiếc khăn tay tặng cho Châu- bá- Thông.

    Nhất-đăng đại sư bấy giờ lòng lạnh như băng giá, không còn nghĩ đến tình tiết ngày xưa. Tâm trí của ông đã thoát tục từ lâu rồi. Khi nghe Hoàng Dung nói, ông vỗ tay cười ha hảnói :

    - Quách phu nhân đóan việc như thần, ngàn việc không sai một.

    Ông liền đứng dậy đi ra ngoài gọi to :

    - Anh Cô, Anh Cô! Qua đây gặp mặt người bạn nhỏ hồi xưa.

    Chẳ ng bao lâu, bà Anh Cô bưng ra một mâm trà quả để đãi khách. Nhìn trên mâm thấy đủ món ăn ngon, nào là trái cây, bánh mật ong, hột tùng rang, đủ loại hoa quả quý báu.

    Ba người Hoàng Dung vội vã lạy mừng, bà Anh Cô vòng tay đáp lễ. Năm người ngồi quây quần bên nhau trò chuyện vui vẻ.

    Nguyên câu chuyện của Nhất-đăng đại sư , Châu- bá- Thông và bà Anh Cô trên 20 năm về trước, vì ân oán chưa rõ nên cừu hận khó giải. Từ ngày Cừu Thiên Nhận chết đi, ân oán rõ ràng, cừu hận cũng tiêu tan. Do đó ba người cất nhà ở bên nhau, ẩn thân trong Bá Hoa Cốc này nuôi ong, gieo cải, cấy lúa, trồng hoa tiêu dao qua ngày tháng. Những chuyện đã qua họ không còn nhớ đến nữa.
    Nhưng Châu- bá- Thông thấy mặt Hoàng Dung làm ông thẹn đỏ mặt vì hành động của ông, nên ông nhảy vào nhà đóng cửa luôn không dám ra mặt.
    Tuy ông ở trong phòng, nhưng ông cũng lắng tai nghe mọi người nói chuyện. Ông nghe Hoàng Dung kể lúc Anh hùng đại yến ở thành Tương Dương gây ra nhiều việc náo nhiệt, nào là Toa Đô hoàng tử cải trang Hà Sư Ngã lên khán đài đấu võ, đến lúc này ông nghe không rõ, và không thể nhịn nổi, nên xô cửa bước qua phòng Nhất-đăng đại sư và hỏi liền :

    - Toa đô Hoàng tử về sau thế nào ? Hắn có chạy thoát được chăng ?

    Hoàng Dung liền kể rành rẽ cho Lão Ngoan đồng nghe. Đêm ấy Hoàng Dung và Trình, Lục về nghỉ trong phòng bà Anh Cô. Trời vừa sáng, Hoàng Dung bước ra ngoài nhà đã ngó thấy Châu- bá Thông đang cầm một con ong, tay chân múa máy tỏ ra đắc ý vô cùng.

    Hoàng Dung lấy làm lạhỏi :

    - Lão Ngoan đồng có chuyện gì vui vẻ vậy ?

    Châu- bá- Thông cười hì hì nói :

    - Bé Dung ! Bản lãnh của ta càng ngày càng cao cường, ngươi có bội phục không ?

    Hoàng Dung đã rõ "bản lãnh" của ông chỉ có 2 điều mà thôi. Một là đùa giỡn, hai là võ công. Chẳng biết mười năm sau này ông ẩn cư tận chốn sơn lâm cùng cốc này có gì đổi khác mà ông lại khoe khoang như vậy. Ông đã có một môn võ cổ quái gọi là "Phân tâm nhị dụng, song thủ hỗ bác" mà Hoàng Dung lại muốn nhìn qua lối võ mới luyện của ông nên vội nói :

    - Lão Ngoan đồng ! Võ công của ông lúc tôi còn nhỏ đã bội phục lắm rồi, cần gì phải hỏi ? Trong 1 0 năm sau này ông có luyện tập được món võ nào nữa không ?

    Châu- bá- Thông lắc đầu nói :

    - Không, không ! Mấy năm gần đây thằng bé Dương- Qua đã chế luyện được môn "ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng", Lão Ngoan đồng không thể bì kịp. Cho nên từ ấy đến nay câu chuyện võ học ta không đề cập đến nữa. Ta đã thua hắn, ta phục hắ n !

    Hoàng Dung lấy làm lạ nói thầm :

    - Qua nhi hành sự thật kỳ lạ! Nhỏ nhất là tiểu Tường nhi, già nhất là Lão Ngoan đồng, cả hai đều bị nó chế ngự. Không hiểu ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng nó học ở môn phái nào ?

    Hoàng Dung lại hỏi :

    - Ông vừa nói càng già càng cao cường, cao cường như thế nào ?

    Lão Ngoan đồng vươn 2 ngón tay nắm chặt con ong, đưa lên cao vẻ dương dương tự đắc và nói :

    - Đó là việc nuôi ong mật.

    Hoàng Dung lại nói :

    - Ong mật này là do giống Ngọc Phong của Tiểu Long nư õtặng cho ông, chứ có gì quái lạ đâu ?

    Lão Ngoan đồng nói :

    - Bé Dung chỉ nói đúng phần nào ! Tiểu Long nữ có cho ta giống Ngọc Phong, giống ong này mật quý báu thực. Nhưng Lão Ngoan đồng đã ra công bồi dưỡng rất khéo léo. Đến ngày nay nó là một giống ong mật có thiên công, xảo thuật. Thực không có cách nào nói cho hết. Tiểu Long nữ làm sao bì kịp.

    Hoàng Dung cười to và nói :

    - Thực Lão Ngoan đồng càng già càng giỡn ! Hay đánh trống thổi loa, làm vang dậy đất trời, thật ra việc này có gì đâu mà khéo hơn thiên công ?

    Châu- bá- Thông tái mặt nhưng cố cười nói :

    - Bé Dung, để ta hỏi ngươi, có phải con người là tin hoa hơn muôn vật không ? Trên mình người xâm chữv ẽ bông, hoặc hình rồng beo, hoặc xăm lên người chữ "Thiên hạthái bình" - Trừ con người ra, các loại thượng cầm hạ thú, côn trùng dế muỗi, có thể nào tự chúng xăm chữ lên trên mình được không ?

    Hoàng Dung nói :

    - Con cọp có sọc vàng đen, con beo có đốm như hoa đồng tiền, hoa trên cánh bướm, rắn độc có bông hoa, những vằn bông hoa còn đẹp hơ n xăm chữ vẽ hình thập bội.

    Châu- bá- Thông nói :

    - Bé Dung ! Vậy ngươi có thấy con trùng, con dế có xăm chữ và hình không ?

    Hoàng Dung nói :

    - Nếu chúng là vật của trời sanh, thì tôi chưa có dịp ngó thấy.

    Châu- bá- Thông cười nói :

    - Tốt lắm ! Vậy ta sẽ chỉ ngươi xem cho biết.

    Hoàng Dung đưa mắ t theo dõi, thấy Châu- bá- Thông vươn tay ra chộp một con ong thật to, đoạn lấy hai ngón tay kẹp chặt mình con ong để đôi cánh đập nhẹ.

    Hoàng Dung nhìn kỹ thấy cánh ong bên tả đề ba chữ nhỏ như sợi tơ, mỗi chữ lớn hơn hột cải.

    Hoàng Dung nói lẩm bẩm :

    - "Ta tại Tuyệt Tình Cốc đáy" (Tại đáy hang Tuyệt Tình) Bà nghĩ thầm : "Sáu chữnày quyết không phải do tạo hóa sinh ra, mà do bàn tay người xăm trích. Lão Ngoan đồng có tính trẻ con, nhất định là lão cố công tỉ mĩ xăm chữ vào các cánh ong này.

    Suy nghĩ xong Hoàng Dung cả cười nói :

    - Có gì đâu mà gọi là có một không hai, thế gian hi hữu ?

    Chắc hẳn ông và bà Anh Cô dùng kim trích vào đôi cánh sáu chữ, có lý nào qua được sự nhận xét của tôi.

    Châu- bá- Thông tức đỏ mặt nói :

    - Vậy ngươi đi hỏi Anh Cô xem có phải là bà ấy xăm chữ vào cánh ong không ?

    Hoàng Dung cười nói :

    - Ông với bà ấy chỉ có một bụng thì hỏi làm gì?

    Châu- bá- Thông tức bể ngực, mà cãi lý không lại với Hoàng Dung, vì Hoàng Dung miệng lưỡi lắm. Càng cãi, Châu- bá- Thông càng bực tức, nộ khí xông lên.

    Mặt mày ông đỏ như trái đào. Ông vội ném mạnh con ong vào khoảng không, và nắm tay Hoàng Dung lôi đi và nói :

    - Lại đây ! Lại đây ta chỉ ngươi xem tận mắt !

    Ông lôi Hoàng Dung chạy đến sườn núi, ngay một tổ ong cực lớn. Đàn ong bay tấp nập, con vào ổ, con ra ngoài. Châu- bá- Thông vươn tay chộp một con ong, đưa cho Hoàng Dung coi và bảo :

    - Ngươi hãy xem đây !

    Hoàng Dung dương to đôi mắt nhìn không chớp. Rõ ràng trên hai cánh của con ong có xăm 6 chữ rất rõ ràng. Cánh tảxăm "Ta tại Tuyệt" cánh hữu "Tình cốc đáy".

    Hoàng Dung nhủ thầm:

    - Tạo hóa không bao giờ vẽ trên cánh ong. Chắc chắn là do bàn tay con người. Nhưng người nào đã tạo ra, có dụng ý gì?

    Bà quay sang hỏi Lão Ngoan đồng :

    - Lão Ngoan đồng, ông hãy bắt thêm vài con nữa xem.

    Châu- bá- Thông liền bắt thêm 4 con ong nữa, chỉ có 2 con có chữ, còn 2 con không có.

    Châu- bá- Thông thấy Hoàng Dung cúi đầu chẳng nói chẳng rằng, ông đoán là nàng đả phục rồi, nên không dám nhắc tới việc Anh Cô trích vào cánh ong nữa. Ông liền hỏi lớn :

    - Nguơi còn cãi nữa không ? Hôm nay ngươi đã bội phục rồi chứ ?

    Hoàng Dung chẳng đáp chỉ lẩm bẩm :

    - Ta tại Tuyệt Tình Cốc đáy !

    Bỗng nhiên bà tỉnh ngộ như vừa phát giác được chuyện gì, nói lớn :

    - Ta ở đáy Tuyệt Tình Cốc ! Ta là ai chứ ? Không lẽ là Tường nhi ?

    Đoạn Hoàng Dung quay sang hỏi Châu- bá- Thông :

    - Lão Ngoan đồng ! Loại ong này của ông nuôi hay từ đâu bay đến ?

    Châu- bá- Thông ngây người nói :

    - Ta cũng lấy làm lạ không rõ chúng từ đâu lại

    Hoàng Dung nói :

    - Tại sao không biết ? Giống ong lạ này chỉ bay đến đây vài ngày mới rồi sao ?

    Châu- bá- Thông cãi :

    - Không đúng như thế. Loại ong mật này không biết từ đâu bay lại, cách mấy năm rồi. Lúc đầu ta không để ý, sau ta quan sát kỹ mới thấy chuyện lạ này.

    Hoàng Dung trầm ngâm nói :

    - Có thật là đã mấy năm rồi không ?

    Châu- bá- Thông cười ha hả đáp :

    - Chẳng lẽ ta đặt chuyện gạt ngươi sao ?

    Hoàng Dung không tìm ra câu giải đáp, nên đứng dậy đi vào nhà. Nàng đem 6 chữ trên cánh ong để hỏi ý Nhất-đăng đại sư , Trình Anh và Lục Vô Song.

    Hoàng Dung vì gấp tìm con, nên hối Trình, Lục sửa soạn từ giã mọi người để đến Tuyệt Tình Cốc thăm dò tin tức.

    Nhất-đăng đại sư thấy mấy nàng bàn tán, liền nói :

    - Bần tăng ở đây vô sự, nếu tiện bần tăng sẽ cùng đi, may ra giúp đỡ quý vị phần nào để tìm lệnh ái!

    Hoàng Dung cả mừng cúi đầu bái tạ. Bà có một ý nghĩ vẩn vơ :

    - Có lẽ đại sư liệu chắc Tường nhi lâm đại nạn, chứ không lý nào ông chịu rời thảo am an lạc này mà đi đâu.

    Châu- bá- Thông có tính vui đùa, thích cảnh náo nhiệt, lẽ nào ông lại chịu ngồi nhà. Anh Cô cũng tháp tùng với 5 nguời này.

    Hoàng Dung thấy lòng thư thái cực độ. Trong sáu người này, đấu trí đấu lực, quyết chẳ ng thua ai. Lại có ba võ lâm tiền bối tương trợ thì Quách Tường có sa vào hang hùm nọc rắn cũng không đến nỗi nào.

    Sáu người và một điêu nhắm hướng Bắc mà đi tới.

    * * *

    Nói về Dương- Qua nhớ lại kỳ hẹn ưước 1 6 năm với Tiểu Long nữ, đi bất kể ngày đêm đến Tuyệt Tình Cốc.

    Khi đến đây đúng là ngày mùng hai tháng ba. Theo sự ước hẹn với Tiểu Long nữ mười sáu năm về trước, thì chàng đã đến sớm năm ngày.

    Sau khi vợ chồng Công Tôn Chỉ chết rồi, phong cảnh nơi hang Tuyệt Tình đìu hiu, vắng vẻ. Nhóm đệ tử lục y chỉ sửa lại vài ngôi nhà còn lại để ở, hàng ngày lo việc trồng trọt, không còn chú tâm đến võ học, trong vòng 1 6 năm nay, cứ cách vài năm Dương- Qua lại ghé đến đây một lần để nghỉ vài ngày, và cũng để tưởng tượng đến việc Nam Hải Thần Ni đại phát từ bi mang Tiểu Long nữvề Đại Trí đảo.

    Tuy mỗi lần đến Tuyệt Tình Cốc cách khoảng vài năm, nhưng mỗi lần đến là mỗi lần thấy cỏ mọc hoang sơ, núi rừng rậm rạp thêm, chứng tỏ không một bóng người bén mảng đến đây. Chàng lại đến Đoạn Trường Nhai, tìm gặp vách đá có khắc đôi hàng chữ của người đã mất tích để lại :

    Dương Qua lẩm nhẩm đọc : " Tiểu Long nữ gửi lại Dương lang quân, vài hàng trân trọng, hãy nhớ ngày hội ngộ". Mỗi lần đọc là mỗi lần chàng xúc động bùi ngùi.

    Dương- Qua đến đây đã một ngày, lòng như ngây như dại vì hàng chữ quái ác. Tối đến, chàng kết dây buộc vào hai cây đại thọ gần đấy mà nghỉ tạm.

    Sáng hôm sau, chàng cất bước đi du ngoạn. Đấy là chỗ chàng với Trình, Lục ba người đốn bỏ các cây Tình hoa. Tuyệt nhiên chúng không còn mọc nữa. Chàng nhớ đóa hoa đào mà chàng đã đặt tên là Long Nữ Hoa, làm cho chàng chua xót bồi hồi. Chàng đưa tay ngắt một đóa hoa Long nữ, đem đặt ngay lên vách đá Đoạn Trường Nhai

    Chàng đã khổ sở suốt năm ngày. Hôm nay đúng là ngày mồng bảy tháng ba, là kỳ hẹn của chàng và Tiểu Long nữ. Đã hai ngày qua chàng bỏ ăn bỏ ngủ, ngày ngày không rời khỏi Đoạn Trường Nhai nửa bước.

    Ngày ước hẹn đã đến, từ sáng tinh sương đến trưa, từ trưa đến tối, mỗi làn gió thổi rung động lá rừng, mỗi đóa hoa rơi là mỗi lần làm cho chàng giật mình tưởng như Tiểu Long nữ đến. Chàng rảo mắt nhìn bốn hướng cũng không thấy hình bóng của nàng.

    Ráng chiều báo hiệu màn đêm sắp đến. Dương- Qua liên tưởng đến câu nói của Hoàng Dược Sư , nào là "Nam Hải Thần Ni" hay "Đại trí Đảo", đều là do Hoàng Dung bịa ra để gạt mình. Nhưung nét chữcòn sờ sở, rõ ràng bút tích của Tiểu Long nữ. Ngẫm lời Hoàng Dung, cũng có thể tin được, nhưng tại sao Tiểu Long nữ không đến hội ngộ ?

    Mặt trời đã khuất núi. Dương- Qua không có một tài lực nào để có thể kềm hãm được thời gian.

    Màn đêm đã bao phủ ! Dương- Qua kêu lên một tiếng "a" thảng thốt và cấp tốc chạy lên đỉnh đồi.

    Chàng đứng yên như pho tượng, từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy bốn bề vắng vẻ, rừng núi âm u. Chàng cảm thấy khí lạnh thấu xương của màn đêm muốn bức người. Trong âm u ghe ârợn, chàng đứng yên một lúc lâu.

    Vầng trăng lưỡi liềm đã lên khỏi hướng Đông, độ 1 0 con sào./ Đã hết giờ Tý rồi mà Tiểu Long nữ vẫn không thấy đến. Dương- Qua đứng im như pho tượng đá không kể đến sương sa, tuyết lạnh. Cho đến lúc trời rựng sáng, ánh thái dương chớm mọc từ hướng Đông. Bốn bên triền núi, tiếng gà gáy và chim chóc ríu rít vang trời. Huơng hoa thỏang lên mùi thơ m nồng nàn bát ngát, lòng Dương- Qua bấy giờ lạnh như tuyết băng. Không một tiếng động nào có thể làm cho chàng để ý. Chàng nói một mình :

    - Ta thật là ngốc ! Nàng đã chết rồi ! Mười sáu năm về trước, nàng đả trúng độc rất nặng, nên nàng mới bày kế để cho ta phục dược mà sống một kiếp sống thừa. Nàng đã vì ta mà tự vận ! Ôi ! Nàng đã dối gạt ta trong mười sáu năm trời ! Ngốc non Dương- Qua ! Mi dại khờ chi lắm vậy ? Nàng đã yêu mi đến cùng cực mà đến hôm nay mi mới biết được tâm ý của nàng.

    Dương- Qua cảm thấy thể xác chàng như người sắp chết, da thịt rung động khắp mình, chỉ vì một ngày một đêm chàng không ăn uống, môi lưỡi khô khan.

    Chàng liền chạy xuống một dòng suối nhỏ toan vốc nước uống, nhưng khi cúi đầu xuống dòng nước bạc, chàng nhận thấy rõ gương mặt mình in trên nước, mái tóc đã bạc trắng.

    Chàng quên rằng, hiện nay chàng đã trên 36 tuổi rồi, dù cho sức lực có cường tráng mà suy nghĩ quá nhiều thì đầu vẫn bạc.

    Đưa tay vuốt lên mái tóc, chàng thấy mặt nhuốm đầy bụi, gương mặt tiều tụy khiến cho chàng không còn tự nhận ra mình nữa. Nép trán lại nhăn ba làn rõ rệt.

    Bấy giờ Dương- Qua có cảm tưởng như mình đã trải qua một cơn ác mộng.

    Thời niên thiếu mau như bóng câu qua cửa sổ, làm cho chàng sực nhớ lại vần thờ trong bài Sở Từ, liền cất tiếng ngâm nhỏ :

    Thập niên sinh tử, lưỡng mang mang Bất tư lượng, tự nan Vương ! Thiên lý cô phần, vô xứ thoạt thế cương Trúng xứ tương phùng trong bất thức ! Trần mãn diện phát như sương.

    Dịch :

    Đường sinh tử nẻo chia hai, Mịt mờ không biết ngắn dài là bao Không nghĩ đến sự khổ đau Mười năm rồi chịu gian lao mất kỳ. Nấm mồ hoang cỏ phủ dày Ngàn dặm hiểm trở, ai người đến đây Thắ p nén hương, tỏ lời khấn nguyện Hỡi hồn thiêng ! Bớt nỗi thê lương. Muốn gặp nhau, bặt tin nhạn cá Để mặt rám nắng, tóc như sương Ai ơi ! Cõi đời như giấc mộng huỳnh lương

    Bốn câu thơ tựa rút trong bài "Sở Từ" đắc ý nhất của Tô Đông Pha. Cuộc đời của Dương- Qua chỉ chuyên về võ học, không đọc sách nhiều. Mấy năm trước, chàng đã tình cờ đọc được vần thơ này nên đọc thuộc lòng mà không biết tác giả là ai

    Chàng nghĩ : Trong 1 0 năm, ta đi giữa con đường sinh tử mịt mờ, ta với Tiểu Long nữ đã ước hẹn sau 1 6 năm, có lẽ giờ này nàng nằm dưới nấm mồ hoang, hương tan ngọc nát, nhưng ta không rõ hài cốt của nàng mai táng tại đâu.

    Rồi chàng lại nhớ đến đoạn kết của câu thơ mà tác giả đã nằm mộng thấy người vợ hiện ra:

    Dạ lai, u mộng hoàn hương, Tiểu thiên song, chính thực nữ Tương đối vô ngôn bất ngữ Duy hữu lệ thiên hàng ! Liệu đắc niên trường đoạn xứ Minh nguyệt dạ, đoản Tòng Cung.

    Dịch :

    Đêm nằm mộng, thấy về quê Nhìn qua bóng sổ, thấy nàng đứng trông! Gặp nhau không nói nên lời Chỉ đôi dòng lệ thay lời tình chung Ai ngờ gặp cảnh đoạn trường Năm dài tháng ngắn nghĩa tình đoạn ly

    Dương- Qua nhẩm đến đây nghe lòng rúng động, nhủ thầm :

    - Chính là ta ! Chính là ta ! Ba ngày ba đêm không ngủ được cũng như giấc mộng "Đoạn tình" này.

    Dương- Qua liền đứng dậy chạy đến Đoạn Trường Nhai xem lại hàng chữTiểu Long nữ đã khắc 1 6 năm về trước.

    Nét chữ còn rõ ràng "Mười sáu năm sau, gặp nhau tại đây. Vợ chồng nghĩa nặng, xin đừng lỗi hẹn"

    Chàng kêu lên :

    - Tiểu Long nữ! Chính tay nàng khắc chữ này, và cũng chính nàng đã lỗi hẹn ! Nàng đã lỗi hẹn !

    Lúc bấy giờ Dương- Qua công lực đã thâm hậu đến bực cao đẳng thượng thừa, mỗi lần kêu to lên làm cho voi quỳ hổ rống nên những lời vừa phát ra đã làm vang dội cả núi rừng.

    Dương- Qua lòng như lửa đốt, ngồi đứng không yên, nghĩ rằng :

    - Tiểu Long nữ chết mười sáu năm về trước mà nàng để ta sống một mình làm chi trong mười sáu năm dài vô vị ?

    Chàng đưa mắt xuống phía dưới Đoạn Trường Nhai, hang sâu thăm thẳm, đi quanh năm suốt tháng không xuống tới đáy. Chính năm nào chàng đã liệng nửa bầu Tuyệt Tình đơn vào đó, chàng đã có những ý nghĩ bi quan.

    Chàng cúi mặt xuống hang, cất tiếng hú lên vang dội, làm cho hoa lá xung quanh miệng hang đua nhau rơi lả tả.

    Dương- Qua nói nhỏ :

    - Mấy năm trước đột nhiên nàng mất tích, không rõ nàng đã đi về hướng nào ? Ta đã đi cùng sườn non, góc núi mà không thấy tăm tích, ngày nay cơ sự đã xảy ra, chắc chắn là nàng đã rớt xuống vực sâu muôn trượng, và chôn vùi thi thể suốt mười sáu năm trường. Tại sao ta không tìm nàng ?

    Dương- Qua đôi mắt ràn rụa, nhìn qua màn lệ. Chàng thấy hình như có bóng Tiểu Long nữ lướt qua, tà áo trắng phất phơ, và lại nghe một tiếng nói vô hình từ hang sâu vọng lên, như là tiếng nói của Tiểu Long nữ:

    - Dương lang ! Dương lang ! Chàng chớ âu sầu ! Chớ thương tâm !

    Dương- Qua dụi mắt và nghiêng mình nhảy xuống hang sâu muôn trượng.

    * * *

    Nói về Kim Luân Pháp Vương dắt Quách Tường đến Tuyệt Tình Cốc. Pháp Vương là một bậc quái khách đương thời, lòng dạ ác độc như rắn rít, nhưng ông lại có dụng tâm thu Quách Tường làm đệ tử chính môn để sau này nối chí cho ông. Bởi vậy trên đường đi đến hang Tuyệt Tình Cốc ông chăm sóc, lo lắng cho Quách Tường như một đứa con gái thân yêu.

    Quách Tường giận ông giết chết Đại Đầu Quỷ và Trường Tu Quỷ nên gương mặt luôn lạnh lùng buồn bã .

    Cuộc đời của Kim Luân Pháp Vương luôn được mọi người sùng ngưỡng và kính trọng. Tại Tây Tạng, ông giữ chức Quốc sư cho Hoàng đế Mông Cổ. Chính hoàng đệ Hốt Tất Liệt cũng không dám vo âlễ với ông nửa lời. Nhưng con bé Quách Tường nói chuyện với ông dùng những lời lạnh lùng nhạt nhẽo, và dám chêvõ nghệ của ông chẳng bằng Dương- Qua, lại còn trách ông giết người một cách hàm hồ.

    Đứng vào địa vị quyền uy bao trùm thiên hạ, đây là lần thứ nhất Kim Luân Pháp Vương, vị quốc sư Mông Cổ phải chịu cảnh dở khóc dở cười, vì phải dằn lòng chiều chuộng người đệ tử tương lai.

    Khi hai người đi đến giữa Tuyệt Tình Cốc bỗng nghe tiếng người kêu to :

    - Chính nàng đã lỗi hẹn !

    Trong lời nói này hàm chứa một sự thương đau tuyệt vọng của kẻ lụy vì tình

  5. #85
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 100 CÁC TAY CAO THỦ HỢP NHƯ MÂY


    Quách Tường nghe bốn phía vách núi đều vang rền tiếng nói : "Nàng đã lỗi hẹn, nàng chẳng nhớ lời hẹn ưước", làm cho nàng kinh hãi nói :

    - Chính là tiếng của đại ca ta ! Hãy đến tìm mau. Vừa dứt lời, nàng chạy như bay biến vào trong cốc. Kim Luân Pháp Vương thấy kẻ thù trước mặt, lòng ông lo lắng, với tay ra sau lưng lấy cây Ngũ luân đồng chùy ra cầm sẵn.

    Bấy giờ tuy Kim Luân Pháp Vương đã luyện Long Tượng Bang Nhược Công được 11 chiêu tầng, nhưng đã mười sáu năm qua, không lẽ Dương- Qua và Tiểu Long nữ buông trôi ngày tháng, chẳng luyện được môn pháp nào ?

    Nghĩ như vậy, ông không dám khinh thường, phải lo thủ thế trước. Quách Tường chạy gấp đến Đoạn Trường Nhai, bất chấp mọi hiểm nguy. Khi đến nơi thấy địa thế rất hiểm nghèo, nàng không dám liều mình nhảy qua gành đá, chỉ đứng từ đấy nhìn qua, thấy bông đào đỏ ối bị tiếng hú làm rơi lảtả. Còn Dương- Qua đứng trầm tư mặc tưởng trên gành đá cao. Quách Tường vội kêu thảng thốt :

    - Dương đại ca ! Có tôi đến đây !

    Dương- Qua trong lúc lòng rối như tơ vò không còn nghĩ đến gì nữa ! Chàng lắng hết tâm hồn trong cõi hư vô nên không nghe thấy tiếng kêu của Quách Tường.

    Quách Tường đưa mắt nhìn ra xa, thấy cử chỉ của Dương- Qua rất lạ lùng vội kêu to :

    - Tôi còn một cây trâm gửi đến đại ca ! Hãy nghe lời tôi nói, đừng nên tự vận, đừng nên !

    Một mặt kêu lớn, một mặt nàng chạy như bay biến lên gành đá cheo leo, không còn sợ gì hiểm nguy nữa.

    Quách Tường chạy lên chưa hết nửa đoạn đường, bỗng thấy Dương- Qua nhảy lên cao và rơi xuống như một hòn đá chìm vào hang sâu muôn trượng.

    Quách Tường thấy Dương- Qua rơi xuống hang, thấy kinh chân đứng không vững, lảo đảo té xuống.

    Kim Luân Pháp Vương đi cách nàng chừng độ 20 bước. Thấy Quách Tường sắp té, Pháp Vương vội tung mình lên trước để cứu. Thân pháp của ông nhanh như tên bắn, nếu trễ một bước là Quách Tường rơi xuống, làm cho ông chẳng kịp suy tính, vội đưa tay quày thế "Đảo quải kim câu" nghiêng mình tới trước, chộp ngay vào vai Quách Tường.

    Chiêu thế này rất nguy hiểm, chỉ sơ hở một tí thì chính ông cũng bị Quách Tường lôi tuột xuống hang sâu rồi.

    Chỉ nghe một tiếng "rẹt", cả cái tay áo của nàng từ trên vai trở xuống, rách đứt ra. Thân thể Quách Tường đảo tròn như một chiếc lá rời khỏi gành đá trên 10 trượng.

    Miệng hang sương khí xông lên như sa mù dày mịt, không thể nào nhìn thấy đáy. Ông cố vận nhỡn quang nhìn xuống nhưng cũng không thấy tăm hơi Quách Tường đâu nữa.

    Kim Luân Pháp Vương thở dài thê thảm. Đây là lần đầu tiên ông rớm lệ thương đau. Hai tay ông nâng mảnh áo rách, đôi mắt nhìn xuống hang sâu hàng giờ vẫn không nhúc nhích.

    Bỗng nghe tiếng quát phía sau lưng :

    - Hòa thượng hổ mang, ngươi ở đây sao ?

    Pháp Vương giật mình quay lại, nhìn thấy bọn này gồm sáu người. Dứng trước là một người đầu tóc bạc phơ song mặt mũi vẫn còn trẻ, chính là Lão Ngoan đồng Châu- bá- Thông, phía sau ông này còn có ba thiếu nữ chính là Hoàng Dung, Trình Anh và Lục Vô Song. Sau nữa là một lão hòa thượng, râu tóc trắng như bông, mi dài quá mắt, ấy là Nhất-đăng đại sư . Đi sau cùng là một lão bà mặc y phục đen, là bà Anh Cô.

    Pháp Vương chỉ nhận biết được 4 người, còn Nhất-đăng đại sư và Anh Cô chưa có dịp gặp mặt.

    Ông biết rõ Châu- bá- Thông, một tay võ thuật siêu việt, nổi danh khắp xứ, còn Hoàng Dung, con gái của Đông Tà, sở trường môn Đả Cẩu, lại là cựu Bang chủ Khất Cái, cơ mưu biến hóa khôn lường. Hai nhân vật này cũng đủ làm cho ông ngao ngán rồi, huống chi ngoài hai người đó còn có thêm mấy người nữa, người nào dung mạo cũng đặc biệt.

    Pháp Vương vừa rúng động vì cái chết thê thảm của Quách Tường, nên không coi sự nguy hiểm này vào đâu. Ông điềm nhiên trả lời :

    - Quách Tường tiểu cô nương đã rơi xuống hang sâu muôn trượng ! Ôi ! Chắc là tan xác !

    Mọi người nghe qua thất vía kinh hồn. Hoàng Dung có cảm giác đất lở, trời long.

    Bà gắng gượng hỏi :

    - Có thật vậy chăng ?

    Pháp Vương buồn bã nói :

    - Ta dối gạt ngưoi làm gì? Đây chẳng phải là tay áo của nó sao ?

    Vừa nói ông vừa rút tay áo Quách Tường đưa ra.

    Hoàng Dung nhìn thấy, rõ ràng là tay áo của con bà, bà có cảm tưởng như rơi vào một hầm tuyết giá, toàn thân run lạnh, nghẹn ngào chẳng nói ra lời.

    Châu- bá- Thông cả giận hét lớn :

    - ác tăng ! Ngươi đã giết hại tiểu cô nương ! Dã tâm của ngươi ai lại không rõ ?

    Kim Luân Pháp Vương ức quá cãi to :

    - Không ! Không ! Chẳng bao giờ ta hại nó !

    Châu- bá- Thông trợn mắt quát :

    - Vô lý ! Khi không mà nó bị rơi xuống hang sâu ? Nếu ngươi chẳng xông nó, thì cũng do ngươi bức nó.

    Pháp Vương lắc đầu quầy quậy, nói :

    - Không bao giờ có việc này ! Ta cố tâm thâu nó làm đệ tử truyền giáo cho nó, thì ta chẳng bao giờ làm chuyện gì hại đến sinh mạng nó. ức cho ta lắm.

    Châu- bá- Thông phun ra một bãi nước bọt và hét to :

    - Ngụy biện ! Láo toét ! Nó là cháu ngoại của Hoàng lão tà, con của Quách đại hiệp và Hoàng Dung bang chủ Khất Cái, chỉ một người trong ba người này cũng đủ xé xác ngươi ra thì việc gì nó phải lạy tôn ngươi làm thầy để ngươi truyền cho nó chén bể, áo rách của ngươi ? Như ta là Lão Ngoan đồng có vài thế võ mèo quào, cũng không nao núng trước cặp chùy đồng của ngươi đâu. Ta sẽ bẻ gãy nó ra từng mảnh vụn.

    Pháp Vương vốn sợ Châu- bá- Thông nên chẳng dám phản ứng, và cũng không dám nói lời nào, chỉ kịp đưa đôi tay hộ pháp ra thủ thế.

    Vừa đúng lúc Châu- bá- Thông đưa ra thế võ kỳ lạ đánh tới tấp, Pháp Vương nhảy lùi ra sau cố tránh. Châu- bá- Thông thấy Pháp Vương có vẻ sợ sệt, lão rất tự đắc, cất tiếng sang sảng bảo to :

    - Có phải nó không chịu lạy tôn ngươi làm thầy mà ngươi lại muốn thâu nó làm đồ đệ không ? Phải vậy không ?

    Pháp Vương gật đầu đồng ý. Châu- bá- Thông nói tiếp :

    - Như vậy là đúng rồi ! Con bé nó cãi lời ngươi nên ngươi tức giận mà xô nó xuống hang sâu.

    Kim Luân Pháp Vương tình ngay lý gian, chỉ biết thở dài và nói :

    - Ta chẳng bao giờ hành động như vậy. Khi không nó tự vận, lão tăng chẳng rõ vì sao ?

    Hoàng Dung cho là Pháp Vương ngụy biện, nói những lời vô lý, nên bà tức giận đưa cây gậy trúc ra tấn công.

    Bà sử dụng chữ Phong, cây gậy trúc bay vù vù hướng vào Pháp Vương phong tỏa, chỉ còn cách lão này một bước.

    Tuy môn Đả Cẩu bổng của Khất Cái bang là một chiêu võ truyền thống trải qua mấy thế kỷ, nhưng Hoàng Dung đã tìm cách chế hóa những chiêu thế đỏan trường là một thế tuyệt luân võ học.

    Châu- bá- Thông cũng đưa ra môn võ tuyệt diệu đánh vào Pháp Vương. Mặc dầu đứng trên gành đá cheo leo, nhất cử nhất động đều nguy hiểm nhưng Kim Luân Pháp Vương nghĩ mình là giáo chủ một phái võ, không thể cử Ngũ Luân đồng trùy đánh với những kẻ tay không. Ông vội ném cặp trùy Ngũ Luân xuống đất, đoạn đưa ra song chưởng chống trả đôí phương, khí thế rất hùng hậu.

    Hoàng Dung vội vã lui lại, dồn chưởng lực vào cây gậy trúc bỗng đánh ngay vào hậu tâm của Pháp Vương. Châu- bá- Thông vội thối lui và đưa ra một chiêu thế nữa.

    Kim Luân Pháp Vương đã luyện xong 11 chiêu tầng của Long Tượng Ban Nhược công, đó là dịp may để ông có thể đem ra sử dụng với các tay cao thủ. Chưởng phong như muôn hòn núi nặng, khí thế lạ kỳ.

    Kim Luân Pháp Vương đã rõ Không Minh chưởng của Châu- bá- Thông rất lợi hại. Nhưng ông tin tưởng chắc chắn là Long Tượng Ban Nhược công của mình sẽ phá đuợc Không Minh chưởng. Không ngờ Không Minh chưởng pháp của Châu- bá- Thông biến ảo lạ thường, Long Tượng Ban Nhược công không cự được chiêu đầu.

    Kim Luân Pháp Vương vội đưa lên năm thành lực khiến cho chưởng phong phát ra như gió lốc thét gào.

    Châu- bá- Thông cảm thấy chưởng lực của mình tiêu tan, ông vội thối lui, môn Đả Cẩu bổng của Hoàng Dung cũng bị áp đảo.

    Pháp Vương liền đưa thêm mấy chiêu nữa. Ông đem hết tuyệt học ra sử dụng.

    Bỗng ông nghe sau lưng có ngọn gió nổi lên, sắp điểm huyệt Linh Đài chỉ còn cách độ ba bốn tấc, lập tức quay ngược chưởng phong lại.

    "Bình bình", chưởng phong đánh gãy cây gậy của Hoàng Dung. Chỉ thấy chưởng lực làm lá đổ ào ào, bụi bay đầy đất.

    Hoàng Dung thất kinh hồn vía, nhảy lùi ra sau bảy tám trượng không rõ quái hòa thượng đã dùng môn pháp gì mà đánh gãy được cây gậy của mình. Không ngờ ngày nay lão đ luyện đuợc môn võ tối đẳng thượng thừa, và không rõ đó là môn pháp gì. Hoàng Dung bàng hòang ngơ ngác.

    Trình Anh và Lục Vo âSong thấy thế vội vã kẻ cầm ngọc tiêu người xách trường kiếm, tả xung hữu đột công kích Pháp Vương.

    Hoàng Dung sợ hãi hô to :

    - Hai người hãy đề phòng !

    Tiếng nói chưa dứt, bỗng nghe "bình bình" hai tiếng, chưởng lực đánh gãy ngọc tiêu và kiếm thép rớt xuống đất.

    Pháp Vương thấy Quách Tường đã mất, lòng không an vội hét to :

    - Hãy tránh ra xa... dang ra !

    Nói xong ông vội thu hồi hai chưởng mà không tấn công nữa. Đột nhiên một bóng đen bay nhanh xuống trước mặt ông. Bóng đen này là bà Anh Cô, bà này vừa đến trước mặt Pháp Vương đã vội tung ra song chưởng đánh tới tấp. Pháp Vương vội vã cử chưởng ra chống đỡ, và đẩy một chiêu cực mạnh vào bụng bà Anh Cô.

    Tuy bà Anh Cô không thắng nổi Hoàng Dung về võ thuật khinh công, song bà có một thế võ độc đáo mà bà đã khổ luyện trên 10 năm tại ao bùn, gọi là Nê thu công.

    Khi thấy chưởng phong của địch ào tới, bà cảm thấy sức mạnh khôn tả, với chiêu Nê thu công mềm mại mà bà cũng chỉ có thể chống nổi mấy chiêu đầu. Kế đó Pháp Vương đưa ra một loạt mấy chưởng cực kỳ khủng khiếp. Hai người như bóng với hình. Bà Anh Cô không dám chống trả mà chỉ nhảy lùi né tránh. Bà đã đem hết sức bình sinh, nhưng thân mình bà xiêu vẹo như sắp ngã .

    Châu- bá- Thông thấy vậy nhảy đến trước và ho âto :

    - Đừng chạy đâu cả!

    Kim Luân Pháp Vương muốn thâu hồi thế chưởng, bỗng nghe có tiếng "tinh tinh" nổi lên, một luồng lãnh khí như tuyết đổ mạnh, đánh ập vào mặt. Đó chính là ngón Nhất dương chỉ của Nhất-đăng đại sư đưa ra cản lại chưởng phong và thuận đà đẩy vào mặt Pháp Vương. Kim Luân Pháp Vương không để ý tới lão tăng mi dài, vì ông tưởng lầm lão này chỉ là một cụ già bạc nhược. Khi đã thấy nội lực của đối phương, ông cũng phải cúi đầu thán phục.

    Bây giờ chưởng phong của Nhất-đăng đại sư đưa ra ấm như lò lửa giữa mùa đông, mát như nước suối cam vào mùa hạ.

    Tuy Nhất dương chỉ phong độ rất thuần hòa, nhưng kiên cố hơn tường đồng vách sắt, làm bế tắc các luồng chưởng Long tượng.

    Kim Luân Pháp Vương cả kinh thối lui vài bước, quan sát lại chiêu thế của đối phương. Một đằng là Cao tăng ở Nam Chiếu, một đằng là dị sĩ ở Tây Vực, hai đàng đưa chiêu chống trả lẫn nhau, họ đều biết hai bên khí thế tương đồng và không dám khinh thường đối thủ nữa.

    Châu- bá- Thông đã rõ sức lực của mình không thể đem phụ họa với hai đối thủ này được, nên vội nhảy ra ngoài vòng chiến để quan sát.

    Nhất-đăng đại sư và Pháp Vương chỉ còn cách nhau vài bước, kẻ đưa một chưởng, người tung một chỉ. Họ càng đánh càng hăng và dần dần lùi ra xa trên 3 trượng. Càng dang ra xa họ càng sử dụng chiêu số càng quyết liệt. Mỗi người đều đem hết bình sinh sở học của mình ra để thủ thắng nhưng khí thế vẫn tương đồng.

    Nhất-đ ăng đại sư râu tóc trắng phau, bay tua tủa như muôn ánh tuyết hoa, sức già càng đánh càng hăng.

    Pháp Vương liệu thế đánh không lại, sức lực càng lúc càng sút kém dần. Ông nổi giận gia tăng thêm nội lực, tấn công đối phương.

    Chỉ nghe hai làn âm thanh nổ "ìầm", "lách cách", khiến Pháp Vương càng lúc càng bối rối. Đang lúc vô kế khả thì thi bỗng Pháp Vương nghe tiếng hú veo véo. Ông ta vội quay đầu lại nhìn thấy con bạch điêu, tựa như mũi tên lao xuống đầu ông rất nhanh.

    Nếu gặp phải Thần Điêu của Dương- Qua thì Pháp Vương không thể nào tránh khỏi, hiềm vì bạch điêu này chỉ là một loài chim thường. Tuy có sức mạnh nhưng không thể nào truy kích đối phương nổi. Hơn nữa đối phương lại là một dị sĩ Tây Tạng.

    Mặc dù đang giao chiến với Nhất-đăng đại sư nhưng Pháp Vương không bao giờ quên lưu ý đến ngoại cảnh. Khi thấy con bạch điêu lao mạnh như mũi tên xuống đầu, ông vội đưa ra một chưởng thần tốc đánh mạnh vào đôi bạch điêu. Đôi bạch điêu chịu thế chưởng này không nổi nên bay vọt lên không trung. Trong lúc đang phân tâm đánh với cặp điêu, thì Nhất-đăng đại sư đã chiếm được thượng phong, làm cho Pháp Vương kinh hãi, thôi thúc chưởng lực bao quanh mình như vách sắt tường đồng.

    Cặp bạch điêu trống mái này đã được Hoàng Dung nuôi dạy từ thủa nhỏ, nên rất khôn ngoan. Bên ngoài Hoàng Dung không ngớt thôi thúc bằng tiếng huýt gió, cốt ý là Pháp Vương phân tán tinh thần.

    Cặp điêu bay lượn xuống, nhưng không dám tấn công trước mặt Pháp Vương mà chỉ đáp nhanh bên tả và sau lưng thôi.

    Hoàng Dung tuy buồn cho con nhưng không lúc nào bỏ ý nghĩ lung lạc ý chí chiến đấu của đối phương. Khi bà thấy Nhất-đăng đại sư càng đánh càng có vẻ yếu thế thì vội bước tới mấy bước gọi to :

    - Quách Tỉnh, Dương- Qua, mau lại đây để vây bắt nó !

    Kỳ thật là không có ai đến cả, mà bà chỉ dụng tâm hô hoảng lên để làm Pháp Vương sợ hãi mà thôi. Vả lại, bà rất kính thờ chồng, chẳng khi nào dám gọi tên họ mà chỉ gọi là "Tỉnh ca ca" mà thôi. Nhưng lúc này nếu gọi "Tỉnh ca ca" thì Kim Luân Pháp Vương sẽ không biết Tỉnh ca ca là ai, thì làm sao lung lạc được tinh thần Pháp Vương.

    Đúng như dự đoán của bà, khi Pháp Vương nghe nhắc đến tên Quách Tỉnh và Dương- Qua, mặt lão biến sắc nhủ thầm :

    - Hai tên hảo thủ này đều lại đây thì mạng sống của ta chắc hi hữu rồi.! Bấy giờ Nhất-đăng đại sư liền bước tới hai bước. Con bạch điêu trống từ trên cao đáp xuống mặt Pháp Vương, vuơn đôi móng vuốt bén như dao toan móc mắt Pháp Vương. Thấy con bạch điêu làm dữ, Kim Luân Pháp Vương cả giận quát to :

    - Nghiệt súc, muốn nát thây ư ?

    Và ông đưa ra một chưởng mãnh liệt đánh vào bạch điêu Thực không ngờ con bạch điêu trống này cũng biết cơ xảo. Lần tấn công vừa rồi là bạch điêu chỉ dọa đối phương chứ không tấn công thật. Khi chưởng phong vừa đưa ra thì nó đã bay vọt lên không. Còn điêu mái thừa lúc Pháp Vương đánh con trống, nó lao nhanh xuống đầu và dùng đôi vuốt nhọn hoắt bấu chặt cái ngù mão của Pháp Vương giật mạnh bay lên. Pháp Vương điếng người và tức muốn bể ngực. Ông liền tung ra một chưởng thật mạnh. Bình bình hai tiếng, chỉ thấy một mớ lông điêu bay tứ tán, con chim điêu mái đã cắp được cái ngù mão bay lên cao. Pháp Vương uất ức tung ra một chưng nữa ngay mình con điêu mái.

    Con điêu mái cố bay lên cao, không ngờ trúng phải một chưng nữa làm cho nó vô phương tránh né, toàn thân đảo lộn, từ trên cao rơi xuống như một hòn đá rớt xuống hang sâu.

    Hoàng Dung, Trình Anh và Lục Vô Song quá đỗi kinh sợ, đứng im như tượng chẳng nói ra lời.

    Châu- bá- Thông tức giận hét lớn :

    - Lão Ngoan đồng bây giờ bất chấp luật lệ giang hồ, không cần nghĩ đến một đấu với hai nữa ! Bỏ cả khí phách giang hồ ! Bỏ cả.

    Nói xong ông liền đưa ra một chưởng đánh vào lưng Kim Luân Pháp Vương.

    Con điêu trống thấy con điêu mái rớt xuống hang sâu, liền cất tiếng kêu dài thê thảm, và đâm đầu xuống hang. Thời gian rất lâu chẳng thấy nó bay lên nữa.

    Hoàng Dung, Trình Anh, Lục Vô Song, Anh Côvà Nhất Đăng xúm lại bao phủ Pháp Vương.

    Dù Pháp Vương võ công có ảo diệu đến đâu nhưng tự xét cũng khó mà chống trả với hai tay tiền bối cao thủ, nên vội đổi ra thế đánh khác. Tay trái ông thò vào bọc lấy ra hai chiếc vòng bằng bạc khua lên leng keng, tay hữu vung ra một chưởng chống trả lại.

    Ông ta liệu thế khó có thể cầm cự lâu, nên vừa đánh vừa lùi dần về phía chân núi.

    Châu- bá- Thông hò hét đuổi theo, Pháp Vương cũng quyết chí chạy trốn. Vì nếu không sơm rời khỏi nơi đây ắt phải bỏ thây !

    Pháp Vương liếc mắt trông phía ngoài thấy trước mặt là một khu rừng dày mịt, ông vừa bước nhanh hai bước về phía ấy bỗng nghe tiếng lách cách nổi lên, một viên đá nhỏ từ trong mật lâm bắn ra. Từ khu mật lâm đến chỗ Kim Luân Pháp Vương cách xa hai, ba trăm bước, không rõ do bàn tay bí mật nào mà có thần lực kinh khiếp đến vậy. Hòn đá nhỏ như viên sỏi mà phát ra thanh âm kêu o o, đánh mạnh vào mặt Pháp Vương. Ông vội đưa cao chiếc vòng bạc lên đỡ gạt phăng hòn đá rơi xuống đất nát tan tành thành năm sáu mảnh vụn nhỏ văng tứ tung. Tuy hòn đá nhỏ bé không thể gây thương tích nhưng văng trúng mặt Pháp Vương đau đớn vô cùng.

    Ông kinh sợ, nói thầm:

    - Hòn đá nhỏ này từ khu mật lâm bắn ra cốt ý đánh vào người của ta. Theo nội lực kinh hồn này quyết không phải của Lão Ngoan đồng hay của lão hòa thượng mà của một cao thủ nào sắp xuất hiện đây ?

    Ông đứng ngây ra nhìn vào khu rừng, thì thấy trong rừng bước ra một ông lão mặc bào xanh, mặt mày tươi nhuận, tà áo phất phơ theo dáng đi rất nhẹ nhàng chẳng khác kẻ xuất trần thóat tục.

    Châu- bá- Thông cả mừng kêu to :

    - Hoàng lão tà ! Hòa thượng này hại chết cháu ngoại của lão đấy, hãy tiếp sức với ta mà cầm giữ nó.

    Ông già mặc bào xanh chính là Hoàng dược Sư . Từ lúc ông chia tay với Dương Qua liền đi về hướng Bắc. Ngày nọ ông đi đến một thôn hẻo lánh xa xôi, vào ngồi trong một quán nhỏ, trò chuyện với vài kẻ nông phu, bỗng thấy trên nền trời xuất hiện cặp Bạch điêu, ông biết rõ đôi điêu này cháu ngoại ông là Quách Tường và Quách Phù thường hay cưỡi đi du ngoạn, nên ông bỏ cuộc trò chuyện theo dõi hai con bạch điêu tới tận Tuyệt Tình Cốc.

    Ông chưa muốn ra mặt gặp con gái nên chỉ đứng từ xa quan sát cục diện, cho đến khi thấy Nhất Đăng và Châu- bá- Thông đánh không lại địch thủ, ông cũng nhìn nhận võ thuật của Kim Luân Pháp Vương thuộc hàng thượng đẳng, lấy làm mừng rỡ vô cùng vì suốt mười năm trời mới tìm được một địch thủ vừa sức. Cho nên, ông vội đưa ra một đàn chỉ thần công ném ra một viên đá cản đường Kim Luân Pháp Vương.

    Kim Luân Pháp Vương nghe lời Châu- bá- Thông hò hét liền cất tiếng như hổ gầm nói :

    - Ngươi là Hoàng dược Sư Đông Tà ?

    Hoàng dược Sư gật gù nói :

    - Chính lão. Chẳng hay đại sư có gì chỉ giáo ?

    Pháp Vương nói :

    - Không ! Lúc ta còn ở Tây Vực có nghe tiếng đồn ở Trung Nguyên có Ngũ lão anh hùng là Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái và Trung Thần Thông. Hôm nay gặp mặt quả thật danh bất h truyền. Tiếc là ta không được gặp ba người kia.

    Hoàng dược Sư cả cười nói :

    - Trung Thần Thông, Bắc Cái và Tây Độc cả ba đều tạ thế đã lâu ! Vị cao tăng đây là Nam Đế, còn Châu huynh đây là sư đệ của Trung Thần Thông.

    Châu- bá- Thông nói :

    - Nếu sư huynh ta còn tại thế, chưa chắc ngươi chống nổi mười chiêu đâu.

    Kim Luân Pháp Vương nhìn thấy Hoàng dược Sư đứng bên hữu, Châu- báThông đứng bên tảvà Nhất Đăng đứng trước mặt vây ông vào giữa, bất giác Pháp Vương thở dài nói :

    - Đơn thân, độc đấu, ai lại chẳng sợ ! Lão tăng xin chịu !

    Châu- bá- Thông gắt gỏng nói :

    - Không đúng ! Hôm nay chẳng phải ngày luận kiếm Hoa Sơn để tranh đệ nhất anh hùng, thì không thể đem chuyện đơn thân độc đấu hay mã thượng anh hùng ra nói được. Ngươi đã tạo nhiều việc ác, tự nhiên đều còn trách cứ ai ?

    Kim Luân Pháp Vương nói :

    - Đất Trung nguyên có ngũ lão anh hùng, hôm nay ta gặp được hai là điều hân hạnh, dù phải chết về tay ba vị cũng không đáng tiếc. Nhưng ta chỉ tiếc là môn võ Long Tượng Bang Nhược công bị mai một không nối chí đến phải thất truyền.

    Nói đến đây ông liền vận hết mười thành công lực vào đôi tay, đưa lên đánh ngay đầu mình tự vận.

    Châu- bá- Thông vốn chuộng võ như cơm nước, nên khi nghe đến năm chữ Long Tượng Bang Nhược công thì lấy làm thích thú, vội vã đưa ra một chưởng nh núi đổ, đánh bạt chưởng lực của Pháp Vương phá vỡ ý nghĩ tự sát và nói to :
    - Hãy chậm lại !
    Pháp Vương vội nói :
    - Lão tăng không muốn mang nhục nên tự sát, ngươi cản trở làm chi ?

    Châu- bá- Thông cả cười nói :

    - Ngươi sợ môn Long Tượng Bang Nhược công thất truyền, chi bằng hãy truyền lại cho ta rồi tự vận cũng chưa muộn.

    Pháp Vương chưa kịp đáp, đã thấy từ dưới hang sâu con Điêu trống tha con điêu mái bay lên. Cả hai lông cánh đều ướt, nước rơi lả tả chứng tỏ dưới hang sâu có hồ nước.

    Con điêu trống đặt con điêu mái trên mặt đất, đoạn chuyển mình bay xuống hang. Một lúc lâu sau nó bay lên, trên lưng chở theo một người, nhìn ra lại là Quách Tường.

    Hoàng Dung vui buồn lẫn lộn, cất tiếng kêu to :

    - Tường nhi ! Tường nhi !

    Đoạn bà chạy đến đỡ con gái từ trên lưng điêu xuống.

    Pháp Vương thấy Quách Tường tự nhiên không xảy ra việc gì nên đứng nhìn ngây ngất.

    Châu- bá- Thông đưa tay nắm chặt tay Pháp Vương rồi đưa mắt ra hiệu cho Nhất Đăng và Hoàng dược Sư .

    Cả hai hội ý, cùng đưa ra một chưởng đánh tạt vào ngực và bụng Kim Luân Pháp V ương/

    Tuy nhiên, không phải là họ đánh thật, vì nếu đánh thật thì Pháp Vương đã tan xác.

    Đông Tà, Nam Đế chỉ đưa ra một chưởng lực làm phong bế các huyệt đạo của Kim Luân Pháp Vương mà thôi.

    Với hai môn võ thuật ảo diệu nhất đời là Nhất Dương Chỉ và Đàn Chỉ Thần công, thì Kim Luân Pháp Vương làm sao chống trảnổi.

    Châu- bá- Thông điểm thêm vào mu bàn tay Pháp Vương huyệt Chí Dương nữa. Nhưng Pháp Vương chỉ kêu lên một tiếng ối chà rồi hai chân xếp tròn lại, ngồi trên mặt đất, như nhà sư đang tĩnh tọa vậy.

    Nhất Đăng nhìn Hoàng dược Sư và Châu- bá- Thông tỏ ý lạ lùng. Cả ba đều nghĩ :

    - Hòa thượng này thực là tay phi thường. Gặp ba cao thủ điểm vào các yếu huyệt mà còn ngồi tự nhiên không ngã , nghĩ cùng lạ.

    Ba người liền đi đến bên Quách Tường tìm lời hỏi thăm và an ủi. Quách Tường cất tiếng nói :

    - Mẹ ! Nó ở dưới đáy ! Chàng ở dưới đáy... làm sao cứu lên ... làm sao cứu người.

    Quách Tường chỉ nói mấy câu rồi mặt mày xám ngắt, toàn thân run bần bật.

    Nhất Đăng liền đưa tay điểm mạch và huyệt an thần của nàng, đoạn nói :

    - Con bé bị tình thần dao động nên lời nói bất thường !

    Đoạn ông đưa ra hai ngón tay điểm vào các kinh phái mạch huyệt đạo. Được một lúc tinh thần của Quách Tường phấn chấn trở lại, nàng nói :

    - Đại ca đã lên chưa ?

    Hoàng Dung vội nói :

    - Dương Qua ở dưới đáy hang ư ?

    Quách Tường gật đầu đáp nhỏ:

    - Đúng như vậy !

    Nàng vừa nói xong nghĩ thầm :

    - Nếu chàng chẳng chịu lên đây, thì ta xuống lần nữa để cứu cho được.

    Hoàng Dung nhìn thấy con gái, mặt mày nhợt nhạt, quần áo ướt loi ngoi, liền hỏi :

    - Dưới đáy hang có ao đầm hay sao ?

    Quách Tường gật đầu không đáp. Nàng ngồi ngay ngắn nhắm mắt để ôn lại mọi việc đã xảy ra. Hoàng Dung hỏi :

    - Nếu Dương Qua còn ở dưới đáy hang thì gọi chim Điêu xuống rước nó lên.

    Nói xong bà liền đưa tay lên miệng huýt sáo gọi chim Điêu. Nhưng bà kêu bốn năm lần mà không thấy chim Điêu bay đến

    Hoàng Dung lấy làm lạvì suốt mười năm qua không khi nào cặp Điêu này chẳng tuân theo mạng lệnh, thế mà bữa nay nó không tuân hành !

    Bà đã gọi mấy lần mà bạch điêu vẫn tỏ ra không nghe thấy gì cả. Bà lại cất tiếng hú lên một hơi dài, con bạch điêu trống cất tiếng kêu oang oác ảo não lạ thường.

    Hoàng Dung buột miệng than :

    - Chết rồi !

    Bà cất tiếng gọi to :

    - Điêu nhi !

    Con bạch điêu trống dường như không nghe nữa ! Nó đâm đầu xuống gành đá trước mặt, va vào phiến đá to bể sọ, đôi cánh gãy vụn.

    Mọi ngưòi nhìn thấy cả kinh vội vã chạy đến xem, thấy kế bên thân thể nát bầm của con điêu trống, con điêu mái nằm chết lạnh tự thủa nào. Mọi người thấy loài cầm thú mà tiết tháo thi chung như vậy, bất giác thở dài.

    Hoàng Dung đã bầu bạn với đôi bạch điêu từ thủa nhỏ, tình thương yêu làm bà nhỏ sa đôi dòng lệ.

    Lục Vô Song nghe văng vẳng bên tai, tựa hồ lời sư phụ Lý Mạc Thu lúc còn sống vẫn ngân nga mấy câu thơ tuyệt vọng :

    Vấn thế gian tình thị hà vật ? Trực giao sanh tử tương hứa Thiên Nam địa Bắc song phi khách? Lão tráng kỷ hồi hàn thử cách ?

    Hoan lạc thú ly biệt khổ Tự trung cánh hữu si nữ nhi ! Quán ưng hữu ngữ, liêu vạn lý tầng vân, Thiên Sơn mộ tuyệt, chính ảnh hưởng thùy qui!

    Dịch :

    Hỏi người dưói thế tình là vật chi ? Hẹn nhau sinh tử cùng đi Ai ngờ Nam, Bắc phân ly não nùng Nỗi ấm lạnh... sức già chùng buớc Hạnh phúc đâu mà chuốc biệt ly Tựa trung là kẻ tình si ! Nam nhi tuyệt vọng, nữ nhi tuyệt tình ! Chàng có nói : Lộ trình muôn dặm ! Em hãy chờ, áo gấm hoàn hương ! Nhưng mà, núi tuyết trời sương ! Tấm thân cô quạnh biết đường nào đi ? Cho hay những kẻ tình si Chung quy kết cục cũng đi từ trần !

    Lục Vo âSong lúc nhỏ theo Lý Mạc Thu học võ, trưa sớm thường nghe sư phụ ca khúc hát này.

    Hôm nay chính mắt nàng trông thấy cặp chim điêu vì tình mà thảm tử, nàng nhủ thầm:

    - Nếu như bạch điêu trống không chết, ắt nó phải ra đi cách biệt ngàn trùng để chôn lấp mối tình tuyệt vọng !

    Cặp mắt nàng đỏ au, rướm lệ vì thương cảm những việc không đâu. Trình Anh bỗng cất tiếng phá tan sự im lặng :

    - Sư phụ, sư tỉ ! Dương đại ca còn ở dưới đáy hang, theo ý tôi cần cứu lên gấp.

    Hoàng Dung đưa tay lau bức màn lệ, và hỏi Quách Tường :

    - Tường nhi ! Quang cảnh dưới đáy hang thế nào ?

    Quách Tường đã bình phục tinh thần, chậm chạp nói :

    - Khi con nhảy xuống hang thì bị rơi xuống hồ nước sâu thẳm, lòng kinh hãi chưa biết làm sao thì đã bị uống phải vài hớp nước. Rồi không biết làm gì nữa. Khi tỉnh dậy thấy Dương đại ca nắm mớ tóc mai giật mạnh, và đỡ con ngồi dậy.

    Hoàng Dung nói nhanh :

    - Dưới hố phải chăng có loại nham thạch, có chỗ ở chứ ?

    Quách Tường đáp :

    - Dưới hố có rất nhiều cây đại thọ

    Hoàng Dung lại hỏi :

    - Vậy vì sao ngươi lên được khỏi hang ?

    Quách Tường đáp :

    - Sau khi Dương đại ca đỡ con dậy không hỏi han gì đến con cả. Con lấy ra một trâm vàng trao cho đại ca và bảo :

    - Xin đại ca hãy giữ lấy trâm này và bảo trọng thân thể, chẳng nên tìm lấy cái chết.

    Dương đại ca ngó con trân trối mà chẳng nói gì. Trong khoảng khắc, thì con bạch điêu lại hạxuống. Con mừng rỡ bảo Dương đại ca hãy lên trước. Nhưng đại ca chẳng nói chẳng rằng, bồng con liệng lên lưng điêu và đẩy bạch điêu bay lên. Mẹ, mẹ bảo bạch điêu xuống rước Dương đại ca lên !

    Hoàng Dung không dám nói chuyện song điêu đã chết, mà bà cởi áo choàng ngoài phủ lên mình Quách Tường và bảo :

    - Nếu vậy thì Qua nhi không có nguy hiểm gì cho lắm. Chúng ta hãy bện dây xuống hang mà cứu nó lên.

    Mọi người nghe Hoàng Dung nói thế đều gật đầu ưng thuận và xúm lại lột vỏ cây đại thọ kết dây thừng.

    Trừ Pháp Vương bị điểm huyệt và Quách Tường bị khủng hoảng tinh thần, còn bảy người xúm nhau lột da cây kết dây.

    Họ làm từ chiều đến tối bện được một khúc dây dài trăm trượng, nhưng chẳng thấm vào đâu. Họ lại đốt đuốc làm từ đêm suốt sáng không nghỉ ngơi một phút nào cả.

    Sáng hôm sau, Quách Tường cũng phụ lực với mọi người. Trước khi thả dây xuống hang cũng phải biết tin tức gì của Dương Qua. Hoàng dược Sư liền lấy ống tiêu ngọc thổi lên những âm thanh kỳ lạ truyền xuống dưới.

    Tiếng tiêu của ông vang dội đến ngàn dặm đường xa, nhưng từ dưới hang xông lên khói trắng mờ mờ, không có tiếng Dương Qua đáp lại.

    Hoàng Dung cúi đầu nghĩ ngợi. Bà nảy ra một kế, lấy một mảnh ván to, dùng kiếm khắc trên mảnh ván năm chữ Bình yên không, trảlời !Õ Và ném mạnh xuống hang. Thời gian khá lâu, nhưng cũng không có tin tức gì nữa.

    Mọi nguời đưa mắt nhìn nhau như hỏi ý kiến. Trình Anh nói :

    - Hang núi tuy sâu nhưng sợi dây này có thể đưa tới đáy. Quý vị hãy đưa tôi xuống xem trước xem sao.

    Châu- bá- Thông nói to :

    - Ta xuống trước.

    Không đợi mọi người đồng ý, ông đã cầm chặt sợi dây chạy đến bên miệng hang và phóng mình xuống. Trong khoảnh khắc không thấy tăm tích đâu cả.

    Thời gian rất lâu, lại thấy lão kéo dây trèo lên thoăn thoắt như con vượn, râu tóc bám đầu rong rêu, mình mẩy ướt đẩm. L o lắc đầu lia lịa nói :

    - Không thấy gì cả! Không thấy gì cả! Chẳng có Dương Qua.

    Mọi người đưa mắ t nhìn Quách Tường tỏ vẻ nghi ngờ. Quách Tường nói :

    - Dương đại ca rõ ràng còn ở dưói đáy hang, tại sao không thấy ? Dương đại ca đứng ngay bên cây đại thọ ở bờ ao dưới đáy hang.

    Trình Anh chang nói gì, chạy lại miệng hang đu dây xuống. Kế đến là Lục Vô Song cũng xuống theo. Tiếp theo là Hoàng dược Sư , Châu- bá- Thông, Nhất Đăng đại sư và bà Anh Cô lần lượt đu dây xuống hang.

    Mọi nguời muốn tìm Dương Qua để xem cớ sự, và do tính hiếu kỳ họ muốn xem phong cảnh dưới hang ra sao.

    Chỉ còn Hoàng Dung chưa xuống. Bà quay sang Quách Tường bảo :

    - Tường nhi, thân thể của con chưa được bình phục, hãy ngồi đây chờ đợi, đừng lo gì cho mẹ cả. Nếu Dương đại ca ngươi còn ở dưới đáy hang ắt có nhiều người cứu lên, con biết rõ chứ ?

    Quách Tường cảm động, chỉ biết ràn rụa đôi dòng lệ mà chẳng đáp lời. Hoàng Dung đưa mắt nhìn sang chỗ Kim Luân Pháp Vương ngồi, lại nghĩ tất cả huyệt đạo bị phong bế quá một ngày đêm rồi. Vả lại nội lực của lão thâm hậu, không khéo lão hóa giải các huyệt đạo mà trốn thoát.

    Vì nghĩ thế Hoàng Dung chạy đến bên mình lão Pháp Vương điểm ngay vào Linh đài huyệt, Cự khuyết, Thanh Linh Uyên. Điểm xong bà mới đu dây leo xuống hang.

    Hoàng Dung càng xuống sâu càng thấy lạnh. Khi đến đáy hang bà đưa mắ t quan sát thấy Hoàng dược Sư đang đứng trên bờ hồ, dòm quanh quất. Không thấy bóng dáng Dương Qua đâu, chỉ thấy mấy cây đại thọ có trên ba chục ổ ong mật.

    Đàn ong bay tua tủa, con nào cũng to lớn, toàn là giống Ngọc Phong của Tiểu Long nữ nuôi.

    Hoàng Dung sực nhớ điều gì, bỗng quay hỏi Châu- bá- Thông :

    - Châu đại ca, đại ca bắt thử vài con ong xem có con nào có chữ trên cánh không ?

    Châu- bá- Thông vội đưa tay chộp bắt mấy con đưa lên xem và nói :

    - Không có chữ nào cả.

    Hoàng Dung nhìn tứ phía không thấy lối ra vào nào cả, xung quanh vách đá cao vòi vọi trên trăm trượng. Mấy cây đại thọ hình thù rất lạ, không rõ là loại cây gì. Ngước mắt nhìn lên thấy mấy cây thông vút trời, bỗng nghe Châu- bá- Thông nói :

    - Có một con ong có chữ đây này!

    Hoàng Dung bước qua nhìn, thấy đôi cánh con ong này có năm sáu chữ rất rõ : Tôi tại đáy Tuyệt Tình Cốc.

    Trên bờ đầm gồm bảy người, duy có Hoàng Dung rất thạo về thuỷ tính, quen chịu đựng dưới nước.

    Mỗi ngừoi đều bàn định nhảy xuống đầm quan sát. Hoàng dược Sư liền lẫy ra lọ thuốc Củu hoa ngọc lộ hoàn đưa cho mỗi người ngậm một viên phòng ngừa chất độc rắn rít đái vào hồ mà bị nhiễm độc. Hoàng Dung liền nhảy tùm xuống đầm lặn mất.

    Trong đầm nước trong và sâu, không thể nhìn thấy đáy. Hoàng Dung cố lặn nhanh xuống đáy hồ, nhưng xuống càng sâu càng lạnh buốt.

    Bà chỉ thấy rong rêu lờ mờ như rừng già, tựa hồ như một giải băng kết đặc dưới đáy đầm.

    Hoàng Dung cả kinh muốn trồi lên, nhưng tánh quả quyết đã xui bà nhẫn nại và lặn xuống sâu nữ a. Càng xuống sâu sức ép của nước càng nặng làm cho bà ran cả lồng ngực.

    Hoàng Dung đã vận dụng toàn lực mà vẫn không thể lặn xuống đến đáy hồ được, chỉ còn cách trồi lên mặt nước rồi toan tính cách khác.

    Bà từ từ trồi lên mặt nước. Mọi người xem thấy môi miệng Hoàng Dung xám ngắt, tóc tai đã kết thành tuyết trắng, thật là kỳ lạ!

    Trình Anh và Lục Vô Song bẻ một cánh cây để kéo Hoàng Dung lên bờ, đốt lửa sưởi cho ấm.

    Trong lúc đó, Quách Tường thấy mẫu thân và mọi người đu dây xuống đáy hồ, nàng nghĩ thầm :

    - Nếu Dương đại ca không chịu lên, thi có Ngoại tổ và mẫu thân sẽ bắt ép đại ca lên. Không lẽ đại ca tự tử, và không lẽ Tiểu Long nữ tỉ tỉ đã chết ? Dù sao chàng cũng phải chờ đợi để gặp tỉ tỉ chứ ?

    Trong lúc nàng mải mê suy nghĩ, bỗng nghe Pháp Vương la lên :

    - ối da ! ối da !

    Nàng quay lại thấy da thịt ông run lên bần bật, mặt mày xám ngắt, chứng tỏ ông không thể chịu nổi sự đau đớn.

    Quách Tường xì một tiếng và nói :

    - Tại ông làm ông chịu, còn trách cứ ai ! Ai bảo ông hễ hở ra là giết.

    Pháp Vương lại cất tiếng kêu ái daÕ rất thêthảm, đưa mắt nhìn nàng như tỏ lời cầu khẩn van xin.

    Quách Tường tâm địa rất nhân từ, thấy người đau khổ không chịu nổi, nên buột miệng hỏi :

    - Ông đau đớn ra làm sao ? Đau ở chỗ nào ?

    Pháp Vương rên rỉ nói :

    - Lệnh đường đã điểm trước ngực ta huyệt Linh đài và trước bụng ta huyệt Cự Khuyết. Tại sao bà ấy lại không điểm vào bụng và ót ta hai ngôi huyệt đạo trên, làm cho thân ta đau và nhột nhạt nhu muôn ngàn con kiến bò cắn ?

    Quách Tường có học của mẫu thân cách giải huyệt và điểm huyệt. Nàng thừa hiểu Đản trung và Ngọc châm là hai tử huyệt, chỉ điểm vào người thì người sẽ bị thương nặng mà chết, nên nàng nói :

    - Mẹ ta có lòng nhân đức không muốn hại mạng ngươi, ngươi chẳng cám ơn mà còn nói nhiều lời. Tại sao thế ?

    Pháp Vương thản nhiên nói :

    - Nếu lệnh đường điểm huyệt Đàn trung và Ngọc châm, bất quá ta ngồi yên như tượng gỗ, có đâu đau đớn như dường này. Ta là Pháp Vương tu hành nhiều năm, công lực thâm hậu vô cùng dễ gì mà chết mất mạng ?

    Quách Tường không tin :

    - Ông khéo vẽ rắn thêm chân. Mẹ tôi nói Đàn trung và Ngọc châm là hai tử huyệt, bị điểm vào sẽ chết. Ông tự hào là công lực cao thâm, hãy cố dùng nội lực chịu đựng, mà lên ngựa về đi. Hay ông đợi mẫu thân tôi lên rồi hãy nói.

    Pháp Vương hỏi lại :

    - Quách cô nương ! Vậy tôi đợi cô nương ở đoạn đường nào ?

    Quách Tường nói :

    - Tôi nói thực đấy ! Ông đợi tôi làm gì? Ông đã giết hai người bạn thân là Trường Tu Quỷ và Đại Đầu Quỷ, lại giết chết cặp chim điêu của tôi. Tôi đã bỏ qua, ông còn đợi chờ tôi làm gìchứ ?

    Pháp Vương tỏ vẻ khổ sở :

    - Quách co ânương, cô không nghe người ta nói ư ? Hễ giết người thì phải thường mạng. Hôm nay tôi đã giết bạn của cô nương, thì tôi phải để co giết lại tôi chứ. Co ânương hãy vì tình bạn hữu mà báo thù, đồng thời giúp cho tôi chấm dứt nỗi khổ sở này.

    Quách Tường lắc đầu lia lịa nói :

    - Ông bảo tôi giết ông để trả thù ư ? Không khi nào tôi làm vậy được.

    Pháp Vương vội vàng nói :

    - Thôi, thế này cũng được. Co ânương hãy điểm mạnh vào hai huyệt Đản trung và Ngọc châm của tôi. Nếu đợi lệnh đường lên đây, tôi cầu khẩn điểm huyệt thì lệnh đường quyết chẳng để tôi chết sớm. Nhưng cứ để tôi phải đau khổ dây dưa thì cũng tội cho tôi lắm.

    Quách Tường thấy lão hòa thượng này có vẻ thành thật nên nói thầm :

    - Ta cứ điểm nhẹ vào hai tử huyệt của lão xem sao?

    Nghĩ xong nàng lấy tay điểm nhẹ vào Đản trung huyệt và Ngọc châm huyệt.

    Pháp Vương thấy rõ sự từ tâm của nàng, nên ông tỏ ra cảm mến vô cùng và nói :

    - Quách cô nương ! Hãy mạnh tay ! Tôi rất mang ơn.

    Quách Tường v ơn tay ấn mạnh vào các huyệt đạo, đoạn đứng ra quan sát, thấy lão tự nhiên không tỏ chút tổn thương nào, gương mặt đang nhợt nhạt bỗng hóa ra đỏ hồng, rồi trở lại xanh nhợt, thay đổi ba lần.

    Quách Tường lấy làm lạ hỏi :

    - Có cần mạnh tay nữa không ?

    Vừa nói nàng vừa dùng hết toàn lực điểm mạnh vào hai huyệt đạo. Pháp Vương vùng cười lớn và nói : - Tốt lắm đấy, bây giờ ta hết đau nhức rồi ! Ta nói có sai đâu, ngươi nhìn xem ta chết chưa nào ?

    Ông nói xong cười lên một chuỗi dài rùng rợn. Quách Tường cả kinh nói :

    - Vậy ông hãy để tôi điểm lại huyệt Ngọc châm ! Nói xong nàng đưa hai ngón tay ấn mạnh vào Ngọc châm huyệt mà nàng tưởng ông phải té ngã .

    Nhưng Pháp Vương vẫn điềm nhiên nói :

    - Đa tạ! Quách cô nương ! Đa ta ïcô nương giúp đỡ .

    Nói xong ông nhắm mắt dưỡng thần, trong khoảnh khắc mặt mày trở nên tươi tắn. Bỗng nhiên ông đứng dậy như người vô sự và quát to như sấm :

    - Cô nương hãy chạy theo ta !

    Quách Tường cả kinh nói chẳng thành câu :

    - Ngươi, ngươi đã ...

    Pháp Vương dang tay ra, nắm chặt lấy tay Quách Tường và nói :

    - Hãy đi mau ! Ta có một thế võ độc đáo nhất trên đời ! Ta có thể thay đổi cả kinh mạch huyệt đạo. Với công phu như vậy hóa giải các huyệt đạo bị phong bế không được hay sao ?

    Nói xong ông lôi Quách Tường chạy về phía trước. Thật ra việc thay đổi kinh phái huyệt đạo kỳ công này không có gì lạlắ m ! Lão đã dùng theo phương pháp nội công di truyền của dị sĩ Tây tạng, khác với Tây Độc Âu Dương Phong chuyển nghịch các kinh phái bằng phương pháp ngoại lực.

    Quách Tường lúc trước đã điểm trúng hai huyệt Đàn trung và Ngọc châm, nhờ đó mà ông đã hóa giải được các huyệt đạo kia.

    Khi hai đại tử huyệt bị điểm trúng, máu huyết đổ dồn về tim. Nhờ nương theo đó, ông dùng nội lực đẩy ra hóa giải các huyệt đạo khác.

    Vả lại, Hoàng dược Sư và hai người kia điểm các huyệt đạo đã quá một ngày nên hiệu lực đã giảm đi, nhờ đó Kim Luân Pháp Vương mới hóa giải được.

  6. #86
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 101 BINH LỬA DẬY TƯƠNG DƯƠNG


    Kim Luân Pháp Vương dắt Quách Tường chạy ra ngoài mười trượng, đột nhiên phát sanh một độc kế.

    Mắt ông nhìn thấy hai sợi dây thừng cột chặt vào hai cây đại thọ, ông muốn chặt đứt hai sợi dây này để cho mọi người xuống hang lúc nãy kẹt chết hết dưới hang sâu.

    Suy nghĩ xong, ông quay trở lại dùng hết nội lực bứt bỏ hai sợi dây nầy. Quách Tường cả kinh chạy đến bên ông, dùng nội lực đánh vào uyên hạ duyệt của Pháp Vương thực mạnh.

    Pháp Vương vừa thoát được đại nạn, không mảy may đề phòng Quách Tường, nên bị điểm trúng huyệt đạo khá nặng, làm cho toàn thân ông đã bị têbuốt, thân thể mất cả sức lực.

    Quách Tường lại dùng song chưởng đánh mạnh vào lưng ông và quát to:

    -Cũng tại ngươi hết cả! ác hóa thượng! Ngươi chết chẳng oán than!

    Pháp Vương tuy bị trúng huyệt khá nặng, nhưng ông cố vận nội lực hóa giải và giả bộ cười to:

    -Ngươi có bao nhiêu công lực mà dám kình chống ta?

    Quách Tường lúc bấy giờ đã biết kính sợ Pháp Vương. Nàng biết rằng Pháp Vương chưa hóa giải hết huyệt đạo nên nàng cố vận dụng song chưởng, đánh bình, bình vào lưng Pháp Vương. Nàng lại vươn tay điểm vào mười bảy mười tám huyệt đạo, cố ý làm cho ông ta té nhào xuống hang sâu, không thể chuyển vận được kinh phái mà hóa giải cho kịp.

    Nàng lại chạy ra gành đá trước mặt và quay đầu lại nói:

    -Ta không như mẫu thân ta chịu chết ở đây đâu.

    Nói xong nàng băng mình chạy thật xa. Pháp Vương cả kinh, hớp vài luồng chân khí để hóa giải huyệt Uyên dạtÕ, mà không kịp chặt đứt dây thừng, tung mình rượt theo Quách Tường đã chạy xuống gành núi khá xa.

    Địa thế ở Đoạn trường nhai rất cổ quái, cây cối rất kỳ lại mới thấy Quách Tường từ hướng Đông, ông vừa đuổi tới đã thấy nàng qua hướng Tây.

    Thân thể của Pháp Vương to lớn mà đường xá ngoằn ngoèo, ông thở hồng hộc vẫn không đuổi theo kịp Quách Tường. Nàng nhỏ mình nên len theo kẽ lá cành cây thoăn thoắt. Kẻ chạy người đuổi suốt ngày mà Pháp Vương vẫn không theo kịp Quách Tường.

    Ông cả giận tung mình lên không theo môn pháp Bình sa nhạc lạc mà bay lơ lửng cản đầu Quách Tường. Khi hạ xuống bên nàng, ông đưa tay ra chộp mạnh.

    Quách Tường vừa thoát ra khỏi cơn khủng hoảng tinh thần nay vừa định tỉnh đã bị Pháp Vương chộp bắt, làm cho nàng hốt hoảng kêu to:

    -Mẹ ơi ! Mẹ!

    Pháp Vương vội vã đưa tay bụm chặt miệng Quách Tường. Bây giờ lại nghe tiếng của Hoàng Dung từ xa đưa lại:

    -Bé Quách Tường đã đi đâu?

    Pháp Vương lẩm bẩm:

    -Uổng ! Uổng quá ! Ta bỏ lỡ một cơ hội!

    Nói xong ông điểm vào huyệt á khẩu để cho Quách Tường câm lặng, bế xốc nàng lên rồi chạy như gió.

    Thực ra Pháp Vương bỏ mất cơ hội không chôn được bọn Hoàng Dung dưới đáy hang.

    Lục Vô Song bước lên trước, không thấy Quách Tường đâu, nàng dáo dác đi nhìn khắp phía mà không gặp.

    Tuy vậy, nàng không dám đuổi theo, vì đã một lần nguy hiểm, nàng như chim sợ ná, chỉ còn chờ đợi Hoàng Dược Sư và Nhất đăng đại sư lên mới trình bày tự sự.

    Trong phút chốc Hoàng Dược Sư đã lên tới, Lục Vô Song liền thuật câu chuyện Quách Tường bị Kim Luân Pháp Vương dẫn đi.

    Hoàng Dược Sư ở dưới hang quan sát rất tỉ mỉ cũng không tìm ra vết tích của Dương Qua, mọi người đều cho chàng đã gặp họa rồi, nên họ xúm lại bàn luận tính kế hoạch khác.

    Lên đầu là Lục Vô Song, kế đến Trình Anh và bà Anh Cô. Trong lúc mọi người đang tiếp tục lên bờ thì nghe Trình Anh kêu réo om sòm:

    -Bé Quách Tường, bé Quách Tường, ngươi ở đâu?

    Hoàng Dung đ lên tới đất, nhìn thấy Quách Tường và Kim Luân Pháp Vương mất tích, bà liền đưa mắt nhìn Hoàng Dược Sư , Nhất Đăng, Châu Bá Thông, Anh Cô tỏ vẻ khẩn cầu.

    Mọi người hội ý vội vã chia nhau đi lục soát khu Tuyệt Tình cốc, cũng không thấy bóng của hai người đâu cả, chỉ gặp chiếc giầy của Quách Tỉnh để rơi lại.

    Trình Anh cầm chiếc giầy nói: Theo ý của tiểu muội, thì Tường nhi chẳng có sao cả, sư tỉ chớ khá lo sầu. Theo dấu tích này có lẽ Pháp Vương và nó đi về hướng nam. Tường nhi thông minh cố ý làm rơi chiếc giầy để mẫu thân an lòng mà theo dõi. Tôi dám quả quyết nó không có việc gì đến đỗi.

    Hoàng Dung nghĩ lại lời nói Pháp Vương lúc nãy là ông muốn thâu nhận Quách Tường làm đồ đệ truyền y bát, thì đối với số vận Quách Tường không có gì đáng ngại, nên bà bớt đi một phần lo lắng.

    Đoàn người này lên đường xuôi nam. Vừa đi vừa hỏi tin tức, nhưng Pháp Vương và Quách Tường chẳng để lộ tông tích gì hết. Đi được vài ngày, bỗng nghe lời khách qua đường đồn đại: Quân Mông Cổ kéo hai đạo quân từ hướng Bắc đến vây thành Tương Dương thật muôn phần nguy cấp.

    Hoàng Dung hốt hoảng bảo:

    -Quân xâm lăng Mông Cổ vây thành Tương Dương thế rất ngặt ngèo! Chúng ta hãy trở lại cứu thành! Công việc Tường nhi hãy tính sau.

    Hoàng Dược Sư , Châu Bá Thông và Nhất Đăng Đại Sư là những người xuất thế, xa lánh ngoại vật, chuyện đời không còn ràng buộc tới nữa, nhưng đối với việc thành Tương Dương là ải địa đầu của giang san nhà Tống, không lẽ ngồi khoanh tay mà trông cảnh nước non bị giầy xéo, chà đạp dưới gót xâm lăng. Tất cả đều nghe theo lời thỉnh cầu của Hoàng Dung trở lại Tương Dương thành.

    Hoàng Dược Sư , Nhất Đăng và Hoàng Dung đã đem hết diệu thủ khinh công chạy như bay về thành Tương Dương. Chỉ chọn một ngày, họ đã đến ngoài thành.

    Mọi người đứng xa xa nhìn thấy đoàn quân Mông cổ phô trương thanh thế, họ cũng e ngại vô cùng. Hoàng Dung bình tĩnh nói:

    -Địch quân tuy đông, nhưng chúng ta võ phu chí dũng không có gìđáng ngại, chúng ta hãy đến thành, thừa đêm tối sẽ tiến vào thành.

    Bây giờ trong bọn bảy người, ai ai cũng lộ vẻ lo lắng, duy có Châu Bá Thông luôn luôn cười hềnh hệch. Họ rút vào rừng lên lỏi đi về hướng thành Tương Dương, đợi đêm tối hành sự.

    Vào khoảng canh hai Hoàng Dung dẫn đầu, xâm nhập vào doanh trại địch quân.

    Bảy người khinh công đến mức cao diệu, nhưng đoàn quân Mông Cổ trùng trùng điệp điệp, lớp đứng, lớp ngồi, họ chỉ đi được một đoạn đường dài là đồi tuần đoàn Mông Cổ trông thấy. Chúng thổi còi lên báo hiệu. Chiêng trống nổi vang dội trời đất.

    Lập tức có ba trăm đội túc trực kéo ra vây hãm bảy người. Còn lính gác giữ doanh trại không thấy chúng náo loạn hay tỏ vẻ gì lo lắng cả.

    Hoàng Dung cảkinh nói.

    -Quân xâm lăng Mông Cổ lịnh nghiêm minh, hèn chi đánh đâu thắng đấy. Hôm nay chúng bủa vây thành, việc giải vây rất khó thập bội.

    Châu Bá Thông nhanh tay chộp lấy hai thanh trường kiếm vung lên loáng loáng để mở lối tiền phong. Hoàng Dược Sư và Nhất đăng mỗi người đoạt một thanh trường thương đi đoạn hậu, còn bốn người phụ nữ đi đoạn giữa phụ lực mở lối.

    Quân Mông cổ vì sợ tổn thương đến nhơn mã , nên chúng không bắn tên vào nhóm người này. Nếu chúng xạ tên thì Hoàng Dược Sư và Nhất Đăng có ba đầu sáu tay chống trả cũng không nổi. Vả lại môn cung xạ là một môn đặc biệt nhứt của giống nòi Thành Cát Tư Hãn.

    Bảy người càng đánh càng tiến dần. Nhưng trước mắt họ gươi giáo chơm chởm, khí giới như rừng khó mà tiến thêm được.

    Châu Bá Thông, Hoàng Dược Sư liền vung chưởng đánh gãy mấy lớp trường thương. Nhưng lệnh của quân Mông cổ rất nghiêm, tên nầy ngã , tên khác thế, vững chắc như vách đá tường đồng, không một người thối bộ.

    Châu Bá Thông bỗng nhiên cười to bảo:

    -Hoàng lão tà! Chúng ta hãy liều ba cái mạng này để bảo vệ cho bốn con nhãi ranh khỏi nạn, thoát khỏi vòng vây.

    Bà Anh Cô hừm một tiếng to, nói:

    -Người già mà ăn nói hồ đồ hỗn độn Lão Thái bà là ta mà ngươi dám bảo nhãi ranh ư ? Ta thề sẽ chết nơi đây, bảo vệ cho ba cô gái mặt hoa da ngọc.

    Hoàng Dung nghe hai người nói nghĩ thầm:

    - Lão Ngoan Đồng trời chẳng sợ, đất chẳng kiêng, mà hôm nay nói toàn những lời bi quan, thật là một việc đại bất thường! Tình hình thật không kém phần nguy hiểm.

    Trong khi bà đang suy nghĩ thế thì đoàn quân Mông Cổ càng lúc càng đông vây hãm không còn một kẽ hở. Tất cả đều đem hết sức bình sanh ra chống trả.

    Hoàng Dung vừa đánh vừa đưa mắt quan sát, bà ngó thấy phía tây có hai phía doanh trại đen huyền. Bà nhớ lại lúc đi theo Thành cát Tư hãn chinh Tây; hễ doanh trại đen là kho chứa lương thực. Nên bà nảy ra một kế, hướng vào chỗ này đánh mạnh ra. Bà lừa một tên Mông cổ cầm đuốc, giật mạnh và phá vòng vây lần đến doanh trại nầy.

    Hoàng Dung tiến đến gần trại, ném bó đuốc vào nóc trại trữ lương thực. Lửa cháy phừng phừng loang cả doanh trại. Phút chốc, ánh lửa như Trùng Dương cung thu nào!

    Châu Bá Thông khoái trá nhảy múa tưng bừng. Kho lương thực trong phút chốc, ngọn lửa đã cháy ngất trời. Châu bá Thông khóai chí, quăng cây trường kiếm và giật mạnh mấy bó đuốc ném túi bụi. Ông rủi vô ý quăng nhầm yên ngựa làm cho con ngựa này nhẩy lên trên mình con ngựa kia la hí vang trời. Thực là cảnh hỗn loạn.

    Thừa cơ hội, họ cướp được năm con người mã cưỡi lên mình xáp chiến với địch.

    Quách Tỉnh ở trong thành Tương Dương nghe ngoài thành tiếng quân reo dậy đất, lật đật leo lên thành quan sát, nhìn thấy khói bốc ngất trời ngựa hí vang dậy, quân binh Mông cổ hỗn loạn, lật đật điểm hai ngàn binh mã , phái Võ Tu Văn, Võ Đôn Nho đem quân ra ngoài thành tiếp chiến.

    Hai anh em họ võ ra khỏi thành độ chừng nửa dặm, nhìn thấy bẩy người cỡi năm con ngựa. Hoàng Dược Sư đỡ Lục Vô Song nằm ngay lưng ngựa, Nhất Đăng thì đỡ Châu Bá Thông phi ngựa tới gấp.

    Hai anh em họ võ lật đật xua quân bày trận thế, đem cung nỏ xạ vào địch quân, bảo vệ Hoàng Dung từ ngoài thành chạy vào.

    Quách Tỉnh đứng lên thành thấy nhạc phụ và hiền thê, Nhất đăng đại sư và Châu bá thông đều đến đông đủ, lòng mừng rối rít, khiến quân binh mở rộng cửa thành nghinh tiếp.

    Khi đoàn người vào trong thoạt thấy Châu Bá Thông bị trúng phải ba mũi tên sau lưng, tóc bị thiêu trụi còn Lục Vô Song trúng phải một mũi giáo dài ngang bụng. Hai người thương tích quá nặng.

    Hoàng Dung, Trình Anh và Anh Cô tuy bị trúng tên độc, nhưng không trúng vào yếu huyệt.

    Riêng Nhất Đăng và Hoàng Dược Sư không có vết thương nào. Hai ông là người lão thông y dược, khi xem xét vết thương của Lục Vô Song và Châu bá thông, cũng phải cau mày không nói ra lời.

    Châu Bá Thông chua chát nói:

    -Đoàn Hoàng Gia! Hoàng lão tà! Hai ông chẳng nên buồn cho tôi. Lão Ngoan đồng máu nóng tựa dầu sôi khó mà chết sớm được. Xin hai ông hãy để tâm lo lắng giúp đỡ và chữa trị cho được Lục Vô Song đi. Lão Đồng chẳng hệ gì đâu.

    Hoàng Dược Sư nghe Châu Bá Thông nói mỉm cười, coi ông này hy hữu, ngó Nhất Đăng tỏ vẻ cầu xin và kính trọng. Trong cái kính trọng còn pha thêm sợ sệt, e dè.

    Tuy Nhất Đăng xuất gia đầu Phật rất lâu, nhưng mỗi lần đến ông, lão Ngoan Đồng luôn luôn xưng hôlà Đ oàn Hoàng Gia.

    Nhất Đăng và Hoàng Dược Sư thấy lão Ngoan đồng đang bị thương tích hành hạ mà vẫn không mất nụ cười nên hai ông lấy làm cảm động bồi hồi.

    Còn Lục Vô Song thì hôn mê bất tỉnh. Trình Anh ngồi kế bên giường nhìn thấy thương tích quá nặng, bất giác hai dòng lệ rơi lã ch ã.

    Qua ngày thứ hai, mới vừa sáng tinh sương đã nghe ngoài thành tiếng còi thúc quân càng lúc càng dồn dập.

    Quan trấn thủ là Lữ Văn Hoán đốc suất quân mã tăng cường cho bốn cửa thành.

    Quách Tỉnh, Hoàng Dung lên mặt thành xem xét, thấy đoàn quân Mông cổ tràn ngập núi rừng, không đoán được bao nhiêu, từng làn sóng người dồn dập kéo tới bốn cửa thành.

    Quách Tỉnh là tham mưu hành quân của Mông cổ một thời khá lâu, ông biết hết chiến lược công thành của chúng, nên ông ra lệnh phòng bị đầy đủ.

    Địch quân dùng cung tên, hỏa pháo đá nhọn thang mây công thành, đều bị Tống quân loại ra hết.

    Hai bên giao chiến với nhau từ sáng đến chiều. Tống quân dưới sự điều khiển của Quách Tỉnh đã sát hại trên hai ngàn nhơn mã của Mông cổ. Đoàn quân Mông, bị tổn thất quá nặng, nên vội vã lui ra xa đóng doanh trại để bàn mưu lược tấn công nữa.

    Trong thành Tương Dương bây giờ gần hai mươi binh sĩ còn có mười muôn bá tánh trẻ già, người người đều biết, nếu thành bị phá vỡ ắt khó tránh được cái chết thêthảm. Do đó, họ phân từng đoàn, trai tráng thì gươm đao, dao mác ra trận, còn già nua thì khuân đá nấu cơm, giúp những người trai tráng giết giặc giữ thành.

    Trong thành, ngoài thành, tiếng reo hò giết giặc vang dậy cả trời đất. Quách Tỉnh tay cầm trường kiếm, làm đốc tướng chỉ huy binh mã đứng lên mặt thàh. Hoàng Dung đi theo một bên giúp ý kiến.

    Bình minh đã ló dạng, báo hiệu máu sắp đổ. Ngoài thành, đoàn kị binh Mông cổ phi ngựa như bay, trùng trùng điệp điệp.

    Nhìn lại Quách Tỉnh thấy ông như một vị thiên thần, mặt mày nghiêm trang lẫm liệt, binh sĩ và dân chúng đều tỏ vẻ ái mộ vô cùng.

    Quách Tỉnh, Hoàng Dung đứng lên trên thành đốc quân một lượt chẳng lìa nhau.

    Hôm nay bị địch quân áp bức, hai người thề trước binh sĩ một bước chẳng lùi.

    Hoàng Dung nghĩ thầm. Tỉnh ca kết nghĩa vợ chồng trên ba mươi năm dài đăng đẳng, bao nhiêu tâm cơ khí huyết đều do thành Tương Dương nung nấu. Bây giờ hai người hiệp sức chống địch, dầu máu đổ thịt rơi trên mặt thành cũng không tiếc.

    Bà lại quay nhìn Quách Tỉnh thấy râu tóc ông bây giờ đã ngả mầu đen bạc, bất giác bà than:

    -Nếu địch quân vây mãi như vầy, thì mỗi đêm Quách Tỉnh lại bạc trắng một phần râu tóc.

    Hoàng Dung đang nghĩ ngợi miên man, bỗng nghe tiếng reo hò của quân Mông cổ:

    -Vạn tuế! Vạn tuế! Vạn vạn tuế!

    Tiếng reo hò từ xa tiếp đến gần như sóng của đầu gành, sấm rền vang dậy, vì cảmột doàn hai mươi muôn binh đều hô một loạt.

    Lại thấy một cây cờ mao chín tua giơ lên cao. Kế đó là con ngựa ô chùy, yên vàng khớp bạc. Ngồi dưới ngựa là Hoàng Đế Mông cổ. Một cây lọng vàng cực to che phụ cảngười lẫn ngựa.

    Quân Mông cổ thấy nhà vua đến, vội phân đội ngũ rất chỉnh tề tiếp giá, và kịch liệt. Chúng xông vào phía cửa Bắc.

    Mỗi lần Hòang đế ngự giá thân chinh, thì Hoàng đế đi trước kế đó là quốc sư và các tướng theo sau.

    Đó là một dịp để cho binh sĩ trổ tài đánh giặc, chúng hăng say tử chiến.

    Quách Tỉnh đưa hai tay tới trước gọi đám thân binh và đám dân chúng hô to:

    -Hỡi anh em! Hôm nay Hoàng đế Mông cổ xâm lăng đến đây cốt ý xem khí phách của người trai đại tống.

    Ông vận hết nội lực phát ra âm thanh nên tiếng nói, truyền đi thật xa, khiến mỗi người nghe rõ mồn một.

    Binh sĩ trên thành giao chiến hơ n nửa ngày, sức lực đã mệt, nay nghe tiếng hô hào của Quách Tỉnh, làm mọi người hăng chí trở lại.

    Họ quyết liều thân tử chiến Nhìn ra ngoài thành, thấy thi thể của quân Mông cổ nằm chồng chất, càng lúc càng cao. Tốp binh sĩ hậu tập tràn lên như nước vỡ bờ, giầy đạp lên những thân đồng đội, cốt ý tiến về phía trước để công thành.

    Hoàng đế Mông cổ lại truyền cho đám kị binh điều động thêm binh tới truớc để công thành.

    Màn đêm bao phủ, quanh cảnh chiến trường càng thêm ảm đạm thê lương.

    Giữa lúc giao tranh thì trong thành ngoài nội hàng muôn bó đuốc đốt lên sáng rực cả một góc trời.

    Vị sứ quân thủ thành là Lữ văn Hóan nhìn thấy thanh thế của địch mạnh như cuồng phong, thác lũ, không có một sức mạnh nào cản nổi, khiến ông thối chí bi quan cực độ.

    Gương mặt xám ngắt như mẩu đất. Ông bước đến bên Quách Tỉnh nói nhỏ:

    -Quách, Quách đại hiệp! Theo tôi thì không thể nào giữ được thành Tương Dương, vậy chúng ta hãy mở cửa nam mà rút quân.

    Quách Tỉnh cau mày, mặt giận hầm hầm nói như quát:

    -Chớ nên thốt lời như thế! Tương dương còn là chúng ta còn. Tương dương mất là chúng ta phải thác.

    Hoàng Dung biết Lữ Văn Hoán bị khủng hoảng tinh thần e lão hạ lịnh thâu quân thì khốn khổ cho mọi người, làm nản lòng binh sĩ, nên bà rút thanh kiếm đưa ngay trước mặt Lữ Văn Hoán, nói:

    - Nếu ông còn nói thêm một lời thối quân, thì trước nhất tôi chặt ông ra làm ba để ngăn ngừa binh sĩ.

    Lữ Văn Hoán có bốn tên cận vệ bên mình, thấy Hoàng Dung vô lễ với chủ tướng, lật đật bước lên trước mặt bà cản đỡ.

    Hoàng Dung quét mạnh một đá làm cho bốn tên cận vệ xiểng niểng, té lăn xuống dưói thành.

    Quách Tỉnh lại nói :

    - Làm trai giúp nước, là lúc nước nhà điên đảo, chứ mỗi khi thấy giặc là chùn chân, chưa đánh đã đau, đâu xứng đáng là hàng nam tử tu mi ?

    Ông dùng lời khiển trách chủ tướng, và cố ý khích động tinh thần binh sĩ, nên quân sĩ đều hăng hái đổ xôlên mặt thành hết sức chống địch.

    Lại nghe quan xướng ngôn của quân Mông Cổ truyền lịnh :

    - Tất cả quan binh sĩ tốt hãy nghe đây ! Hoàng thượng truyền chỉ, người nào lên được thành trước tiên thì người ấy được phong làm trấn thủ thành này.

    Quân Mông Cổ nghe lời truyền, đua nhau trèo lên vách tường đông như kiến cỏ. Chúng bất kể sống chết, chạy theo những vị cầm cờ đỏ xung phong lên mặt thành.

    Quách Tỉnh thấy thế của giặc dữ, liền rút ngay chiếc cung ra khỏi vai, đặt lên mũi tên răng sói, nhằm ngay tướng tiên phong mà xạ một phát mãnh liệt.

    Mũi tên xuyên qua cổ họng, tên tướng này ngã xuống đất giãy đành đạch. Kế đó ông nhằm ngay tên quan xướng ngôn xạ một phát ngay mặt, làm cho con mắt của viên quan này bắn ra ngoài, té xuống ngựa chết tươi.

    Bao nhiêu ý chí chiến đầu của địch quân bị chùn bước hai nguời tiên phong. Qua mấy phút sau, lại có một đoàn quân cảm tử leo lên thành lần nữa

    Gia Luật Tề tay cầm trường thương, chạy đến bên Quách Tỉnh cúi đầu thưa :

    - Nhạc phụ ! Nhạc mẫu ! Quân Mông Cổ chẳng chịu lùi, vậy nhạc phụ cho phép tiểu tế ra ngoài thành đánh với chúng một trận.

    Quách Tỉnh vui vẻ bảo :

    - Được ! Ngươi hãy lĩnh ba ngàn nhân mã ra thành khai chiến, nhưng nhớ đề phòng cẩn thận.

    Gia Luật Tề liền chạy xuống thành, gióng trống tập binh. Chàng mang theo một ngàn tên Khất Cái và hai ngàn binh ra thành chiến đấu.

    Cửa Bắc thành Tương Dương là một trong các cửa bị tấn công rất ngặt, quân Mông Cổ đang ồ ạt công thành, bỗng thấy cửa thành mở toang, hàng ngàn dũng sĩ trào ra như nước lũ. Đám binh sĩ nhà Tống còn khỏe khắn, lại hăng say, ùa nhau giết vô số địch quân. Đoàn quân Mông Cổ cuốn vó chạy dài. Bỗng nhiên trong doanh trại nổi lên ba tiếng pháo lệnh, hai đạo binh thiết mã ào ra như thác lũ, vây hãm Gia Luật Tề và ba ngàn binh sĩ vào giữa.

    Đoàn quân của Gia Luật Tề cốt cán là một ngàn Khất Cái, mỗi người đều võ nghệ tinh thông, kiêu hùng thiện chiến. Tuy bị vây hãm nhưng họ vẫn không lộ vẻ gì lo sợ, càng đánh càng say.

    Quách Tỉnh, Hoàng Dung và Lữ Văn Hoán ba người đứng trên thành quan sát thế trận, thấy ba ngàn quân của Gia Luật Tề đội ngũ chỉnh tề, tới lui có trật tự, lấy một mà cự với mười, nên ba người cổ võ hoan hô vang dậy. Mỗi cây đuốc, mỗi ngọn đao loang loáng tụa như con rắn khổng lồ, đang vưon mình giao chiến.

    Viện binh Mông Cổ càng lúc càng đến tiếp viện, có trên hai muơi muôn binh thiết kỵ đã bao vây Gia Luật Tề và ba ngàn quân Tống dày kịt.
    Quách Tỉnh thấy Gia Luật Tề dàn binh án ngữ, cản đội quân công thành của Mông Cổ, liền nảy ra một kế, sai hai anh em họ Võ đem hai ngàn tinh binh, phục kích ngay cửa, chỗ quân Mông Cổ tiến quân lên thành, và lén sai người đến truyền lệnh cho Gia Luật Tề đánh rốc về phía trước.
    Trong khoảnh khắc, quân Mông Cổ đã tấn công lên đầu thành đến hơn ngàn tên.

    Lữ Văn Hoán thấy quân địch đã lên đến đầu thành, đang hùng hổ giao chiến với quân Tống, làm cho mặt của Lữ Văn Hoán như gà cắt tiết, tay chân run lập cập.

    Ông cất giọng run run :

    - Quách đại hiệp ! Nếu để như vậy giặc vào thành thì sao ?

    Quách Tỉnh làm ngơ không đáp, chỉ đứng yên như pho tượng gỗ. Lúc ông nhìn thấy trăm ngàn binh lính Mông Cổ đã đầy dẫy trên đầu thành, mới đưa cờ vàng ra phất mạnh ba cái, tức thì từ hang hốc nhô lên vô số binh gia tướng sĩ của anh em họ Võ, kế đó có Chu Tử Liễu cùng Võ Tam Thông xuất lãnh 10 đội quân hợp với binh sĩ của Võ Tu Văn và Võ Đôn Nho bao vây thật chặt cánh quân Mông Cổ.

    Bấy giờ ngòai thành thì quân Tống bị bao vây, trên đầu thành thì năm ngàn quân Mông Cổ bị kẹt.

    Ba cửa thành Đông, Tây, Nam gây ra một trận đánh vô cùng khốc liệt. Những tiếng rú phát ra hãi hùng.

    Hoàng đế Mông Cổ từ trên lưng tuấn mã trên một gò cao chỉ huy quân sĩ công thành.

    Đoàn giáp binh Mông Cổ người chết kẻ bị thương, chỉ còn năm mươi tên máu thấm giáp sắt, tựa hồ như họ mang hồng giáp.

    Hoàng đế Mông Cổ là người Vạn thắng chí tôn, thân thể rất trọng, ông đưa mắt nhìn đám quân nhà đang gục không biết bao nhiêu, khiến cho ông nơm nớp lo sợ và nghĩ:

    "Nghe người ta đồn quân Nam là phường vô dụng, kỳ thật họ không phải nhu nhược, mà anh dũng vô cùng.

    Bấy giờ đêm đã canh ba, vầng trăng non vừa khuất núi, để lại vòm trời một giải ngân hà và muôn ngàn vì sao lấp lánh.

    Trận đại chiến kéo dài từ sáng sớm đến nửa đêm, đôi bên đều tổn hại quá nhiều, kẻ chết, người bị thuơng.

    Tống quân chiếm được phần địa lợi, quân xâm lăng Mông Cổ không vì nhiều người mà háo chiến lâu.

    Bỗng nghe tiếng còi thâu quân, quân Mông Cổ vừa đánh vừa thối lui, thì hai đạo quân hậu tập của Tống triều kéo đến hợp lực với đội tiên phong đuổi quân Mông Cổ về hướng gò cao chỗ hoàng đế đang ở.

    Hoàng đế Mông Cổ thấy khí thế quân Nam quá mạnh, vội hạlệnh bắn đạn vào đoàn quân này, để đạo quân của ông dễ bề rút lui. Hoàng đế Mông Cổ ngồi trên ngựa cao nhìn xuống thấy trong đội hậu tập của Tống quân có một vị trung niên cưỡi ngựa to, tay cầm trường thương tảxung hữu đột, oai phong lẫm liệt như Triệu Tử Long đánh trận Đương Dương, bao nhiêu mũi lang nha tiễn bắn vào người mà không một mũi nào phạm đuợc than thể.

    Hoàng đế Mông Cổ lấy làm lạ, đưa tay vẫn một tên quân già đang đánh trống hỏi :

    - Ngươi có biết tên dũng tướng kia là ai không ?

    Tên lính già đầu bạc hoa râm nói :

    - Khải tấu bệ hạ, người này là Quách Tỉnh ! Ngày trước đức Thái tổ Cao hoàng đế phong cho gã làm Kim đao phò mã , đã từng theo Thái tổ chinh tây, lập nhiều chiến công hiển hách cho nước ta.

    Hoàng đế Mông Cổ kinh ngạc :

    - A ! Chính là gã sao ? Thật là dũng tướng Tống triều, tiếng đồn chẳng sai.

    Những tên dũng tướng thấy nhà vua khen ngợi địch quân, làm giảm oai phong của mình, trong lòng căm tức, miệng hét vang lừng, múa đao vun vút, tiến lên giao chiến với Quách Tỉnh.

    Quách Tỉnh nghe tiếng hét như sấm, tiếp thấy có 4 tên võ tướng người cao vạm vỡ, cưỡi 4 con ngựa thật to, mỗi người cầm mâu dài, giáo nhọn, tiến đến !

    Ông vội thúc ngựa nghênh địch. Bốn tên dũng tướng xông ra một lượt tấn công, đứa thì xà mâu đứa thì đao bén, thương dài, mỗi người cầm một binh khí khác nhau, tấn công Quách Tỉnh tới tấp.

    Quách Tỉnh ung dung chống đỡ được 10 hiệp, bỗng hét to một tiếng như sấm nổ, làm cho hai tên dũng tướng thất kinh té xuống ngựa.

    Còn hai tên cố chống cự với Quách Tỉnh, bị mỗi đứa một mũi tên vào bụng. Nhờ chúng mặc giáp sắt nên khỏi lủng bụng, nhưng sức mạnh nhu thiên thần của Quách Tỉnh chúng không sao chịu nổi, cả hai ôm bụng rơi xuống ngựa.

    Mấy tên thân binh cận tướng của Mông Cổ thấy 4 người võ nghệ tuyệt luân còn phải bại dưới tay Quách Tỉnh, tuy có mặt Hoàng đế, nhưng không có một cận tướng nào dám cậy tài ra đấu với Quách Tỉnh nữa.

    Còn những tên xạ thủ sững sờ quên cả xạ tiễn. Quách Tỉnh liền thúc ngựa tiến lên gò, thấy vô số thương, mâu bỏ trước mặt Hoàng đế. Vì chúng đã hoảng sợ liệng khí giới mà chạy.

    Quách Tỉnh bị các chướng ngại cản đường nên phi ngựa đến bên Hoàng đế không được.

    Bỗng con ngựa của ông hí lên một tiếng vì trúng phải hai mũi tên lút vào bụng, nó lảo đảo ngã quỵ.

    Quách Tỉnh không nao núng, nhảy xuống ngựa nhắm ngay một tên kỵ binh đâm tới một thương. Trong khi bất ý, tên này chẳng biết chống trả làm sao chỉ kịp kêu "ái" một tiếng rồi té xuống ngựa.

    Quách Tỉnh cướp được ngựa, cố giết thêm mười mấy tên cận tướng của Hoàng đế Mông Cổ.

    Hoàng đế Mông Cổ nhìn thấy quân mình rất đông mà không cản trở được Quách Tỉnh, bất giác nhíu mày nói to :

    - Hỡi ba quân tướng sĩ ! Ai giết được Quách Tỉnh sẽ được thưởng mười ngàn lạng vàng, thăng quan ba cấp !

    Nghe tiếng trọng thưởng, đoàn thân binh Mông Cổ đổ xô đến như bầy ong vỡ tổ.

    Quách Tỉnh thấy tình thế nguy cấp nên đưa trường thương đánh vẹt quân Mông Cổ, đoạn giương cung, đặt tên nhắm ngay Hoàng đế Mông Cổ bắn tới.

    Mũi tên bay vun vút, hai tên thân binh hộ giá thấy thế, vội nhảy đến trước chắn ngay trước mặt Hoàng đế cản tên.

    "Vút" một cái, mũi tên xuyên qua ngực tên thứ nhất. "Vút" một tiếng thứ hai xuyên qua bụng tên thứ hai. Quách Tỉnh buông hai mũi lang nha tiễn kế tiếp xâu hai tên binh thành một, đứng như cột chân trước mặt Hoàng đế.

    Hoàng đế thấy việc nguy, mặt mày biến sắc, lật đật thúc ngựa chạy xuống gò

    Bấy giờ trong đạo binh Mông Cổ hỗn loạn, tiếng giáo mác rộn lên, binh Tống đến tiếp viện. Đi đầu là tướng trung niên tay múa đôi thiết trường kiếm, chính là Tứ Thủy Ngư ẩn đến tiếp tay với Quách Tỉnh theo lời truyền của Hoàng Dung.

    Đạo quân Mông Cổ thấy Hoàng đế rút lui, nên trong lòng rối loạn, trận thế mất cả hàng ngũ, chực chạy trốn.

    Hoàng Dung trên thành thấy đội ngũ giặc rối loạn liền bắc loa gọi to :

    - Gia gia phát binh ra trận, đã giết chết Hoàng đế Mông Cổ rồi !

    Binh sĩ nhà Tống reo hò tở mở :

    - Hoàng đế Mông Cổ chết rồi, anh em ơi !

    Quân trong thành Tương Dương đã cầm cự với quân Mông Cổ rất lâu, ai nấy đều học đuợc ít nhiều Mông ngữ. Bấy giờ dùng tiếng "cô lô ca la" nói vang trời dậy đất

    Binh Mông Cổ nghe tiếng la hét của binh Tống, muôn mắt đổ dồn về phía Hoàng đế, thấy đức vua họ ngồi sững trên lưng ngựa, vẻ mặt như kẻ đã chết rồi. Chúng không phân biệt thực hư mà chỉ đinh ninh vua đã bỏ mạng, làm cho tất cả bọn binh sĩ Mông Cổ mất hết tinh thần chiến đấu. Không ai bảo ai, chúng ồ ạt thối lui ra sau.

    Hoàng Dung hạ lệnh đuổi theo, mở toang cửa Bắc xuất ba ngàn tinh binh theo truy nã .

    Ba ngàn quân của Gia Luật Tề thừa thế đánh giết không biết bao nhiêu quân Mông Cổ

    Quân Mông Cổ rất thạo về chiến đấu, tuy rút lui nhưng cũng để lại mấy ngàn quân thiện chiến cản hậu. Vì thế mà Tống quân truy nã không được.

    Hoàng Dung và Gia Luật Tề rút quân vào thành, kiểm điểm lại số tử thi của địch để lại trên năm ngàn ngưòi.

    Hoàng Dung cho người nhặt xác đem chôn. Bốn cánh quân bao vây ở bốn cửa thành đều rút sạch. Trời rạng sáng, mọi người nhìn lại cảnh chiến trường chỉ thấy thịt rơi máu chảy, gươm dao kiếm kích còn đầy dẫy trên chiến địa rải rác trong vòng mười dặm.

    Khi kiểm điểm tổn thất, quân Mông Cổ thiệt hại từ ba muôn, thành Tương Dương tổn thất một muôn ba ngàn binh sĩ và dân chúng.

    Từ khi đạo quân Mông Cổ cất bước xâm lăng đến nay ít khi bị thảm bại như vậy.

    Hoàng đế Mông Cổ sau khi rút quân khỏi thành Tương Dương 40 dặm mới an doanh hạ trại, nhớ lại chuyện vừa qua làm ông nửa say nửa tỉnh, ngồi thất thần trên án thư .

    Hoàng đệ Hốt Tất Liệt liền đi đến ngự dinh hỏi thăm tình hình chiến sự. Hoàng đế phán :

    - Ngự đệ ! Thủa trước phụ hoàng khen tặng Quách Tỉnh là anh hùng, hôm nay qủa nhân mới thấy tận mắt, thật là danh bất hư truyền.

    Nguyên vua Mông Cổ và hoàng đệ Hốt Tất Liệt là con của Đà Lôi ! Lúc Quách Tỉnh ở xứ này đã kết nghĩa an đáp với Đà Lôi, 2 người đối đãi với nhau rất thân. Bấy giờ vì nhiệm vụ mà thủ thành chống địch, trên chiến trường không thể nhận mặt nhau.

    Hốt Tất Liệt gật đầu không đáp, vẫy tay gọi tên thị vệ đến bảo :

    - Ngươi đi triệu mời Tuyên Quốc Sư

    * * *

    Mặc dầu thành Tương Dương thắng trận, đẩy lui được kẻ địch, nhưng nhà nhà trong thành đều nghe tiếng khóc bi ai. Mẹ khóc con ! Vợ khóc chồng !

    Quách Tỉnh, Hoàng Dung không kịp cởi áo giáp nghỉ ngơi đã lo việc đi tuần soát khắp thành, ủy lạo các binh sĩ. Vợ chồng Quách Tỉnh đến thăm Châu- bá- Thông và Lục Vô Song xem thương tích có thuyên giảm chút nào không. Khi thấy cả hai đều bình phục, vợ chồng Quách Tỉnh mới ra vườn hoa trở về phủ.

    Buổi sáng hôm sau, khi mặt trời vừa mọc, thì Quách Tỉnh và Lữ Văn Hoán đang ngồi trong phủ đàm đạo mưu lược diệt trừ quân xâm lược. Bỗng một tên thám báo chạy vào nói :

    - Có một đạo binh Mông Cổ trên muôn người từ hướng Bắc đến

    Lữ Văn Hoán kinh hãi hỏi :

    - Đạo quân Mông Cổ đã rút xa rồi kia mà ?

    Quách Tỉnh xốc kiếm đứng dậy, lên mặt thành quan sát. Thấy đạo quân này cách thành khoảng 3 dặm, quân số uớc dư ba môn, đứng bày thế trận, nhưng không tấn công thành.

    Trong vài giờ sau, chúng đã đốn cây cất một cái đài gỗ cao trên 10 trượng.

    Bấy giờ trên mặt thành có cả Nhất-đăng đại sư , Hoàng Dược Sư , Chu Tử Liễu và Hoàng Dung đứng quan sát địch tình.

    Khi thấy chúng dựng lên một cái đài cao, mọi người đều không hiểu gì cả.

    Chu Tử Liễu nói :

    - Quân man rợ, không biết chúng cất ngôi đài cao này để làm gì? Chẳng lẽ cất lên để quan sát tình hình trong thành. Điều này rất vô lý. Nếu chúng muốn vậy,đâu có cất xa đến thế ? Vả lại, quân ta có thể bắn tên lửa đốt đi thì xây cất làm chi cho tốn kém ?

    Hoàng Dung cau mày nghĩ không ra lẽ. Không rõ dụng ý của địch quân làm gì.

    Khi đài vừa dựng lên xong, thì thấy trên hàng trăm quân Mông Cổ áp tải đến đây cả một đàn ngựa cả trăm con. Mỗi con ngựa có chở trên lưng củi, chà, rơm, cỏ khô. Chúng chất đầy quanh đài. Mọi người thấy thế lấy làm lạ.

    Chu Tử Liễu lại nói :

    - Không lẽ bọn man di này lấy thành không được cất đài để tự thiêu ? Hay là chúng muốn bày trò quỷ mị để ếm đối chúng ta ?

    Hoàng Dung lắc đầu bảo :

    - Chẳng bao giờ có chuyện tà quái ấy. Tôi ở tại đất Mông Cổ rất lâu, nhưng không thấy chúng làm những chuyện dị đoan.

    Trong lúc mọi người nói chuyện, thì thấy cả ngàn binh sĩ, kẻ đào người cuốc xung quanh đài thành một cái hào, bùn đất vét lên để dựa bờ hào thành bức tường thành nho nhỏ.

    Hoàng Dung cả giận nói :

    - Đất Tương Dương là quê hương của Gia Cát Võ Hầu đời Tam Quốc, quân rợ Mông Cổ vô lễ, trước cửa vị đại hiền mà dám bày trò khuấy rối, không coi người Tống ra sao cả.

    Bấy giờ bỗng có tiếng còi thổi ba hiệp, trống to trống nhỏ đánh "bồng bồng". Hai đạo quân chia hai, mỗi đạo trấn một bên . Trước mặt đài một muôn, sau đài một muôn, tất cả bốn muôn binh vây phủ ngôi đài.

    Mỗi đạo dùng mỗi khí giới khác nhau. Chúng đều cầm trường thương, giáo nhọn, siêu đao, cung tên ná lẫy, tựa hồ như có một nhân vật tối quan trọng ở bên trong.

    Lại nghe một hồi còi lệnh, tiếng trống ngưng bặt, mọi người đứng yên phăng phắc.

    Từ ngoài xa có hai người kỵ mã đi tới mặt đài. Cả hai đều nhảy xuống ngựa và đi tuốt lên đài. Vì cách quá xa, mọi người không nhận rõ mặt mũi hai người này, nhưng cũng rõ một người đàn ông và một thiếu nữ.

    Mọi người càng ngạc nhiên không đoán đuợc sự tình. Hoàng Dung nhìn trân trối, đoạn kêu lên một tiếng "a", mặt mày bà xám lại, đầu óc choáng váng muốn té ngã . May nhờ mọi người ra tay đỡ kịp, nhưng bà ngất xỉu rất lâu.

    Mọi người lo cấp cứu cho bà tỉnh dậy, hỏi dồn dập :

    - Chuyện gì thế ? Tại sao thế ?

    Hoàng Dung mặt mày nhợt nhạt, nghẹn ngào nói :

    - Người thiếu nữ kia chính là con ta Tường nhi ! Mọi người cả kinh đưa mắt nhìn nhau.

    Chu Tử Liễu lại hỏi :

    - Quách phu nhân, bà có nhận đúng không ?

    Hoàng Dung nghẹn ngào nói :

    - Tuy ta nhìn không rõ mặt mày nó, nhưng thấy tay áo và vạt áo rách nát, thì chính là nó chẳng sai. Thật quân Mông Cổ dã man không lường đuợc. Chúng đánh không thắng nổi, mới bày ra gian kế bắt con ta làm vật hy sinh. Thật là quân xâm lược bạo tàn.

    Hoàng Dược Sư , Chu Tử Liễu nghe Hoàng Dung nói họ đã hiểu cái độc kế thế nào rồi. Cả hai mặt mày biến sắc.

    Quách Tỉnh ngây người không hiểu gì cả, nên hỏi :

    - Tường nhi à ? Vô lý. Tường nhi đi đâu lên đài này chứ ? Còn quân Mông Cổ bày kế gì?

    Hoàng Dung đứng thẳng người lên và nói :

    - Tỉnh ca ca ! Tường nhi rủi lọt vào tay quân giặc nên chúng đem nó lên đài mà đốt, buộc ông phải hàng phục, nếu ông không hàng phục thì cha con vĩnh viễn lìa xa, tâm trí mờ tối, đâu có ý chí mưu lược để chống lại chúng ?

    Quách Tỉnh ca ûgiận la lớn :

    - Dung nhi ! Ngươi ở đâu mà lại để Tường nhi đi lọt vào tay quân giặc ?

    Hoàng Dung trả lời :

    - Mấy ngày qua tình thế rất ngặt nghèo, tôi sợ ông bối rối nên không dám nói cho ông nghe.

    Hoàng Dung liền kể lại đầu đuôi Quách Tường bị Kim Luân Pháp Vương bắt tại Tuyệt Tình Cốc.

    Quách Tỉnh nghe Dương- Qua còn ở dưới hang sâu tại Tuyệt Tình Cốc, lật đật gạn hỏi đầu đuôi tỏ ra lo lắng cho Dương- Qua còn hơn cả Quách Tường.

    Võ Tam Thông, Tứ Thủy Ngư ẩn, Chu Tử Liễu ba người này gật gù khen thầm :

    - Quách đại hiệp thấy con gái sắp bị thảm tử, hoàn cảnh nguy cấp hiểm nghèo, mà không nghĩ tới việc giải cứu, lại lo sự mất còn của Dương- Qua, thật là người nhân hiệp, ít ai bì kịp.

    Quách Tỉnh nghe Hoàng Dung nói xong, ông nhíu mày :

    - Dung nhi ! Em làm như thế là sai rồi. Qua nhi sống chết chưa biết, sao em nỡ bỏ đi ?

    Quách Tỉnh là người rất kính yêu vợ, không khi nào ông nặng lời với vợ trước đám đông, hôm nay ông lỡ lời trách cứ khiến cho Hoàng Dung sượng mặt.

    Nhất-đăng đại sư lên tiếng bào chữa cho Hoàng Dung :

    - Quách phu nhân đã lặn xuống bờ hồ, tuyết đóng đầy mặt, lục soát khắp nơi mà không gặp Dương- Qua. Lúc Quách tiểu cônương lọt vào tay tên ác tăng, chính lão vầy đoàn với Quách phu nhân đi tìm, mà chẳng gặp. Quách đại hiệp không nên trách cứ Quách phu nhân.

    Nghe Nhất-đăng đại sư nói thế, Quách Tỉnh không trách vợ nữa, thở dài nói :

    - Chuyện của Quách Tường không can hệ bằ ng đại sự quốc gia. Tôi muốn để quân Mông Cổ thiêu nó thành tro cho rồi.

    Hoàng Dung không nói một lời, lặng lẽ bước xuống đài, chọn một con tuấn mã phi nước đại ra ngoài cửa Bắc.

    Mọi người nghe Hoàng Dung đơn thân độc m ra khỏi thành, ai cũng lo lắng.

    Nhất-đăng đại sư , Hoàng Dược Sư , Quách Tỉnh, Chu Tử Liễu lật đật lên ngựa đuổi theo.

    Khi họ chạy đến gần đài cao này thì nhìn thấy trên đài có hai người, một lão hòa thượng mặc áo bào vàng, và một cô bé gái còn trẻ, hai tay bị cột vào giữa đài. Đó chính là Kim Luân Pháp Vương và Quách Tường.

    Quách Tỉnh tuy cho việc Quách Tường là nhỏ, nhưng phụ tử tình thâm, làm cho ông không khỏi chua xót n o nề. Ông vội vã gọi to :

    - Tường nhi ! Có cha mẹ đến cứu con đây ! Nội lực của Quách Tỉnh quá sung mãn, nên tiếng nói của ông vang đi ở bên đài nghe rất rõ.

    Quách Tường bị trói tại đây, vì bị tia nắng chiếu vào mặt làm lòa cả mắt. Khi nghe tiếng cha gọi, nàng vội kêu to :

    - Cha mẹ ! Mau đến đây ! Cha mẹ !

    Nàng bị trói trên cột trụ cao, nói vọng xuống rất nhỏ, Quách Tỉnh và Hoàng Dung không nghe được tí nào.

    Kim Luân Pháp Vương đắc chí cười to :

    - Quách đại hiệp ! Việc phóng thích lệnh ái rất dễ ! Không biết đại hiệp nghĩ sao ?

    Quách Tỉnh càng nghĩ ngợi càng buồn ! Đứng vào hoàn cảnh này thật khó xử. Nghe Pháp Vương nói, ông tức giận vô cùng, hét :

    - Pháp Vương ! Ngươi muốn đưa ra vấn đề gì, hãy nói thẳng ra !

    Kim Luân Pháp Vương cười ngất, nói :

    - Nếu ngươi vị tình phụ tử, muốn đem lệnh ái về thì khó khăn gì đâu, ngươi hãy lên đài trói tay vào cột trụ, một người đổi một người.

    Pháp Vương biết ý Quách Tỉnh là người cang trường đại nghĩa, đâu vì đứa con nhỏ mà bỏ bá tánh trong thành Tương Dương. Do đó Pháp Vương mới dùng lời nói khích, đánh vào lòng cương dũng của Quách Tỉnh để Quách Tỉnh lọt vào mưu kế của mình.

    Không ngờ Quách Tỉnh chẳng mắc mưu của lão, từ tốn trả lời :

    - Không thể được. Rợ Mông ! Nếu chúng bay không sợ ta thì đâu có đem con gái ta ra để dọa nạt.

    Pháp Vương cười lanh lảnh nói :

    - Người ta nói Quách đại hiệp võ công trác tuyệt, kiêu dũng khôn lường, ta ngờ đâu lại là một kẻ tham sống sợ chế, nỡ bỏ con mình.

    Dù cho Pháp Vương có nói khích đến mức nào, Quách Tỉnh cũng cố nhịn. Sứ mạng bảo vệ thành Tương Dương là trọng hơn, cho nên Quách Tỉnh chỉ im lặng không đáp.

    Mấy lời nói xúc phạm đến danh dự của Quách Tỉnh làm cho Võ Tam Thông và Chu Tử Liễu nổi giận, kẻ song trùy, người song thương vùn vụt phi ngựa lên trước.

    Quân Mông Cổ đã dàn sẵ n cung nỏi chỉ chờ hai người đến bên đài thì hàng ngàn mũi lang nha tiễn bắn ra.

    Nhất-đăng đại sư thấy tình hình nguy ngập, sợ mấy người này làm hỗn mà hư việc, vội vã nhảy xuống ngựa, chạy đến trước đầu ngựa của hai người cản lại.

    Ông giơ tay áo phất mạnh, hai con ngựa bị sức mạnh của luồng kình phong dừng hẳn lại. Ông quát to :

    - Chúng bay hãy trở về ngay !

    Võ Tam Thông và Chu Tử Liễu sẵn mang trong người bầu nhiệt huyết, họ cũng biết đến đây là không còn mạng trở về. Khi thấy sư phụ bước đến cản, hai người chẳng dám trái lời, quay ngựa trở lại.

    Quan binh Mông Cổ thấy lão hòa thượng chạy đuổi kịp đôi tuấn mã , không ngớt lời ca tụng và thán phục vô cùng.

    Pháp Vương nói :

    - Quách đại hiệp ! Lệnh ái thông minh lanh lợi, lão rất lấy làm hoan hỉ. Thâm ý của lão muốn thu nói làm đệ tử để truyền hết võ học của mình. Nhưng thánh chỉ đã hạ lệnh nếu ta không quy hàng được Tống quân thì cho đốt lửa thiêu đài. Không phải một mình ngươi thống khổ, mà lão tăng cũng phiền muộn vô cùng.

    Quách Tỉnh xì một tiếng, đưa mắt nhìn bốn bên, thấy trên mười tên dũng sĩ tay cầm đuốc đỏ rực, chỉ chờ lệnh Pháp Vương là châm vào cỏ khô. Dưới đài, bốn muôn binh mã đã dàn trận.

    Quách Tỉnh đau buồn nghĩ đến khi ngọn lửa bốc cháy, biết liệu cách nào để cứu được Quách Tường ?

  7. #87
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 102 CÁCH BIỆT TRÙNG PHÙNG


    Quách Tỉnh ngước lên thấy Quách Tường mặt mày tiều tụy, chua xót vô cùng. Ông đã ở trong các doanh trại quân Mông Cổ rất lâu. Chính ông đã tường tận những cảnh tàn nhẫn của chúng gây ra môt khi phá vỡ thành địch. Chúng giết sạch đàn bà con trẻ rất tàn khốc.

    Nếu chúng phóng hỏa đốt cháy Quách Tường, bất quá như chúng giết một con kiến chẳng gớm tay. Ông nghiến răng trợn mắt, nói to với Quách Tường :

    - Tường nhi ! Cha mẹ một lòng vì nước, thân sống chết chẳng cần ! Con là con dân nước Đại Tống, vì đại nghĩa mà bị khổ hình ! Con hãy can đảm lên, đừng sợ hãi. Nếu cha mẹ không cứu được con ngày hôm nay thì ngày nào đó cha mẹ cũng sẽ giết tên ác tăng để rửa hận cho con ! Hãy can đảm lên Tường Nhi! Nhớ lời cha dặn !

    Quách Tường nước mắt chảy ròng ròng, gật đầu đáp lại :

    - Cha mẹ hãy yên lòng mà lo việc nước ! Thân con dù chết cũng không sao !

    Quách Tỉnh vui vẻ hô to :

    - Như thế mới xứng đáng là con ta !

    Nói xong ông lắp cung tên, nhắm ngay ba tên quân cầm đuốc phía dưới đài. Ba mũi tên răng sói vun vút cắm mạnh vào bụng chúng, làm cả ba ngã lăn xuống đất.

    Quách Tỉnh từng nổi danh xứ Mông Cổ về tài bách bộ xuyên dương, lại thêm 10 năm khổ luyện, tài xạ thủ của ông nhờ đó vượt đến mức siêu phàm.

    Sau khi thấy ba tên quân té nhào, chúng binh Mông Cổ đổ ào tới vây phủ Quách Tỉnh và bắn ra muôn ngàn mũi tên độc.

    Quách Tỉnh vội quay ngựa cùng Hoàng Dung chạy về thành. Hoàng Dung vừa về đến thành đã vội lên mặt thành trông về hướng đài cao, lòng như kim châm xát muối.

    Hoàng dược Sư thấy vậy gọi bà vào dinh hỏi :

    - Theo ta nghĩ, Dung nhi, con hãy bày ra trận Nhị thập bát tú mà đấu với chúng một phen.

    Hoàng Dung nói lẩm nhẩm :

    - Dù thắng chúng thì cái đài cao chúng cũng thiêu ra tro, chẳng ích lợi gì!

    Quách Tỉnh nói :

    - Theo tôi nghĩ, chúng ta hãy dốc toàn lực mà giết địch. Tánh mạng của Tường nhi phó mặc cho trời đất. Nhạc phụ ! Xin nhạc phụ cho biết phương pháp bày cách lập trận này.

    Hoàng dược Sư cười lớn nói :

    - Nhị thập bát tú trận, ta phỏng theo Bắc đẩu trận của phái Toàn chân mà biến hóa cho lợi hại hơ n. Ta đã khổ luyện và tập dượt hơn mười mấy năm, muốn đem nhị thập bát tú trận này mà đấu với các đạo sĩ phái Toàn Chân một phen, nhưng chưa có dịp.

    Nhất Đăng đại sư nói :

    - Hoàng lão tà ! Thuật kỳ môn ngũ hành là một môn pháp vô song trong thiên hạ, dẫu Vương Trùng Dương còn sống cũng khó lòng thắng nổi ! Vả lại Nhị Thập Bát tú trận là một môn pháp ngũ hành rất kỳ ảo.

    Hoàng dược Sư trầm ngâm giây lát rồi nói :

    - Theo thế trận của tôi, chỉ dùng muời người võ lâm cao thủ cũng có thể chiến thắng một ngàn binh địch. Cứ thế mà biến hóa ra hai mươi tám thế. Nhưng tiếc thay lại thiếu một người và một cặp chim Điêu.

    Nhất Đăng đại sư hỏi :

    - Xin cho biết tường tận !

    Hoàng dược Sư đáp :

    - Nếu cặp chim điêu không bị tên ác tăng giết chết, ta sẽ thừa lúc trận pháp đang giao động, lén thả cặp song điêu đến đài cao mà cứu Quách Tường thì hay lắm. Vả lại trận Nhị thập Bát tú lấy theo sanh khắc của ngũ hành mà chế ra, phải có năm vị cao thủ làm chủ trận.

    Theo đó bốn vị trấn ngôi Đông, Nam, Bắc và Trung ương, nhưng lại thiếu hướng Tây !

    Tây Độc Âu Dương Phong đã chết, còn Châu- bá- Thông lại bị thương, không có ai kế vị. Nếu như có Dương Qua ở đây thì tốt quá. Gã này rất tinh linh cổ quái, võ công không kém gì Âu Dương Phong mà bây giờ gã đi mất hút, biết đi đâu mà tìm ? Người chủ tướng giữ hướng Tây phải là một tay võ lâm cao diêu, vì phải phí rất nhiều nội lực công phu.

    Quách Tỉnh hướng mặt về phía Bắc, nói lẩm bẩm một mình :

    - Qua nhi ! Không biết sống chết lẽ nào, làm ta vẫn nhớ nhung mến tiếc.

    * * *

    Nhắc lại lúc Quách Tường gặp Dương Qua tại hang Tuyệt Tình Cốc, mà Hoàng Dung đi tìm mãi không gặp. Tại sao chỉ có một hôm mà tông tích Dương Qua mất hút như thế ?

    Nguyên ngày ấy Dương Qua biết rằng mình không thể nào gặp mặt Tiểu Long nữ nữa, nên tung mình nhảy xuống hang sâu. Chàng đinh ninh thế nào cũng tan xương nát thịt, bỗng nhiên lại lọt xuống một cái đầm nước.

    Vì từ trên cao rơi xuống, nhưng bị sức nước ép quá mạnh, đẩy vọt chàng lên mặt nước.

    Ngay lúc đó, Quách Tường tại rơi xuống hồ. Bây giờ, Dương Qua không kịp nghĩ ngợi gì nữa, chỉ chờ Quách Tường nổi lên mặt nước là cứu Quách Tường lên bờ.

    Sau khi nàng hồi tỉnh, Dương Qua hỏi :

    - Tiểu muội ! Tại sao tiểu muội té xuống đây ?

    Quách Tường đáp nhanh không nghĩ ngợi :

    - Tôi thấy đại ca nhảy xuống đây thì tôi cũng vội nhảy xuống đây.

    Dương Qua lắc đầu :

    - Quá sức ! Quá sức ! Ngươi không sợ chết sao ?

    Quách Tường đáp:

    - Đại ca không sợ chết, thì tôi há lại sợ hay sao ?

    Dương Qua rung động nhủ thầm :

    - Cô bé mới ngần này tuổi đầu mà chân tình đến thế ?

    Nghĩ đến đây, Dương Qua nghe chân tay run rẩy vì cảm xúc bồi hồi. Quách Tường lấy ra một cây trâm vàng giao cho Dương Qua và nói :

    - Đại ca ! Lúc trước tôi đưa đại ca ba cây trâm vàng, giao mỗi cây trâm vàng xin đại ca đáp ứng một chuyện, thì đại ca đã làm tròn. Hôm nay tiểu muội giao cho đại ca cây trâm vàng thứ ba để thỉnh cầu một điều tâm nguyện là Nếu Long tỉ tỉ không bằng lòng gặp lại đại ca, thì muôn ngàn lần đại ca nghe lời tiểu muội mà không được đi tìm cái chết nữaÕ

    Dương Qua đưa mắt nhìn cây trâm vàng trong lòng bàn tay cô bé, đoạn nói :

    - Ngươi ở Tương Dương đến đây chỉ nói với ta có bao nhiêu đó thôi ư ?

    Quách Tường mừng rỡ nói tiếp :

    - Chỉ có bấy nhiêu thôi ! Kẻ trượng phu lời nói ắt trọng, tín nghĩa ắt giữ. Nay đại ca hữa với tiểu muội là sẽ bằng lòng đi.

    Dương Qua thở một hơ i dài chua chát. Chàng nhớ lại đoạn đời mình vào sinh ra tử, cái chết đối với chàng không quan trọng, nhưng muốn làm cho chết cũng là chuyện khó khăn.

    Chàng nhìn lại Quách Tường, thấy quần áo ướt loi ngoi, hàm răng đánh vào nhau cầm cập, nhưng vẻ mặt lộ ra tia mừng hớn hở.

    Chàng thấy vậy vội đi tìm một ít que củi khô, nhưng không có lửa lấy gì mà nhóm lên để sưởi ?

    Chàng lại nghĩ hai người đều ướt hết, biết liệu làm sao, do đó Dương Qua mới nói :

    - Tiểu muội ! Ngươi hãy vận lại phần nội công, kẻo hơ i lạnh xâm nhập vào ngũ tạng mà sinh bệnh tật.

    Quách Tường nói :

    - Vậy thì đại ca cũng luyện nữa chứ ?

    Dương Qua gật đầu, ngồi kế bên Quách Tường điều hòa chân khí. Dương Qua lúc nhỏ đã ngồi trên giường Hàn Ngọc luyện tập nội công, cho nên khí lạnh không thể xâm nhập vào tim. Chàng đưa tay áp nhẹ lên lưng Quách Tường ngay Ngọc đường huyệt. Một luồng khí êm ấm chạy dần vào cơ thể của Quách Tường, chẳng mấy chốc Quách Tường nghe khoan khoái trở lại.

    Dương Qua đợi Quách Tường hơi thở điều hòa, tinh thần khỏe lại, chàng mới bắt đầu hỏi Quách Tường đến Tuyệt Tình Cốc có chuyện gì?

    Quách Tường nhất nhất kể cho Dương Qua nghe. Sau khi nghe xong, Dương Qua giận nói :

    - Kim Luân Pháp Vương thật là đứa quái ác ! Hãy để ta lên đập cho nó một trận cho hết cái thói mục hạvônhân.

    Dương Qua vừa dứt lời, bỗng thấy trên không có một con bạch điêu rất to rơi xuống mặt hồ. Nó trồi lên hụp xuống chứng tỏ con Bạch điêu này bị thương nặng.

    Quách Tường thấy thế kêu to :

    _ Chính là con Bạch điêu ở nhà muội ! Bỗng con bạch điêu trống từ trên bay xuống, và chở con Bạch điêu mái bay lên miệng hang

    Trong phút chốc con bạch điêu lại bay xuống một lần thứ hai nữa. Dương Qua vội bế Quách Tường đưa lên lưng bạch điêu. Chàng tưởng bạch điêu lại trở xuống lần nữa để đưa chàng lên, nào giờ mải mê chờ đợi mà bạch điêu vắng bóng không trở lại.

    Chàng có biết đâu con bạch điêu trống này đã vì tình mà chết. Dương Qua thất vọng thẫn thờ nhìn xem phong cảnh dưới hang, bốn bề vách đá chập chùng, có một cây đại thọ rất lớn.

    Trên cành cây có mười tổ ong mật, mỗi tổ to hơn những tổ ong thường gấp bội.

    Chàng quan sát con ong thấy hình dáng hơi giống loài Ngọc Phong mà Tiểu Long nữ nuôi ở Cổ Mộ.

    Dương Qua chợt nghĩ ra điều gì, kêu lên một tiếng và đứng sững sờ như người mất trí.

    Trong khoảng khắc, chàng bước đến gần ổ, trông kỹ lại một lần nữa, chỉ thấy mấy tổ ong này kết đóng rất vụng về, không phải do loài ong làm ra.

    Theo ý chàng nhận xét thì có lẽ do bàn tay người nào đó kiến tạo, vì phía dưới bầu vật có tô lên một lớp đất bùn thật dày.

    Ôi ! Đúng là bàn tay của Tiểu Long nữ. Dương Qua cúi đầu nghĩ ngợi đoạn thầm nói :

    - Chắc là Long nhi năm xưa cũng lâm vào hoàn cảnh như mình hiện tại, rồi nàng chọn chỗ này làm chỗ cố cư .

    Chàng đưa mắt nhìn xem, thấy vách đá chập chùng. Ngước mắt nhìn lên trời, thấy trời cao thăm thẳm, vòm trời như gom nhỏ lại, làm chàng sực nhớ đến câu châm ngôn ếch ngồi đáy giếng thấy lao năm trờiÕ.

    Bất giác chàng mỉm cười một mình. Qua vài phút sau, Dương Qua đứng dậy bẻ một cành cây lớn đi gõ chung quanh vách đá, hầu tìm xem có gì khác lạ nữa không.

    Chỉ thấy những vỏ cây bị người ta phạt thật nhiều cũng như những trái bị nguời ta chẻ lấy hột hết cả.

    Dương Qua nhất định là có người trú ngụ nơi đây làm chàng nửa mừng nửa lo. Chàng run lên vì hồi hộp.

    Chàng nhất định là có Tiểu Long nữc trú tại đây, ròng r ã16 năm trời, tấm thân ngọc ngà phải ẩn thân chốn này không người biết tới.

    Dương Qua không tin có quỷ mị, nhưng gặp tình thế này chàng cũng phải cố bám víu vào sự cao cả thiêng liêng. Sau khi chàng quỳ xuống đất, chắp hai tay trước ngực khấn thầm :

    - Cầu ơn trời phật phù hộ cho con là Dương Qua sớm gặp lại được Tiểu Long nữ.

    Chàng khấn vái một hồi, đoạn đưa mắt tìm kiếm khắp nơ i, cũng không thấy tông tích của Tiểu Long nữ.

    Sau rốt, chàng đi gần lại gốc cây đại thọ, ngồi xuống nghĩ thầm :

    - Nếu Tiểu Long nữcó chết tại đây ắt nắm xương tàn cũng phải còn lưu lại, trừ khi hài cốt của nàng đã chìm xuống đáy hồ.

    Nghĩ đến đây, chàng đứng dậy cất tiếng hét to :

    - Ta nhầm rồi ! Ta nhầm rồi ! Nước chảy đá mòn ! Có lẽ xương cốt của nàng đã chìm sâu dưới đáy hồ, nếu nàng đã chết.

    Dương Qua nhảy xuống hồ và cố lặn xuống đáy sâu. Càng lặn xuống sức lạnh càng tăng, tựa hồ như tuyết đóng.

    Tuy Dương Qua không sợ lạnh, nhưng xuống càng sâu, sức nước ép càng mạnh, nếu chàng không giỏi nội công có thể bị bể ngực, máu trào ra chết tức khắc.

    Chàng cố gắng lặn thêm vài trượng nữa, vẫn không xuống được đáy hồ. Bấy giờ chàng ngồi trên mặt hồ, tìm một hòn đá thật to, ôm chặt vào lòng nhảy xuống hồ một lần nữa.

    Lần này lại khác hơn lần trước ! Khi nghe một luồng nước chảy mạnh, đưa chàng đi như chong chóng, tay chân không thể nào kềm hãm được nữa. Giữa lúc đó, Dương Qua nghe sóng vỗ vào gành đá. Chàng vội vàng bỏ phiến đá trồi lên trên mặt nước. Chàng thấy ánh sáng nhưng không thấy mặt trời. Một mùi hương trăm hoa bay ra tỏa ra nực mũi, thực là cảnh trí thơ mộng thần tiên.

    Dương Qua vội bước lên bờ, đưa mắt quan sát thấy nơ i đây trồng đủ các loại hoa, cỏ xanh mượt, như thể hoa viên của kẻ hào phú. Nhưng lại vắng tanh không một bóng người hay tiếng chim kêu.

    Chàng nửa mừng nửa sợ, vội bước lần đến chừng 10 trượng, bỗng thấy vài gian nhà cỏ thấp le te.

    Dương Qua liền đứng lại hít một luồng chân khí vào, đoạn sửa soạn như khách thừa lương, bước thật chậm chạp đến trước mấy ngôi nhà này.

    Chàng lại suy nghĩ :

    - Ta sẽ vào nhà hỏi thăm tin tức của Long nữ, may ra họ biết nàng hạlạc nơi nào.

    Chàng đi đến sân, ngần ngại không dám bước tới nữa. Chẳng phải Dương Qua sợ người ta không tiếp mình, mà chỉ sợ hy vọng của mình tan nh bọt nước khi nghe chủ nhà trả lời.

    Do đó Dương Qua bước nhẹ qua chái nhà sau, nghiêng tai nghe ngóng. Bốn bề vắng lặng, không một tiếng động nhỏ, chỉ nghe tiếng vo ve của đàn ong đang hút mật.

    Dương Qua đánh bạo hỏi vào :

    - Dương mỗ mạo muội đến đây, xin ra mắt gia chủ.

    Nói đến hai ba lần, tuyệt nhiên không có tiếng đáp từ. Dương Qua vội bước nhẹ đến trước, đưa tay đẩy khẽ cánh cửa, bước vào trong nhà.

    Khi bước ngang qua ngưỡng cửa, thấy các vật bên trong làm cho chàng rúng động.

    Bên trong nhà trần thiết rất đơn giản, nhưng sạch sẽ vô cùng, giữa nhà kê một cái bàn và một cái ghế, cách thức trang hoàng giống hệt như gian phòng của chàng ở tại Cổ Mộ, chỉ hơi khác là Cổ Mộ bàn ghế và Hàn Ngọc sàng làm toàn bằng đá, cònưở đây dùng toàn cây gỗ.

    Chàng lại thấy phía cửa song treo lủng lẳng một áo nhỏ, tết bằng các sớ da cây rất khéo, nhưng tương tự như lúc ở Cổ Mộ Tiểu Long nữ kết tơ làm áo.

    Dương Qua thấy những cảnh quen, bất giác hai dòng lệ chảy ràn rụa. Chàng cảm thấy hình như có bàn tay mềm dịu đưa lên vuốt mấy sợi tóc bạc ! Lại một giọng êm như gió thỏang :

    - Qua huynh ! Việc đã qua là hết ! Thống khổ ích lợi gì?

    Chàng nhớ lại ngày nào cũng một giọng nói hiền lành êm dịu của Tiểu Long nữan ủi chàng khi buồn rầu thất chí.

    Bỗng chàng nghe sau lưng có tiếng một người con gái khẽ kêu lên một tiếng thảng thốt, Dương Qua vội quay phắt người lại, thấy trước mặt chàng một cô gái mặc toàn đồ trắng, mặt ngọc da ngà, đứng yên như pho tượng thần Nữ Oa, đẹp hơn tiên nga miền ha ïgiới.

    Chính là người mà chàng phải ngày đêm mơ tưởng suốt mười sáu năm trường. Mắt chàng mờ lên, như người trong mộng gặp tình nhân theo câu hát của một nhà thơ nổi tiếng :

    Nửa đêm nằm mộng gặp người thương Má đỏ au lên, đẹp lạ thường Bàn tay mềm mại nên thơ quá Tà áo tung bay mờ tựa sương Chính là Tiểu Long nữ, người yêu của Dương Qua đang đứng đấy trong thực tại mà chàng cứ ngỡ như trong mơ, chàng vội đưa tay lên dụi mắt xem có phải mình đang hoa mắt hay chăng.

    Hai người đứng yên nhìn nhau sửng sốt, họ chỉ kêu lên một tiếng a rồi ôm nhau nức nở nghẹn ngào.

    Như đôi bạch yến khắn khít, như đôi oanh líu lo. Trong thực tế thơ mộng. Câu chuyện 16 năm dài đằng đẵng làm sao nói hết bây giờ ? Một lúc lâu, Dương Qua mới nói đuợc :

    - Long nhi ! Diện mạo của nàng không khác thủa xưa, còn ta thì đã già đi mất rồi.

    Tiểu Long nữ chớp làn mi đẹp, nhìn chàng nói :

    - Không già đâu Qua huynh ! Ngày nay Qua huynh đã trưởng thành hơn thủa nọ, vì đã nhuộm nhiều phong sương.

    Tiểu Long nữ vốn lớn hơn Dương Qua sáu tuổi, nhưng thủa nhỏ nàng ở tại Cổ Mộ luyện công học theo phương pháp của sư phụ, dứt bỏ mọi lo nghĩ muộn phiền, do đó nàng vẫn giữ được nét xuân của người đồng trinh xử nữ.

    Còn Dương Qua lúc nhỏ côi cút, cô đơn, buồn nhiều hơn vui, khổ nhiều hơn sướng, nên chàng già trước tuổi. Vì thế lúc thành hôn hai người thoạt nhìn thì tuổi tác rất tương xứng với nhau.

    Cái ngày mà Dương Qua vào Cổ Mộ, hai người đã gần nhau rất lâu, cảm nghĩ sanh tình, những chuyện không nói không làm và không vui không giận dần dần buông lỏng, không kìm chế nổi, và nàng đã sa vào bể ái, tình trường.

    Sau ngày lễ thành hon lại phải ly biệt nhau 16 năm trời. Dương Qua phải chịu đựng phong trần, phiêu bạt, mặt rám nắng, tóc nga ûmàu, còn Tiểu Long nữ ở nơi u tịch, tuy nàng bị nỗi tương tư làm khổ mình, nhưng có được cứu cánh là yên tĩnh, cho nên dần dần nàng hết lo, hết tưởng, hết muộn, hết phiền, ở một mình cô quạnh dưới hang sâu, lòng nàng cũng nguội lạnh theo thời gian.

    Không ngờ 16 năm cách biệt, nay được trùng phùng, nàng trẻ hơn Dương Qua gấp bội.

    Tiểu Long nữ một mình cô quạnh suốt 16 năm không hề nói chuyện với ai, bây giờ gặp Dương Qua tuy lòng hớn hở, nhưng những lời nói ra có lẽ ngập ngừng, chưa được đầm ấm như trước.

    Hai người mắt nhìn nhau, như trao đổi muôn lời. Họ chỉ mỉm cười ! Dương Qua nghe máu nóng sôi trào, muốn ôm sát Tiểu Long nữ vào lòng cho thỏa dạ. Nhưng chàng chưa kịp cử động thì Tiểu Long nữ đã đưa tay nắm lấy tay chàng run rấy, và kéo chàng đứng dậy đi ra cửa, đoạn nói :

    - Qua huynh ! Tôi vẫn mạnh khỏe đấy chứ ?

    Tiểu Long nữ liền leo lên cây đại thọ chuyền thoăn thoắt. Dương Qua cũng ra sức đuổi theo. Hai người đùa giỡn rất lâu, mà Dương Qua thủy chung vẫn đuổi không kịp Tiểu Long nữ.

    Mồ hôi trên trán chàng chảy lấm tấm. Tiểu Long nữ thấy chàng có vẻ mệt, nên nàng quay lại, đưa tay áo lên lau cho chàng.

    Dương Qua nắm chặt tay nàng, nhìn kỹ cái áo nàng đang mặc được dệt bằng sớ cây đại thọ rất dày.

    Chàng chua xót nghĩ đến nàng đã chịu khổ sở như vậy suốt 16 năm qua. Chàng vội đưa tay lên vuốt nhẹ mái tóc của nàng, đoạn nói nhỏ nhẹ :

    - Long nương ! Vì tôi mà nàng đã chịu khổ suốt mười mấy năm trời.

    Tiểu Long nữ thở nhẹ và nói :

    - Nếu tôi chẳng sinh trưởng trong phái Cổ Mộ, thì đâu còn sống đến giờ này ?

    Lời nói này đúng lắm. Nếu Dương- Qua ở vào hòan cảnh của nàng, một thân một bóng, không có một món gì có thể dùng, mặt dầu võ công chàng cao siêu, cũng không sống nổi đến hai năm.

    Tiểu Long nữ sinh trưởng ở Cổ Mộ, không tiếp xúc với ai. Lúc nhỏ thì có sư phụ và Tôn bà nuôi dưỡng, đến sau khi gặp Dương- Qua bầu bạn. Bởi vậy nàng quen nếp sống tự lập, mà không cần chuyện vãn với ai. Nhờ đó nàng mới sống nổi dưới hang sâu một mình, tưởng trên đời này không còn người nào trẻ như nàng mà có thể chịu đựng nổi như thế. Hai người ngồi trên phiến đá kề vai tâm sự. Dương- Qua nóng lòng muốn biết cảnh sinh hoạt của nàng như thế nào, hỏi liên miên.
    Tiểu Long nữ thở một hơi dài, thuật lại câu chuyện mình lưu lạc thế nào, trong vòng 16 năm biến cố ra sao, cho Dương- Qua nghe. Dần dần tiếng nói của nàng trong thanh trở lại, mất hẳn giọng ngường ngượng ban đầu.
    Nguyên ngày trước Dương- Qua ném lọ Tuyệt Tình đơn xuống hang sâu, Tiểu Long nữ hiểu chàng đã biết mình trúng độc không trị được, nên chàng không muốn sống một mình.

    Nàng đã nghĩ thiên phương bách kế, chỉ có cách là nàng phải rời xa Dương- Qua mới mong chàng bỏ ý định tự tử.

    Do đó, nửa đêm nàng lần ra Đoạn Trường Nhai lấy mũi kiếm vạch vài hàng lên đá, một là để Dương- Qua yên lòng phục dược, hai là với thời gian 16 năm dài, sự thương nhớ dần dần loãng đi theo ngày tháng.

    Quả nhiên Dương- Qua cố sống cho đến ngày nay. Dương- Qua lại thở dài hỏi :

    - Tại sao Long nương lại hẹn đến 16 năm sau, mà không hẹn bảy tám năm thôi có được không ?

    Tiểu Long nữ đáp :

    - Tôi biết Qua huynh đối với tôi ân nghĩa thâm trọng, thì thời gian sáu bảy năm quá ngắn, chưa thể hủy diệt được nhớ nhung. Ôi ! Ai ngờ 16 năm qua, chàng vẫn một lòng thương tưởng.

    Dương- Qua nói :

    - Thật là con tạo xoay vần ! Trời không phụ lòng nguyện ước. Giả như tôi đến Đoạn Trường Nhai chờ đợi không gặp chỉ khóc lên vài tiếng rồi bỏ đi, thì trọn đời không được gặp lại Long nương nữa.

    Hai người ngồi trò chuyện rất lâu, vẫn chưa thỏa mãn với cuộc trùng phùng này. Tuy chẳng nói ra mà trong tâm hai người không quên tạơn trời đất. Hai người ngồi yên lặng một lúc lâu, Dương- Qua lại hỏi :

    - Long nương ! Sau khi em té xuống đầm, rồi câu chuyện ra sao ?

    Tiểu Long nữ đáp :

    - Khi tôi nhảy xuống hang sâu, thì tâm thần mờ ám, kể chắc đã chết, nhưng làn nước bạc đưa tôi đến chỗ triền đá cao. Khi nước hạxuống, tôi dần dần tỉnh lại. Lúc mới bước chân lên đây chỉ có cây cối mọc ngổn ngang, không một tiếng chim kêu, không một loài dã thú. Nhưng có rất nhiều nước ngọt, trái lành quanh năm ăn uống không hết, chỉ thiếu có vải để mặc. Lúc ấy tôi lột vỏ cây bện lại thành chiếc áo này đây.

    Dương- Qua lại hỏi :

    - Lúc bấy giờ em trúng phải Băng Phách Ngân Trâm của Quách Phù, chất độc ấy đã lâm vào tận kinh phái, trên đời này không có thuốc gì chữa được thì làm sao em sống bình yên vô sự dưới hang này ?

    Tiểu Long nữ đáp :

    - Lúc đến đây được vài ngày, chất độc bỗng dưng hành hạ, toàn thân nóng như lửa, đầu óc như dần. Tôi sực nhớ lúc ở Cổ mộ, cái đêm động phòng hoa chúc của chúng ta, chàng có dậy tôi cách vận chuyển nghịch các huyệt đạo và kinh phái mà chúng ta đã ngồi trên giường Hàn ngọc. Nhưng ở đây làm gì có giường Hàn ngọc để ngồi vận chuyển kinh mạch ? Tôi liền tìm ra một khối băng muôn đời ở trên mặt nước kia, và ngồi lên đó chuyển nghịch các kinh mạch. Sự đau đớn bớt dần. Rồi một ngày nọ, tôi thấy từ trên miệng hang bay xuống một con Ngọc Phong đúng là của Lão Ngoan đồng lúc đem đến Tuyệt Tình Cốc chúng lạc đàn ở lại đây.

    Khi thấy Ngọc Phong, tôi tưởng như vừa gặp bạn tốt, lập tức tết trúc làm cho chúng một cái tổ, sau đó ong đến ngày càng nhiều, tôi mới lấy mật của nó mà dùng.

    Thật lạ thay, bao nhiêu đau đớn tan biến ! Mật ong chính là môn thuốc khử độc rất công hiệu. Tôi uống mật mỗi ngày. Lúc đầu mỗi ngày đau hai lần, kế là mỗi ngày đau một lần, và sau một tháng đau một lần, đến lần cuối là sáu năm mới đau một lần. Rồi từ đó đến sau là hết tuyệt.

    Dương- Qua cả mừng tiếp lời :

    - Hễ có lòng tốt, ắt hưởng sự lành ! Nếu năm xưa em không cho Lão Ngoan đồng một bầy Ngọc Phong, thì lấy ai mang mật đến Tuyệt Tình Cốc để em có cơ hội chữa bệnh?

    Tiểu Long nữ lại nói :

    - Sau khi hết bệnh, tôi lại nhớ đến chàng. Như ngã ở dưới hang sâu biết lấy ai để thông tin tức. Tôi cũng không biết lên bằng cách nào, vì vách đá thẳng tắp lại trơn tuột. Do đó tôi mới bắt mấy con ong lấy gai nhỏ xăm vào đôi cánh mấy chữ "Tôi tại Tuyệt Tình Cốc đáy", hy vọng mấy con ong này có người trông thấy. Trong mấy năm qua tôi xăm trên cánh có hàng ngàn con. Nhưng hy vọng của tôi trở thành thất vọng, vì không ai ngó ngàng đến. Mỗi độ xuân về là lòng tôi lại rạo rực u buồn, tôi buồn là nghĩ chắc trọn đời không thấy ánh nắng mặt trời, không thấy người trần thế, không gặp lại được chàng !

    Dương- Qua vỗ đùi, chàng hối hận :

    - Mỗi năm vào ngày hẹn ước, tôi đều đến Tuyệt Tình Cốc cốt ý tìm em. Thực ta vô ý không suy xét. Ta có thấy đàn ong bay lảng vảng mỗi lần đến đây, mà không để ý nhìn xem những chữ này để cho em phải đau khổ suốt mười mấy năm nay.

    Tiểu Long nữ mỉm cười nói :

    - Trong lúc Qua huynh đau khổ thì còn để ý đến việc gì nữa ? Vả lại có ai ngờ trên con ong bé bỏng như thế mà lại có chữ ở trên cánh. Dẫu nó có bay hàng trăm con qua trước mắt, chàng cũng không thể nhìn thấy được. Trừ khi có con ong nào vô phúc bay vô dính vào mạng nhện trước mặt chàng lúc đó chàng thấy vật nhớ người, may ra đưa tay ra cứu nó thì mới có dịp quan sát.

    Tiểu Long nữ không ngờ người thấy chữ trước tiên lại là Lão Ngoan đồng Châu- bá- Thông. Nhưng ông lại chỉ cho đó là do tạo hóa sinh ra và không nghĩ xa xôi. Ông chỉ đùa giỡn hay đem khoe khoang là một kỳ quan của loài ong mật.

    Duy có Hoàng Dung trí tuệ hơn người, biết rõ không phải do tạo hóa sinh ra. Nhưng bà có ẩn ý là xong chuyện nhà rồi mới đem ra bàn vớí mọi người đi tìm Tiểu Long nữ.

    Dương- Qua và Tiểu Long nữ ngồi đàm đạo suốt nửa ngày mới thấy vợi bớt nỗi niềm tâm sự.

    Dương- Qua thấy đói, bèn ngỏ ý với Tiểu Long nữ. Chàng và nàng bước vào nhà, thì nàng đã nướng vài con cá và mang ra trái cây, mật ong, nước suối để đãi Dương- Qua.

    Cá nướng này tuy nhỏ mà thịt thơm, nước suối mát lạnh, trái cây chua, mật ong ngọt. Tuy không có hương vị đầy đủ, song Dương- Qua ăn một bữa ngon lành.

    Chàng vừa ăn vừa kể những biến chuyển của mình trong 16 năm lưu lạc. Chàng sống một thời hoạt động không ngừng, nào là uy hiếp quần hùng, nào là giúp người khốn khó.

    Còn nàng thì trái lại, sống với thời gian lặng lẽ cô đơn, chỉ bầu bạn cùng đàn ong mật. Hai nếp sống khác biệt rất xa.

    Tiểu Long nữ không hề nghĩ đến thế sự nhân tình, nàng chỉ cầu sao gặp lại Dương- Qua là đủ. Hôm nay trời xui hai người hội ngộ khiến lòng nàng rộn rã như cánh én giữa mùa xuân. Tiểu Long nữ chẳng biết nói gì hơn chỉ mỉm cười mãn nguyện. Dương- Qua lại hỏi đến những tiểu tiết như : làm sao bắt cá, làm sao cất nhà, làm sao lột vỏ cây dệt áo...

    Tiểu Long nữ kể rõ từng chi tiết. Mặc dù chỉ có đôi bàn tay mềm mại nàng cũng tạo được sự nghiệp cơ đồ, thật là một kỳ công trong thiên hạ.

    Hai người tâm sự suốt đêm, đến lúc trời gần sáng họ mới đi ngủ. Khi tỉnh giấc thì trời đã đứng bóng, Dương- Qua lại nói :

    - Này Long nương ! Chẳng lẽ mình giam hãm suốt đời dưới hang sâu hay sao ? Theo tôi nghĩ, mình nên tìm cách trở về sống với thế giới loài người chứ ?

    Tiểu Long nữ muốn sống một cuộc đời lặng lẽ, thái bình. Nàng không muốn sống với cuộc đời phiền tóai. Nhưng nàng biết Dương- Qua vốn ưa cuộc đời náo nhiệt phồn hoa nên nàng đáp lại :

    - Vậy Qua huynh hãy tìm cách lên mặt đất ! Nếu không được thì... tìm cách khác, cũng có ngày về đuợc với xã hội loài người.

    Tiểu Long nữ muốn nói "ở lại đây", nhưng sợ phật lòng người yêu. Thế là hai người chui qua phiến đá tiếp, vào một cái khe nhỏ, lội qua lên bờ hồ.

    Một cảnh tượng bày ra trước mắt, họ thấy một sợi dây lớn từ trên miệng hang thòng xuống tới đáy, xung quanh bờ đầm có rất nhiều dấu chân người, lại có một đống củi cháy lỡ dở.

    Dương- Qua cả mừng kêu lên :

    - A ! Có người xuống ! Không chừng họ còn lẩn quất đâu đây !

    Dương- Qua và Tiểu Long nữ đi vòng quan sát, lại thấy trên cây vạn thọ có người dùng kiếm khắc mấy chữ như sau "Nhất đăng, Châu- bá- Thông, Anh Cô, Hoàng Dung, Trình Anh, Lục Vô Song và Hoàng Dược Sư có đến tìm Dương- Qua nhưng không gặp, tất cả đều trở về"

    Dương- Qua cảm động nói :

    - Vậy ra cũng có người cảm nghĩ đến Dương- Qua này ư ?

    Tiểu Long nữnói :

    - Có ai lại quên được chàng ?

    Dương- Qua lại nói :

    - Họ đã xuống tận đây mà không tìm ra lối vào chỉ vì một tảng đá chặn khuất lối đi. Họ không ngờ lại có ngách. Nếu ta xuống đây bằng dây cũng không chắc đã tìm được nàng.

    Tiểu Long nữ nói :

    - Vạn vật đều do tiền định, tạo hóa đã an bài số phận cho mỗi người.

    Dương- Qua lắc đầu nói :

    - Không hẳn như vậy ! Người đời thường vì "có công mài sắt, có ngày nên kim". Hết sức mình mới đổ mạng trời.

    Nói xong chàng đưa tay nắm sợi dây giật mạnh, thấy sợi dây thật vững chắc, có thể nhờ nó mà lên mặt đất được.

    Dương- Qua lại nói :

    - Để tôi lên trước xem Kim Luân Pháp Vương có còn đấy không ? Nhưng đã có Nhất-đăng đại sư , Hoàng Dược Sư , Châu- bá- Thông thì ác tăng cũng đã cao bay xa chạy rồi.

    Chàng lại hỏi :

    - Long nương ! Võ công của em có kém sút phần nào không ?

    Tiểu Long nữ mỉm cười nói :

    - Mười sáu năm qua tuy không rèn luyện chiêu thức nào nhưng cũng còn đủ sức.

    Dương- Qua quay đầu lại, nắm sợi dây giật thử lần nữa rồi bám lấy leo lên. Nhưng hiềm vì chỉ có một tay không thể leo được, chàng liền dùng đôi chân chỏi vào vách dá, leo thoăn thoắt như vượn, chẳng mấy chốc đã lên khỏi hang.

    Tiếp đến Tiểu Long nữ nắm dây phăng lên miệng hang . Hai người kề vai đi lên trên gành đá cao của Đoạn Trường Nhai.

    Họ đưa nhau đi xem lại vết tích mấy hàng chữđ khắc mười mấy năm về trước. Tuy thời gian mưa sa tuyết phủ, hàng chữvẫn còn rõ ràng, không bị hao mòn vì gió mưa bão táp.

    Dương- Qua nhìn Tiểu Long nữ mỉm cười, có cảm tưởng như 16 năm qua mau như trong khoảnh khắc.

    * * *

    Nói về Kim Luân Pháp Vương đã xây dựng mộc đài ngoài thành Tương Dương, phóng hỏa đốt Quách Tường buộc Quách Tỉnh về đầu hàng.

    Hoàng Dược Sư đã nói về trận "Nhị thập bát tú", quyết bày ra để tranh hùng sống chết với quân Mông Cổ.

    Quách Tỉnh liền xin tướng lịnh của Tống triều sứ quân Lữ Văn Hoán, giao cho Hoàng Dược Sư khiển tướng điều binh.

    Bấy giờ những người tham dự Anh hùng đại yến buổi nọ đã về phân nửa, trong thành chỉ còn một phần.

    Hoàng Dược Sư thỏa thuận và bảo họ phải tuân theo quân lệnh. Giữa một cuộc hội thảo tại võ trường, Hoàng Dược Sư nói to :

    - Quân Mông Cổ dùng bốn muôn binh vây bọc hỏa đài, theo ta nghĩ muốn thắng chúng phải cần bốn muôn binh sĩ thật giỏi. Lấy một chống một, theo binh thư đã dạy, thì không còn gì đáng ngại nữa.

    Nói xong ông trở lại đứng trên đài hô to :

    - Theo trận "Nhị thập bát tú" gồm năm ngôi "ngũ hành" án theo ngũ phương

    Ông vẫy tay mời các tướng lãnh đến nghe ông giải thích từng chi tiết đại cương. Và ông nói thêm :

    - Thế trận này biến hóa khôn lường, không phải một lúc mà giảng hết độn giáp ngũ hành được. Cho nên hôm nay ta mời năm cao thủ võ học đứng trấn năm ngôi ngũ hành, được quyền điều khiển binh tướng. Vậy tất cả mọi người hãy nghe theo hiệu lệnh của họ.

    Mọi người dều cúi đầu vâng lệnh. Hoàng Dược Sư nói tiếp :

    - Trung ương mồ kỷ, thuộc thổ, sắc vàng, trấn áp bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi do Quách Tỉnh đứng chỉ huy. Quách Tỉnh phải lãnh tám ngàn quân mã đem đến trấn tại trung ương. Tất cả binh gia tướng sĩ của ngươi chỉ lo một việc là cứu Quách Tường không được đánh nhau với địch. Binh sĩ của ngươi phải đem theo một bị đất vàng, khi đến dưới thành hãy lấy đất đắp mà dập lửa, và triệt hạ đài.

    Quách Tỉnh vâng mạng, lui ra ngoài lo điểm binh. Hoàng Dược Sư nói tiếp :

    - Nam phương đơn tăng, thuộc sắc hỏa, trấn áp bốn cung Bính, Đinh, Tý, Ngọ, xin phiền Nhất-đăng đại sư lãnh chỉ huy, mang theo tám ngàn quân. Chiết ra một ngàn để bảo vệ chủ tướng, còn lại bảy ngàn chia ra làm bảy đội. Giao cho Chu Tử Liễu, Võ Tam Thông, Tứ Thủy Ngư ẩn, Võ Đôn Nhu, Võ Tu Văn, Gia Luật Yến và Hoàng Nhan Bình đứng ra chỉ huy 7 đội ứng theo 7
    ngôi sao trên càn trượng. Bảy ngôi sao này thuộc hỏa trấn Nam phương.

    Nhất-đăng đại sư , Chu Tử Liễu chờ lãnh lệnh đi diểm binh mã . Hoàng Dược Sư truyền lệnh nói :

    - Bắc phương Ngươn lăng, thuộc thủy, màu đen, trấn áp bốn cung Nhâm, Quý, Hợi, Tý, do Hoàng Dung chỉ huy, lãnh tám ngàn quân, chiết ra một ngàn để bảo vệ chủ tướng, còn lại bảy ngàn chia ra làm bảy đội. Giao cho Lương trưởng lão, Gia Luật Tề, Quách Phù với trưởng lão Khất Cái chia ra chỉ huy mỗi đội. ứng theo 7 ngôi sao trên trời, 7 ngôi sao này thuộc thủy trấn.

    Hoàng Dung cúi đầu lãnh mạng. Nhóm này dùng toàn chủ lực của Cái Bang.

    Hoàng Dược Sư tự điểm cho ông tám ngàn binh và nói :

    - Đông Phương ở Thanh Lăng, thuộc mộc, màu xanh, trấn áp bốn cung Giáp, ất, Dần, Mẹo. Đạo quân này do ta chỉ huy và lãnh tám ngàn quân.

    Mọi người nghĩ Hoàng Dược Sư điều binh khiển tướng rất tài, Đông phương chủ tướng là Đông Tà, Nam phương là Nam đế, Bắc phương chủ tướng là Bắc Cái, trung ương chủ tướng là đệ tử của Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, Quách Tỉnh, giữ ngôi trung ương mới cứu được Quách Tường, nhưng còn hướng Tây là ai ?

    Bỗng nghe Hoàng Dược Sư nói tiếp :

    - Riêng về lão, đệ tử đều chết sạch. Cô Ngốc không có ở đây, chỉ có Trình Anh.

    Ông liền chọn 6 vị anh hùng có tham dự Anh hùng đại yến và Trình Anh đến bảo rằng:

    - Hướng Đông, tám ngàn quân, chia ra làm tám đội, một đội ở lại bên chủ tướng, còn bảy đội giao cho Trình Anh và sáu vị chỉ huy, ứng theo ngôi càn trượng, bảy vị tinh tú dóng hướng Đông.

    Khi kiểm điểm quân xong, Trình Anh và sáu vị anh hùng lãnh mạng ứng hầu.

    Còn đạo quân hướng Tây là chấm dứt, Hoàng Dược Sư nói :

    - Tây phương Kim Lăng, thuộc kim, sắc trắng, trấn áp bốn cung Canh, Tân, Dậu, Thân, do Toàn Chân chưởng giáo Lý Chí Thường...

    Mọi người đều ồ lên kinh ngạc, vì họ rõ Lý Chí Thường là tân trưởng giáo còn trẻ và yếu đuối.

    Bỗng nghe một tiếng nạt rất to phát ra :

    - úy ! Hoàng lão tà ! Ngươi bỏ quên thằng già này à ?

    Mọi người nhìn lại thì ra là Lão Ngoan đồng Châu- bá- Thông Hoàng Dược Sư mỉm cười nói :

    - Châu huynh ! Tôi tính để Châu huynh giữ hướng Tây, nhưng bịnh trạng của Châu huynh cần tịnh dưỡng. Nếu làm quá sức thì vết thương trên lưng sẽ đau lại, cho nên...

    Châu- bá- Thông vươn hai tay múa máy và nói to :

    - Sá gì! Sá gì vết thương nhỏ bé này ! Hoàng lão tà, hãy để ta lãnh trấn hướng Tây được không ? Này Lý Chí Thường, ngươi dám cùng ta tranh tài cao thấp không ?

    Lý Chí Thường vòng tay đáp :

    - Đệ tử đâu dám !

    Châu- bá- Thông vỗ tay cuời đắc ý nói :

    - ấy đấy ! Ta vẫn biết là ngươi không dám !

    Nói xong ông thò tay chộp lấy cây lệnh tiễn trên tay Lý Chí Thường. Lý Chí Thường vẫn tôn kính Châu- bá- Thông nên không lấy đó làm phiền lòng.

    Hoàng Dược Sư lại nói :

    - Nếu Châu huynh nhận lãnh, hãy đề phòng cẩn thận. Hướng Tây chủ tướng là Châu- bá- Thông, lãnh tám ngàn binh sĩ, một ngàn giao cho Anh Cô bảo vệ chủ tướng, còn bảy ngàn giao cho Lý Chí Thường cùng đệ tử Toàn Chân Phái thống lãnh, theo bảy ngôi sao thiên trượng mà đi theo lộ Tây.

    Hoàng Dược Sư điểm tướng xong, liền đốc thúc binh sĩ nên đem theo những vật dụng cần thiết. Đoạn ông phất cờ lịnh tiến quân.

    Bốn muôn binh chia làm 5 đạo, Đông, Tây, Nam, Bắc và trung ương, đi như nước vỡ bờ.

    Hoàng Dược Sư cất giọng bảo to :

    - Ngày xưa hai mươi tám tướng đuợc đài mây mở rộng, ứng theo Nhị thập bát tú đã phù tá vua Quang Võ trùng hưng. Theo ta nghĩ Nhị Thập Bát tú trận không dám sánh với thanh thế Quang Võ gia, nhưng giặc đ tới nhà, thìnước mất nhà tan, kẻ tiền phong lãnh đạo, đạo chân chánh là đệ tử danh gia, nếu đã hưởng tấc cỏ ngọn rau, nên vìlòng trung quân ái quốc. Chư quân, hãy theo lệnh chủ tướng, thề quyết tử cùng bọn Mông Cổ xâm lăng.

    Tất cảquan binh đều hô:

    - Hãy quyết liều mình tử chiến

    Tiếng hô vang dậy. Ba tiếng pháo hiệu nổ lên, cả năm đạo quân bước đi như gió lốc, làm cho cát bụi bay rợp trời.

    Trận Nhị thập bát tú vô cùng kỳ ảo, biến hóa vô cùng. Đạo binh Đông mỗi người mang trên lưng một cây nọc đến hướng Đông hỏa đài. Một ngàn quân xạ thủ bắn vãi ra, để bảy ngàn quân mang cây nọc đến công thành. Trong phút chốc, bảy ngàn cây nọc được cắm theo hình bát quái vây chặt ngôi đài hai hướng Đông Tây.

    Đạo binh Tây, tất cả đệ tử phái Toàn Chân đều cầm trường kiếm, bảo đao, chĩa mũi về phía trước. Bảy người một hàng ngang, cả đoàn gồm bốn mươi chín người, tay tả cầm nọc, tay hữu cầm kiếm, tiến ồ ạt như ong vỡ tổ.

    Bỗng nghe tiếng hò hét vang trời, đạo quân hướng Bắc do Hoàng Dung thống suất tràn đến. Tất cả Khất Cái bang đều rành về thuật phóng độc trâm, chúng ào ào như nước vỡ bờ, xáp lại bên quân Mông, đua nhau xạ độc phóng trúng vào nhức nhối khôn tả.

    Bọn Mông Cổ chống cự không nổi, ùa nhau thối lui. Cửa Bắc thành công phần nào.

    Hướng Nam, cánh quân của Nhất-đăng đại sư ra lệnh bắn hỏa chân và thổi khói, làm cho quân Mông Cổ sợ cháy tóc tai, quần áo nên chạy vào trung ương.

    Quách Tỉnh thống lãnh đạo trung binh, tiến chậm vào giữa đài, thấy thế giặc hỗn loạn, không đuổi theo hay giết hại, mà thúc quân đánh nhanh vào trung ương.

    Nguyên vị soái cầm quân Mông Cổ là kẻ cơ trí, đã đào lỗ cá nhân cho binh sĩ mai phục quanh đài, mà đạo binh phục kích này có dư muôn người.

    Quách Tỉnh hành quân chẳng kém, khi thấy đạo binh Mông Cổ đột nhiên biến đi, ông đưa mắt nhìn về phía đài cao thấy rải rác vài ba tên quân, thì biết rõ đám quân chủ lực còn mai phục.

    Mặc dầu Hoàng Dược Sư căn dặn không được giết hại đối phương mà chỉ kéo rốc vào trung ương mồ kỳ, nhưng Quách Tỉnh nhận rõ địch tình bên trong có mai phục không dễ gì vào, còn bên ngoài địch quân làm loạn không dễ làm ngơ.

    Bấy giờ tiếng trống giục quân "bồng bồng" liên tiếp, binh Tống và binh Mông Cổ xáp chiến với nhau vang trời dậy đất.

    Phía trên đài hàng ngàn cung nỏ xạ tiễn như mưa.

    Quách Tỉnh vội vàng buớc đến múa trường kiếm đỡ vẹt muôn ngàn mũi tên. Hai đạo quân đấu với nhau cát bụi bay ngất trời, tiếng reo hò vang dậy đất. Cả giờ qua mà hai bên vẫn chưa phân thắng bại.

    Hoàng Dược Sư giơ cao thanh kỳ phất mạnh, bỗng thấy đạo quân Đông chạy sang Nam, đạo quân Tây chạy sang Bắc, trận bắt đầu chuyển động, quân Mông Cổ hàng ngũ rối loạn chạy tứ tán

  8. #88
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 103 Nhị Thập bát tú trận


    Trận nhị thập bát tú lấy âm dương ngũ hành mà chế hóa. Nhất Đăng đại sư tay cầm cờ đỏ phất mạnh, chạy về trung ương mồ kỷ. Quách Tỉnh phất ngọn cờ vàng rút về hướng Tây. Chậu Bá Thông phất cờ trắng chạy về hướng Bắc. Hoàng Dung cầm cờ đen chỉ về hướng Đông, tất cả Khất Cái Bang chạy về hướng này. Hoàng Dược Sư vẫy ngọn cờ xanh chỉ về hướng Nam.

    Trận Ngũ Hành biến ra thế sanh vượn là hoả năng sanh thổ, thổ năng sanh kim, kim sanh thuỷ, thuỷ sanh mộc, mộc sanh hoả.

    Binh Tống chỉ có bốn muôn, nhờ có trận pháp tinh diệu, lại nhờ người chỉ huy lại là tay cao thủ võ lâm hạng nhứt ra điều khiển nên đám binh Tống quyết hy sinh để cứu con Quách Tỉnh.

    Quân Mông Cổ nhiều gấp đôi cũng phải thua liểng xiểng. Trận chiến kéo dài rất lâu, Hoàng Dược Sự liền rúc ra hồi còi dài, biến trận Ngũ Hành ra thế khắc bại, ông đưa cây cờ xanh vẫy quân rút lui vào Trung Ương mồ kỷ, cờ đỏ vẫy quân về hướng Tây, cờ vàng đánh về hướng Bắc, cờ trắng xuyên quanh hướng Đông, cờ đen huy động binh sĩ rút về hướng Nam. Ngũ hành khắc bại là môn khắc thổ, thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, y học văn tài là Hoàng Dược Sư !

    Trận thế mới biến hoá có hai lần mà tên chủ tướng chỉ huy hoả đã thấy mắt hoa, đầu choáng váng, thấy quân Tống lúc ở trước, lúc ra sau, khi quay tả, vượt qua hữu không biết điều quân cách nào để truy cản.

    Kim Luân Pháp Vương thấy thế trận kỳ ảo cũng bối rối vô cùng. Ông không rõ binh Tống dùng chiến thuật gì?

    Một lần ông đã bị cô bé Hoàng Dung đã bầy thổ trận vây hãm, ông không biết lối nào thoát thân, huống hồ gì Hoàng Dược Sư , bụng chưá đầy thực học, giỏi hơn con gái gấp bội.

    Vả lại, trận Nhị thấp bát tú gồm có năm vị võ lâm cao thủ đương thời đứng ra chỉ huy bảo sao chẳng linh động sao được.

    Pháp Vương khen thầm:

    Đất Trung Nguyên thực lắm kỳ nhơn cao thủ mà đất nước ta lại kémÕ Ông thấy đạo quân Mông lớp lớp bị thương càng lúc càng nhiều thêm, cây cờ càng lúc càng nhiều thêm, cây cờ vàng trên tay Quách Tỉnh lay động bay phấp phới tiến gần đến bên đài. Ông đem bé Quách Tường ra trói giữa đài với dụng ý là uy hiếp cho Quách Tỉnh đầu hàng, chớ thực ra ông không cố ý thiêu nàng.

    Ông liếc xem thấy Quách Tường bị trói hai tay vào cột, chỉ còn thừa cái đầu quay qua quay lại thôi, nhưng vẻ mặt cô bé vẫn vui tươi mỉm cười không lộ một chút sợ hãi, buồn lo.

    Pháp Vương liền bảo:

    -Bé Quách Tướng, ngươi hãy gọi phụ thân ngươi từ một đến mười tiếng, bảo gã phải quy hàng, nếu phụ thân ngươi chẳng quy hàng thì ta cho đốt ngươi ra tro.

    Quách Tường cười nói:

    -Một cũng không chứ đừng nói đến mười. Ta không gọi đâu? Ông thử đếm xem?

    Pháp Vương giận giữ nói:

    - Bé Quách Tường! Ngươi tưởng ta không dám đốt ngươi hay sao?

    Quách Tường cười lanh lảnh:

    - Tôi thấy tình cảnh ông đáng thương thật.

    Pháp Vương trợn mắt quát:

    - Ta đáng thương về việc gì?

    Quách Tường nói:
    - Này nhé! Ông đánh không lại phụ thân tôi, đánh không lại ngoại tôi, đánh không lại Nhất Đăng đại sư , đánh không lại Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông, và khong thể đánh lại Dương Qua đại ca, chỉ còn cách là trói tôi lên cột, tôi đối với thành Tương Dương là một điều tốt vô dụng, trường hợp của ông như thế không đáng thương hay sao? Pháp Vương, tôi có một câu muốn khuyên ông, Ông nghĩ sao?

    Pháp Vương hỏiÕ

    - Ngươi khuyên ta cái gì?

    Quách Tường đáp:

    - Những người như ông, sống ở trên đời nầy cũng vô vị, chi bằ ng nhẩy xuống đài tự tử cho rồi?

    Lúc bấy giờ Quách Tường đã vào sanh ra tử, không còn biết sợ gì nữa, nên mới dám nói thao thao bất tuyệt không kể đến hậu quả ra sao. Nhứng lời nói này, như một gáo nước sôi hắt vào mặt Pháp Vương, làm ông giận run hét to:

    -Bớ Quách Tỉnh! Ngươi hãy nghe đây, ta đếm từ một đến mười tiếng mà ngươi không hàng phục, thì ta phóng hoả đốt con bé Quách Tường.

    Quách Tỉnh nói:

    - Ngươi thấy Quách Tỉnh là một loại người dễ đầu hàng lắm sao?

    Hoàng Dược Sư tiếp lời nói:

    - Kim Luân Pháp Vương hãy nghe đây. Thân làm tể tướng, ngươi không biết thế địch động tĩnh như thế nào , như vậy là bất trí, bức bách đứa bé yếu đuối là bất nhân, không dám lấy binh đao, sức lực, trí hoá để chiến thắng là bất dũng. Con người mà mất cả trí, dũng, thắng thì ai gọi là lão anh hùng hảo hán được! Ngươi ở tại Tuyệt Tình cốc bị ta cấm giữ, ngươi tham sống sợ chết, đi khẩn cầu một đứa bé mười bẩy mười tám tuổi đầu xin dung mạng! Than ôi! Vị quốc sư của nước Mông Cổ vĩ đại mà hèn như thế ư ?

    Nói cầu khẩn Quách Tường tha mạng sống là chuyện không có, nhưng Hoàng Dược Sư cố ý bịa chuyện nói to lên để làm cho Pháp Vương xấu hổ trước ba quân tướng sĩ.

    Tất cả quân Mông Cổ đều tôn ông như thánh sống và người Mông Cổ tư chất thực thà, dễ nghe dễ bảo, nay nghe Hoàng Dược Sư nói như vậy làm chúng xám mặt. Tất cả tướng sĩ đều ngước mặt nhìn lên đài, làm cho Pháp Vương thẹn đỏ mặt hét to:

    -Quách Tỉnh! Quách Tỉnh!! Ngươi nghe cho rõ, ta bắt đầu đếm một đến mười nếu ngươi không đầu hàng thì ta sẽ xuông lệnh phóng hoa ûđốt đài. Nào bắt đầu một hai ba

    mỗi tiếng ông ngưng một giây phút cố ý làm cho Quách Tỉnh xốn xang mà lui hàng hoặc tim kế ho n binh, thìông xẽ vơi được nhiều bực tức.

    Bây giờ dưới đài, Quách Tỉnh, Nhất Đăng, Hoàng Dược Sự, Châu Bá Thông và Hoàng Dung đều nghe rõ Pháp Vương đang đếm từng tiếng một.

    Bên đài hàng trăm cây đuốc sáng rực, chờ Pháp Vương đếm số mười là châm vào bội cỏ khô đánh dưới chân đài.

    Mọi người thấy tình trạng cấp bách, xua quân đánh rốc đến dưới đài, hầu cứu Quách Tường. Nhưng một giàn cung nỏ được lệnh bắn ra như mưa truy cản đoàn quân Tồng, làm cho Chu Tử Liễu, Lương trường lão, Võ Tu Văn và Tứ Thuỷ Ngư ẩn đều bị trúng tên. Bốn danh các thủ Khất Cái của phái Ûba vịÕ đã trúng tên vào chỗ nhược chết. Còn năm tên đàu lãnh Bang Khất Cái toàn quốc cũng trúng tên bỏ mạng.

    Hoàng Dược Sư lúc trước đã giao cho Hoàng Dung chiếc áo trúc giáp, bà lại nhường cho Quách Phù hay gặp hoàn cảnh này phải cần có nó để mang mới cứu Quách Tường được.

    Hoàng Dược Sư lại sợ nữ nhi vì thương tâm khổ hận mà liều mình, nên chẳng muốn con mình xông xáo vào giữa rừng tên mũi giáo.

    Ông lại cởi chiếc giáp trúc choàng lên mình Châu Bá Thông, bởi vì vết thương của Châu Bá Thông chưa thuyên giảm mà vì đứa cháu gái của minh, nên ông không nỡ để lão Ngoan Đồng xả thân vì cháu mình.

    Châu Bá Thông thấy bao nhiêu tên bay đến mình đều rơi lã chã , làm cho ông vô cùng vui vẻ, xông xáo đến trước đôi tay vung song chưởng đánh những tên cầm đuốc té giẫy đành đạch.

    Lại nghe tiếng đếm to của Pháp Vương:

    Tám chín mười tốt lắm! Phóng hoả mau lên.

    Tức thì những ngọn đỏ rực trời được châm vaà rơm cỏ, làm cho đám cỏ bổi khônày bốc cháy dữ dội.

    Tám ngàn quân cờ vàng hò hét vang trời, mỗi tên quân lấy ra một bao đất mang trên lưng xuống, nhưng không ném tới trước dược vì đứng xa đến hai ba trăm năm thước, chỉ còn đứng bên ngoài hò hét mà thôi.

    Hoàng Dung đứng dưới đài nhìn thấy ngọn lửa, sắc mặt xám nhợt, run rẩy muốn té ngã .

    Gia Lụât Tề vội chạy đến đỡ nhạc mẫu nói:

    - Nhạc mẫu! Hãy đứng sau lưng tôi, vì tôi biết tính mạng không còn chịu đựng bao lâu nữa, nên liều thân cứu Tường muội.

    Bây giờ ngọn lửa càng lúc càng cao, tiếng reo hò đắc thắng của quân Mông Cổ vang dậy. Hàng vạn bình giáp sắt thương dài đưa nhau tấn công tới tấp làm cho binh sĩ Tống triết chết thối vô số.

    Lại nghe quân Mông Cổ hô to:

    - Vạn tuế! vạn tuế! Thì một đoàn quân Mông kéo như thác lũ. Chính giữa đạo trung quân một cái cờ mao chí tụi giơ cao ấy là hiệu kỳ của Hoàng đế Mông Cổ.

    Đạo quân này không phải đến chi viện Pháp Vương mà đến tấn công thành Tương Dương.

    * * *

    Tinh binh dõng tướng đều do Hoàng đế Mông Cổ chỉ huy phá thành. Quách Tỉnh tay tả cầm kích, tay hữu cầm thương, múa như vũ bão. Ông tả xung hữu đột như Triệu Tử phá trận Đương Dương, không một mũi tên nào phạm vào người.

    Cách đấy chứng ba trăm thước, thấy đạo binh của Hoàng đế Mông Cổ đến tấn công thành, ông kinh hai than thầm:

    Ôi chao! Ta mắc kế điệu hổ ly sơn của Mông Cổ. Lư Van Hoán làm sao điều khiển tướng cho được, rồi đây cả hai đều thất bại:

    Trận Nhị Thập Bát Tú của quân Tống đã xua hết bốn muôn Mông Cổ. Lúc Quách Tỉnh và Hoàng Dung ra khỏi thành thì đã xếp đặt cách phòng bị rất chu đáo, tuy vậy ông vẫn lo ngại Sử Văn Hoán đối địch cho nổi.

    Quách Tỉnh nghĩ thầm:

    Việc cứu con là nhỏ, giữ thành là đại sự quốc giaÕ.

    Ông hô to:

    - Nhạc phụ! Hãy bỏ việc Tưởng nhi mà lo lui quân cứu thành.

    Hoàng Dược Sư thấy ngọn lửa bốc lên cao sắp đến mặt đài, Pháp Vương bước xuống đài, chỉ còn một mình Quách Tường trên đài sắp sửa bị lửa hồng đốt cháy, ông đang phân vân giữa hai con đường phải giải quyết gấp. Một là cứu Quach Tường, hai là cứu thành Tương Dương. Quách Tường chỉ có một người, nếu có chết đi cũng chẳ ng quan hệ gì. Còn thành Tương Dương là vận mệnh của đất nước, lại có hàng muôn nhận mạng đang nguy ngập, ông quyết chọn con đường về cứu thành Tương Dương.

    Ông buông thõng câu:

    - Thôi đành vậy!

    Nói xong, ông đưa cao ngọn cờ xanh phất mạnh, điệu quân trở về hướng Nam.

    Quách Tường ở trên đài thấy ngoại công và nhạc mẫu không có giải pháp tiến đến bên đài, nên nàng kể chắc mình phải chết ra tro.

    Lúc đầu Quách Tường sợ chết, nhưng nơi sự chết đã đến nơi lòng nàng phấn khởi lạthường. Nàng liền quay đầu nhìn về hướng Bắc nhìn thấy xa xa một dãy bình nguyên màu bích thuỷ, nằ m dưới ngọn đồi xanh, lòng nàng rộn lên một niềm vui và nghĩ rằng:

    "Non xanh cũng biết cảnh thiêng liêng, thân ta nếu chết đi rồi cũng vui lòng, nhưng chẳng biết hiện giờ Duơng đại ca ở nơi nào ?"

    Nàng đưa mắt nhìn một dãy núi xanh, nhớ lại ngày nào đ gặp Dương Qua ở đấy. Tuy không hẹn ngày tái ngộ, nhưng Dương- Qua đã đáp ứng cho nàng 3 điều tâm nguyện. Ba điều ấy cũng đủ làm cho nàng toại chí rồi.

    Tuy nàng đang ở trong cảnh thập tử nhất sinh nhưng chỉ nghĩ đến Dương Qua, không biết chàng sống chết ra sao dưới Tuyệt Tình Cốc.

    Bỗng nhiên nàng nghe một tiếng hú ngân dài, làm rung động cả núi rừng. Đúng là tiếng của Dương- Qua lúc ở Vạn Thú Sơn trang. Lập tức nàng quay đầu về tiếng hú, thì thấy hai người một nam, một nữ chạy như bay biến về phía hỏa đài.

    Phía trước mặt hai người là một con điêu cực lớn, giang đôi cánh rộng chạy như bay. Bao nhiêu mũi tên của quân Mông Cổ bắn vào mình nó, gặp sức mãnh liệt của chưởng phong đều bị đẩy rơi tán loạn.

    Mặc dầu muôn mũi tên bay như gió, nhưng cũng không sao cản được bước tiến của Thần Điêu.

    Quách Tường cả mừng, giương mắt to nhình hai người. Người đàn ông đầu chít khăn xanh, mặc áo màu vàng sậm, chính là Dương- Qua. Còn người thiếu nữ mặc y phục toàn màu trắng, tà áo bay phất phơ không rõ thiếu nữ này là ai.

    Cả hai đều cầm trường kiếm, múa như vũ lộng, biến đường gươm thành một vòng tròn, bao bọc thân mình họ nên không mũi tên nào bắn trúng được.

    Thần Điêu chạy trước, Dương- Qua, Tiểu Long nữ theo sau hướng vào phía đài cao.

    Quách Tường gọi to :

    - Dương đại ca, có phải là Long tỉ tỉ chăng ?

    Phần ở trên cao nói xuống, phần thì Dương- Qua ở cách chỗ nàng cả ba trăm bước nên Dương- Qua không nghe tiếng Quách Tường.

    Chính thật là Dương- Qua và Tiểu Long nữ đang đến cứu nàng.

    Tuy Thần Điêu là một thiên sanh thần vật, nhưng có thể cũng da thịt xương máu, cho nên thấy tên bay đến càng nhiều, Thần Điêu quạt cánh càng dữ dội.

    Quân Mông Cổ thấy con quái điêu này quá hung ác, vội phi ngựa đuổi theo, dùng trường thương đâm vào nó.

    Dương Qua và Tiểu Long Nữ dùng trường thương gạt phăng hai cây thương này, làm cho hai tên Mông Cổ té nhào xuống ngựa. Hai người, một điêu, tương trợ lẫn nhau, phút chốc đã đến trước mặt đài.

    Dương Qua kêu lớn:

    - Tiểu muội! Có ta đến cứu! Tiểu muội đừng sợ.

    Nói xong chàng chạy nhanh leo lên cái thang lửa chưa cháy kịp. Đi được nửa chừng, bỗng nghe một luồng gió mạnh giáng xuống đất, chính là Kim Luân Pháp Vương từ trên sàn đài giáng xuống một chưởng.

    Dương Qua vận lực vào trường kiếm đẩy lên cao một chưởng cực mạnh. Binh binhÕ hai tiếng nổ kinh hồn, làm cho cả hai lắc lư thân hình. Ca ûhai kinh hãi và đòng nghĩ như nhau

    ÛMười sáu năm gặp lại, công lực của nó vượt bậc thật!

    Dương Qua thấy tình thế quá nguy ngập, vội đưa kiếm lia mạnh lên trên, và dùng hết nội lực đẩy lên trên làm thành một trận cuồng phong. Chưởng phong rất dữ dội.

    Kim Luân Pháp Vương đứng trên sàn đài chỉ có việc giữ và đỡ, chớ không đánh được Dương Qua, vì ông chỉ có bánh xe vàng quá ngắn, không thể đưa tới công đả đói phương.

    Nhờ đó mà Dương Qua vọt mạnh lên mặt đài. Chàng vung kiếm chém mạnh vào lưng đối phương. Pháp Vương không quay đầu lại, mà ông đã lấy một bánh xe vàng đưa trái ra sau lưng đỡ lưỡi kiếm.

    Sau khi đỡ vẹt lưỡi kiếm của Dương Qua, Pháp Vương quay mặt lại giáng xuống mặt chàng một bánh xe vàng.

    Dương Qua hét to:

    - Tặc đầu đà! Ta sẽ quật ngươi xuống đài.

    Vừa hét, chàng vừa né mình một bên đưa ra một thế kiếm gạt mạnh bánh xe vàng. Chàng đã dùng hết sức làm cho lưỡi kiếm lẫn bánh xe rời khỏi tay, cả hai văng xuống đài.

    Pháp Vương và Dương Qua loạng choạng suýt té. Cả hai dùng chưởng lực đánh với nhau. Dương Qua dùng hết tuyệt kỹ võ công, vung ra cốt ý hạ Pháp Vương ở chiêu đầu, không ngờ ông lại đưa ra một chưởng chống trả, hai sức chưởng gặp nhau kêu bùng một tiếng, làm cho cánh tay Dương Qua rúng động.
    Chàng nghĩ:
    Không rõ lão trọc này học ở đâu thế chưởng kỳ lạnh thế? Chưởng lực của ta cũng khá, thế mà bị đánh bạiÕ.

    Chính Kim Luân Pháp Vương cũng kinh ngạc không rõ thế chưởng của Dương Qua là thế chưởng gì? Ông liền rút ra hai bánh xe vàng nữa vung ra đả kích Duong Qua. Tiếng kim khí của lão vung ra kêu u, u, o, o như rồng gầm, tượng rống.

    Dương Qua lại rút cây trường kiếm còn lại đem chống đỡ, Chàng đưa ra một thế ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng. Pháp Vương sử dụng thế Long Tượng Bang Khổ Công đẩy mạnh bánh xe vào trường kiếm phát ra tiếng kêu Ûlách cáchÕ.

    Cây kiếm của Dương Qua gãy làm ba đoạn thoát khỏi tay, rơi xuống đài. Đôi bánh xe của Pháp Vương chịu không nổi chưởng lực ám Nhiên Tiêu Hồn vụt khỏi tay, rơi xuống đài, chúng vào đầu ba tên xạ thủ vỡ sọ chết tươi.

    Ca hai đã một phen loạng choạng, đôi tay họ cảm thấy tê rần. Pháp Vương lại đưa tay vào bọc lấy ra hai bánh xe đồng vung ra một chiêu long tượng nữa.

    Dương Qua hiện giờ trong mình không còn tấc sắt nào, tay tả đưa ra phong lực, tay hữu đưa ra chưởng lực quây quần mình Pháp Vương.

    Quách Tường thấy vậy kêu to:

    - Đại hòa thượng, tôi nói có đúng không? Chính ông đánh không lại Dương Qua đại ca ta? Chính ông đã tự phụ là võ nghệ tuyệt luân, mà tay cầm binh khí đánh với đại ca ta, còn đại ca ta chỉ có một cánh tay không?

    Pháp Vương xì một tiếng, không đáp lời Quách Tường mà vũ lộng hai bánh xe đồng đánh Dương Qua tới tấp.

    Hoàng Dược Sư , Quách Tỉnh, Hoàng Dung vừa lui binh về cứu thành Tương Dương thì thấy Dương Qua, Tiểu Long Nữ và Thần Điêu đến làm tinh thần họ phấn khởi trở lại.

    Hoàng Dược Sư phất mạnh cờ lệnh, gọi năm đạo binh Đông, Tây, Nam, Bắc và trung ương hợp lại mỗi đạo bốn ngành binh thành hai muôn, để triệt hạhai muôn quân Mông trấn giữ trước mặt đài để cứu viện Dương Qua.

    Quân Tống tuy bị thiệt hại hơn phân nửa, nhưng chúng thấy Dương Qua đã đến được trận đài, nên tất cả đều đem hết sức mình liều thân tử chiến.

    Quân Mông Cổ thấy chủ tướng mình bị bức bách và đoàn quân Tống quay lại, nên không còn đủ sức chiến đấu, vì thế càng lúc đạo binh Tống càng tiến đến gần bên đài.

    * * *

    Nói về đạo quân Mông kéo đến công phá thành Tương Dương dưới sự đốc binh của Hoàng Đế, nên tên nào cũng hăng hái đánh phá rất mạnh, nên viên quan trấn thủ là Lữ Văn Hoán chẳng giám leo lên mặt thành, ông khoác áo giáp sắt đi với hai cô thiếp đến bờ lũy nhỏ hầu nguyện ơn thoát chết.

    Hai tên tiểu thiếp lại ưỡn ẹo, mơn trớn với viên quan. Nói toàn những câu nồng nàn, âu yếm.

    Đoàn thám báo đến trước mặt họ bẩm to:

    - Cửa đông quân Mông hàng vạn yểm trợ, cửa bắc chúng ào đến vây hàng muôn, xin Tổng trấn định đoạt.

    Lữ Văn Hoán không biết nói gì, sắc mặt càng nhợt nhạt, lão rên rỉ hỏi:

    - Quách hiệp chưa về ư ? Tại sao lại chẳng lui binh Mông Cổ?

    Bây giờ Dương Qua đã dùng Xích Thủ Không Chưởng, chỉ có một tay mà chống lại bánh xe đồng của Pháp Vương.

    Hai người giao đấu với nhau trên bốn trăm chiêu, mà không thắng nổi, vì mỗi người luyện công một cách không giống nhau.

    Bỗng nhiên Dương Qua nhìn thấy Pháp Vương ném mạnh bánh xe vào mặt Quách Tường. Cô bé này bị trói chặt vào cột cây làm sao né tránh.

    Dương Qua cả kinh tung mình nhảy lên cao, phất mạnh tay áo gạt rơi bánh xe đồng.

    Pháp Vương thừa lúc chàng đang lơ lửng trên không, đánh vào bắp chân chàng một bánh xe đồng.

    Chàng không tài nào tránh kịp, chỉ kêu a một tiếng, bắp thịt nơi vế xẻ một đường máu tuôn xối xả.

    Chàng chưa kịp đứng vững thì Pháp Vương đánh vào Quách Tường một bánh xe đồng nữa, Dương Qua vội cử chưởng đánh.

    Quách Tường kinh hãi kêu lớn:

    - Dương đại ca! Đừng nghĩ đến tôi nữa. Hãy giết lão tăng Tây Tạng mà rửa hận cho tôi.

    Lại nghe Dương Qua kêu a một tiếng, vai trái bị bánh xe đồng đánh vào. Chỉ một lúc bị hai vết thương quá nặng, Dương Qua không thể nào chịu đựng nổi chực ngã xuống đài.

    Tuy vậy chàng cũng gắng gượng chống trả kịch liệt, Quách Tỉnh thấy vậy không biết cách nào cứu giúp cho chàng, chỉ có Hoàng Dung lanh trí hơn, bà đưa tay rút lưới gươm đeo trên mình Gia Luật Tề giáo chỏ Quách Tỉnh và nói:

    - Tỉnh ca! Ném lên cho Qua nhi.

    Quách Tỉnh ước độ từ chỗ đứng đến đài cách xa trên ba bốn chục bước mà đài thìcao trên trăm trượng, khó ném đến, ông với thấy cây thiết huyền cung ra khỏi vai, đặt lưỡi kiếm vào, giương thẳng cánh bắn lên đài. Mũi kiếm như một luồng bạch quang loang loáng thẳng lên đài.

    Trường kiếm kêu vù vù hướng sau lưng Dương Qua bay tới. Cánh tay áo Dương Qua phất mạnh, thanh kiếm bị giữ chặt.

    Đựơc khí giới, Dương Qua vội chống trả mãnh liệt với Pháp Vương. Phía dưới đài, Tiểu Long Nữ, Thần Điêu và Châu Bá Thông hợp sức tấn công đoàn xạthủ Mông Cổ.

    Tiểu Long Nữ và Châu Bá Thông nhìn thấy cầu thang bắc lên đài đã cháy hết nửa, muốn lên cứu, nhưng không biết làm sao?

    Dương Qua ở trên đoán chắc mình sẽ bỏ mạng nơi đây vì mấy trăm thế chưa hạnổi Pháp Vương, nên chàng hướng xuống đài nói to:

    - Long nương, hãy mau về đi, hãy bảo trọng lấy thân.

    Bấy giờ bánh xe đồng của Kim Luân Pháp Vương đã đánh vào mạng môn của Dương Qua, chỉ còn cách trong ba gang tấc. Dương Qua lớp tinh thần mỏi mệt, lớp mang thương tích nặng, nên đầu óc chàng nóng ran.

    Khi thấy bánh xe đồng tới bên mình, tay áo phất mạnh đỡ tay tả đưa ra một chưởng vào ngực Pháp Vương.

    Bỗng nghe giọng nói của Châu Bá Thông vang lên:

    - Tốt nhất là Trì NêĐái Thủy. Đấy là một chiêu trong ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng ông bị Dương Qua đánh ở Vạn Hoa Cốc.

    Dương Qua vô tình thủ bại, quên hẳn các chiêu tuyệt luân trong ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng, nên khi nghe Châu Bá Thông nhắc tới, chàng liền tung ra liên tiếp, nào là Trì NêĐái Thủy, Hồn Bất Thủ Xá, Đảo Hành Nghịch Thi. Nội ba chiêu chưởng này làm cho Pháp Vương rụng rời, tránh không kịp.

    Dương qua thấy mình thắng thế, vội vận hết mười thành lực cho vào chưởng phong, đẩy một chiêu Hành Thế, Đẩu Phục, đánh ngay Đàn Trung Huyệt của Pháp Vương.

    Pháp Vương vì quá mất tinh thần trước mấy chiêu thế khốc liệt, ông không chống đỡ kịp, chỉ u lên một tiếng, miệng phun ra mấy búng máu tươi, rớt xuống đài.

    Tất ca ûquân sĩ hai bên đều không hẹn mà kêu Ûai daÕ kinh sợ. Chúng đã nhìn rõ mọi việc. Quân Tống kêu lên mừng rỡ, còn quân Mông Cổ kêu lên ai bi.

    Bấy giờ ngọn lửa cháy lan tràn, tiếng kêu răng rắc, cái đài đã cháy hết cột.

    Dương Qua nghĩ không thể nào mở trói cho Quách Tường kịp, chỉ còn cách ôm chặt nàng và cột cây, vì cột trụ đã cháy gần đến chân Quách Tường. Dương Qua vận nội lực hô to:

    - Điêu huynh! Điêu huynh! Hãy tiếp tôi. Chàng vừa nói đến đây là cây cột gãy kìa.

    Thần Điêu tuy bay không được, chứ nhảy rất cao, có thể cao hơn mấy trượng. Nghe Dương Qua kêu, Thần Điêu tung mình kên cao trên ba trượng vừa kịp lúc Dương Qua ôm Quách Tường và gốc trụ thừa thế nhầy mạnh lên lưng Thần Điêu và hạ dần xuống đất.

    Pháp Vương bị Dương Qua đánh rơi xuống đài, tuy không đến nỗi phải chết, nhưng đau đớn ê chề. Ông cố chịu đựng, toan đứng dạy để chạy, bỗng một giọng cười ha hả nổi lên, một vòng tay cứng như sắt ôm chặt ngang lưng Pháp Vương. Pháp Vương giật mình quay lại thì ra đó là lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông.

    Lão Ngoan Đồng biết Pháp Vương rất lợi hại, nên giở hết ra siết chặt mình Pháp Vương và ôm ông này chạy như gió vào đống lửa. Pháp Vương bị thương nặng, bất thần lão chưa chuẩn bị để chống chế thì đã bị lão Ngoan Đồng ném mạnh vào biển lửa.

    Thế mới biết những kẻ ngậm máu phun người dơ miệng mìnhÕ. Lão tăng Tây Tạng cốt ý hại Quách Tường chưa thành thì hỏa đài do ông tạo ra đã đốt thân ông.

    Hoàng Dung thấy con mình thoát chết, lòng vui vẻ bồi hồi, bà ngó qua Dương Qua với tia trìu mến biết ơn.

    Trong lúc gấp rút bà không biết nói gì để cảm tạ chỉ biết chạy nhanh đến bên Quách Tường mở trói cho Quách Tường.

    Quách Tỉnh, Hoàng Dược Sư , Nhất Đănng đại sư và Quách Phù tất cả đều mừng rỡ vô cùng. Đạo quân Mông Cổ thấy chủ tường mình đã thác, chúng ùa chạy tán loạn. Năm đạo quân nhà Tống được dịp đánh giết túi bụi.

    Quách Tỉnh thấy vậy ho âto:

    - Tất ca ûtướng sĩ! Chúng ta hãy về thành Tương Dương giết luôn vị hoàng đế xâm lăng.

    Quân Tống nghe lệnh, tất cả đều quay đầu trở về Tương Dương. Họ hướng vào đám quân hậu tập của Hoàng Đế Mông Cổ tiến tới.

    Tiểu Long Nữ xé vạt áo buộc vết thương nơi đùi cho Dương Qua, nàng đau đớn mà chả nói nên lời.

    Dương Qua gượng chịu đau, mỉm cười bảo:

    - Lúc ta giao chiến trên đài, Long nương ở phía dưới có lo lắng không?

    Tiểu Long Nữ má ửng hồng không đáp. Lại nghe tiếng reo hò đắc thắng của quân Tống vang dậy, ào ạt đuổi theo đạo quân Mông.

    Dương Qua hết đau nhức vì Tiểu Long Nữ có đưa thuốc cho chàng uống. Khi khỏe lại, Dương Qua đứng dạy nhìn về đạo quân Mông đang phá thành Tương Dương, quân mã đông bắc mười đạo quân Mông Cổ, đội ngũ rất chỉnh tề, còn đạo quân Tống ào ạt như nước lũ không hàng ngũ đầu đuôi gìcả.

    Dương Qua nói với Tiểu Long Nữ:

    - Long nương! Tên đại gian ác tuy đã chết, nhưng quân địch chưa bại. Ta nghĩ nên đánh nữa, Long nương! Em có lo lắng không?

    Câu nói của Dương Qua nửa muốn nửa không vì sợ nàng phật lòng. Tiểu Long Nữ hiểu ý mỉm cười, nói

    - Qua huynh! Anh muốn đánh thì đánh.

    Bỗng nghe tiếng nói trong trẻo của cô gái phát ra, hướng vào Dương Qua và Tiểu Long Nữ:

    - Đại ca ca! Tôi thật không ngờ Long tỷ tỷ đẹp như tiên nga trên thượng giới.

    Tiểu Long Nữ quay lại nhìn Quách Tường mỉm cười:

    - Tiểu muội ! Đa tạ người đã cầu chúc cho cuộc trùng phùng của chúng tôi. Đại ca người đã nói hết mọi việc cho tôi nghe, cho nên tôi bảo đại ca đưa tôi đến thành Tương Dương để gặp mặt muội muội.

    Quách Tường thở nhẹ nói :

    - Thật là tỉ tỉ xứng với đại ca của tôi !

    Tiểu Long nữ nắm tay nàng tỏ ra thân thiện và trìu mến. Tiểu Long nữ có tính kỳ quặc, đối với bất cứ ai lanh lợi thì nàng không thích. Nhưng nàng được Dương- Qua kể rõ về tình cảm của Quách Tường và khen nàng có nhân có nghĩa, bấy giờ chính mắt Tiểu Long nữ đã trông thấy cô bé này tuổi còn nhỏ mà gan da ïcó thừa, tuy ở trong sự nguy nan mà không tỏ vẻ gì sợ hãi, nên Tiểu Long nữ đã thấy mến ngay.

    Dương- Qua thấy mấy con ngựa chết chủ, đứng ngơ ngác, liền bắt một con, đoạn nói :

    - Ta đi trước mở đường, cả hai có theo không ?

    Nói xong chàng nhảy lên ngựa tung vó đi trước. Tiểu Long nữ và Quách Tường mỗi người một con ngựa đuổi theo DươngQua.

    Ba người giục ngựa về hướng Nam. Họ nhìn về phái thành Tương Dương thấy hàng trăm đám mây cuồn cuộn bay, đó là cát bụi giữ a chiến trường bốc lên.

    Binh Mông Cổ như muôn ngàn con kiến bò bám lên vách thành. Cả ba vội giục ngựa lên gò cao quan sát. Họ đưa mắt nhìn tứ phía, bỗng thấy bhốn ngàn truy binh Mông Cổ đang vây hãm Gia Luật Tề và ba trăm quân Tống. Đạo quân Mông Cổ cầm toàn giáo dài, mâu lớn, mỗi cây giáo dài ngót một thức dư , vung ra loang loáng. Đám tùy tướng của Gia Luật Tề lần lần rơi rụng, lớp chết lớp bị thương.

    Quách Phù thống lãnh một đạo quân, xông vào trùng vây để cứu chồng, nhưng bị hai ngàn binh Mông Cổ cản trở, vợ chồng chỉ lấy mắt nhìn nhau mà không thể đến gần được.

    Quách Phù vội thối lui ra nhìn vào trùng vây, thấy sĩ tốt của chồng mình càng lúc càng ít, biết rằng không thể thoát được, dù võ công cao diệu đến bực nào cũng đành bó tay trước cả ngàn đội binh Mông Cổ.

    Quách Phù cất tiếng khóc òa Dương- Qua đứng cách nàng độ ba mươi thước, thấy vậy liền cất tiếng kêu rằng :

    - Quách đại cô nương ! Hãy cúi đầu lạy ta ba lạy, ta sẽ xông vào trùng vây mà cứu chồng ngươi !

    Chàng tưởng rằng Quách Phù vốn tính kiêu hãnh, thà chết chứ không chịu lạy ai, cho nên mới kiếm lời trêu nàng như thế. Ngờ đâu trái với sự tưởng tượng của Dương- Qua, Quách Phù nóng ruột không suy nghĩ gì cả, nàng giục ngựa đến gò cao chỗ Dương- Qua đứng, nhảy xuống ngựa quỳ mọp lạy lia lịa.

    Dương- Qua cả kinh, vội nhảy xuống ngựa đỡ nàng dậy và vội nói :

    - Tôi nói chơi mà cô nương làm thiệt sao ? Gia Luật huynh với tôi là bạn, không lẽ tôi đứng yên mà chẳng cứu ?

    Chàng liền giục ngựa xuống gò. Trên chiến trường những con ngựa mất chủ đứng rải rác trước mặt chàng. Chàng liền gom chúng lại, kết chặt dây cương. Mười sáu con ngựa chia ra làm hai đội cột chặt bên tả hữu, đoạn hét lên một tiếng, làm cho đoàn ngựa hỏang chạy về hướng Mông Cổ.

    Ngày trước nhà Tống cũng có bày trận này gọi là Liên hoàn giáp mã pháp để vây đánh Lương Sơn Bạc. Nhờ có Liên Hoàn mã trận đó mới đẩy lui đuợc bọn anh hùng Tống Giang Thủy Hử.

    Dương- Qua giật mạnh hai sợi liên hoàn cương, chia mười sáu con ngựa ra làm hai đạo tiến nhanh về phía quân Mông Cổ, theo binh pháp gọi là "Tiểu liên hòan mã ".

    Quân Mông Cổ thấy Dương- Qua xua ngựa về phía chúng, làm chúng ngơ ngác không hiểu chàng đang dùng kỹ thuật gì? Bấy giờ 16 con ngựa ồ ạt như nước lũ, càn đạp lên quân Mông. Chúng có giáo nhọn, gươm dài cũng không cản trở được đoàn quân mã kỵ của Dương- Qua.

    Hai tướng Mông Cổ tiến đến cách Gia Luật Tề chừng ba bước, toan cử giáo giết chàng. Dương- Qua vội đưa ra một chiêu "ám Nhiên Tiêu Hồn Chưởng đẩy mạnh về phía chúng khiến hai tên này té nhào xuống ngựa.

    Vòng vây được nới rộng, vì binh sĩ Mông Cổ thối lui để tránh bầy ngựa. Dương- Qua kêu lớn :

    - Gia Luật huynh ! Hãy thoát ra mau lên !

    Gia Luật Tề cướp được cây đại kỳ, quay ngựa chạy theo Dương- Qua thoát khỏi vòng nguy hiểm.

    Gia Luật Tề nói :

    - Dương thế huynh ! Đa tạngười cứu mạng ! Cả thuộc hạ đều bị vây, tôi đã định liều chết với chúng.

    Dương- Qua bỗng nảy ra một kế liền bảo :

    - Gia Luật huynh ! Hãy đưa cây đại kỳ cho tôi !

    Gia Luật Tề liền đ a cây cờ cho Dương- Qua. Chàng lấy lửa đốt cháy ngọn cờ, đoạn nhảy lên lưng ngựa

    Gia Luật Tề hội ý nói :

    - Thật là diệu kế !

    Chàng thúc ngựa, nhặt lên một cây đại kỳ, dùng lửa đốt cháy, đoạn thúc ngựa theo Dương- Qua.

    Hai người hét to một tiếng, giục ngựa chạy nhanh như gió. Ngọn hỏa kỳ quạt mạnh trên đầu quân Mông Cổ, khiến chúng tóc tai cháy xém, trán phỏng, mặt nám. Quân Mông Cổ đại loạn, cuốn vó chạy dài.

    Gia Luật Tề kiểm điểm lại tàn binh, ba trăm quân chỉ còn sống sót chừng năm sáu mươi người. Chàng kéo lên đồn trú trên gò cao nghỉ ngơi.

    Quách Phù tiến đến bên Dương- Qua, vòng tay cúi lạy hai lạy nói :

    - Dương đại ca ! Tôi cư xử với đại ca thật bất nghĩa, nhưng đại ca khoan nhân đại độ, lấy ân trả oán, lại cứu ...

    Đến đây nàng nghẹn ngào, nói chẳ ng nên lời, chỉ ôm mặt khóc sướt mướt. Dương- Qua thấy nàng biết ăn năn nên mãn nguyện, vội bước đến nâng Quách Phù dậy nói :

    - Phù muội ! Theo ta nghĩ, lúc nhỏ ai chẳng thế ! Nhưng biết lỗi mà sửa, đó là chuyện rất hay, ít người làm được. Phù muội ! Dù sao chúng ta cũng còn nghĩa huynh muội, không nên khách sáo làm gì. Ta chỉ mong từ nay muội tử tế với người khác, đấy là điều ta mong ước.

    Quách Phù ngây người, hồi tưởng lại những việc xảy ra từ 20 năm về trước, bất giác lòng hối hận dâng trào lên khóe mắt. Gương mặt nàng lúc đỏ lúc nhợt, nhiều ý nghĩ kỳ lạnổi lên khuấy động tâm tư .

    Dương- Qua, Tiểu Long nữ, Gia Luật Tề và Quách Tường đứng yên như tượng, đưa mắt nhìn về phía thành Tương Dương khói lửa ngập trời.

    Họ thấy Quách Tỉnh và Hoàng Dược Sư đang xua quân đánh vào đoàn quân hậu tập của Mông Cổ, nhưng thế của quân Tống rất mỏng manh, không hy vọng gì chiến thắng đuợc.

    Vì quân Mông Cổ rợp trời, dưới ngọn cờ mao chín tụi, chúng tràn như bầy kiến đen ngập cả bốn mặt thành.

    Quách Tường hốt hỏang :

    - Dương đại ca ! Tính sao đây ?

    Dương- Qua nghĩ thầm :

    - Ta và Long nhi hội ngộ thật là trời đất ban ơn, dù hôm nay ta có chết đi cũng không oán hận gì. Người trai sinh ra ở đời lấy việc quốc gia làm trọng, chết giữa chiến trường là vinh quang !

    Lòng nghĩ như thế, tâm cơ huyết quản của nguời trai sôi lên sùng sục, chàng quay sang bảo Gia Luật Tề :

    - Gia Luật huynh ! Chúng ta hãy tiến về thành Tương Dương, đánh với chúng một trận. Gia Luật huynh nghĩ sao ?

    Gia Luật Tề nói :

    - Như vậy thì hay lắm !

    Tiểu Long nữ cùng Quách Tường vội lên tiếng :

    - Cho chúng tôi cùng theo với !

    Dương- Qua mỉm cười nói :

    - Tốt lắm ! Ta đi tiền phong mở lối, ai có thương dài cho ta mượn.

    Gia Luật Tề nghe thế liền vẫy đám thủ hạmang đến mỗi người ba bốn cây trường thương cho Dương- Qua sử dụng

  9. #89
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Thần Điêu Đại Hiệp

    Hồi 104(hết) TIẾNG NÓI SAU CÙNG


    Dương- Qua tay cầm trường mâu, giục ngựa chạy như bay tới trước, Thần Điêu cũng giở hết sức lực chạy theo bên chân ngựa.

    Tiểu Long nữ, Gia Luật Tề, Quách Phù, Quách Tường bốn người nối gót chạy theo sau. Dương- Qua nhắm ngay cây cờ mao chín tụi chạy như bay đến. Gia Luật Tề kinh hãi, chàng biết rõ dưới cây cờ mao là chỗ Hoàng đế Mông Cổ ngự, dõng tướng cận vệ trên muôn, tả phù hữu bật toàn là những người cừ khôi cự phách, không lẽ Dương- Qua muốn tự sát hay sao ? Trái lại sanh mạng của mình là do Dương- Qua cứu sống, nếu gã đi vào biển lửa, dù sao mình cũng không nỡ bỏ đi cho đành.

    Họ chạy rất nhanh, chỉ phút chốc đã rời xa mấy dặm, đến gần duới chân thành Tương Dương.

    Bọn tùy tướng của Hoàng đế Mông Cổ thấy Dương- Qua xông đến lướt giáo ngay chỗ đức vua ngự, chúng vội chia quân ra cản trở.

    Dương- Qua vũ lộng cây trường mâu nhắm ngay tên cận tướng Mông Cổ đâm một nhát từ trước bụng xuyên ra sau lưng thì Gia Luật Tề cũng vừa phi ngựa đến tận bên chàng, thuận tay Dương- Qua với chộp cây thương trên tay Gia Luật Tề, vì cây mâu của chàng mắc cứng trong thi thể tên cận tướng, kế đó Dương- Qua phóng mạnh vào tên tùy tùng thứ hai, khi cây thương rút ra khỏi xác, máu phun có vòi, tên cận tướng thứ hai cũng nhào lăn chết nốt. Bọn cận tướng còn đang ngơ ngác thì Dương- Qua đã luớt qua trận. Chúng thân binh sợ Dương- Qua phạm đến Hoàng đế, nên chúng chạy như ong, phân gươm đao giáo mạc ra truy cản Dương- Qua.

    Chúng có biết đâu cánh tay trái của Dương- Qua có một sức mạnh trầm khiếp, chịu nổi muôn cân vì chàng đã dùng kiếm gỗ luyện nội lực suốt mười năm trời dưới làn sóng triều cuồng nộ, bao nhiêu nội lực truyền vào trường thương, dù cho đá cây cũng phải tan nát thì xương thịt con người chịu sao cho thấu. Cho nên cây truờng thương bay đến đâu là đầu rơi máu đổ đến đấy, chỉ trong khoảnh khắc chàng đã giết chét trên mười mấy tên thân binh Mông Cổ.

    Dương- Qua đã lạc giữa rừng gươm, nhưng chàng đi như vào chỗ không người, chỉ phút chốc chàng đã mở một con đường máu đến gần Hoàng đế Mông Cổ. Hai tên tả phù, hữ u bật vội nhảy đến trước mặt Hoàng đế làm bia đỡ giáo sắt của Dương- Qua. Dương- Qua hớp vào một luồng chân khí, tay vung ra cây trường thương gạt mạnh làm cho chúng ngã nhào xuống ngựa chết tốt. Hoàng đế Mông Cổ hồn vía lên mây, vội kéo cương con tuấn mã quay sang một bên, chạy dài.

    Con ngựa của vua Mông Cổ là một loại Thần mã , cổ điểu lưng rộng, tiếng hí như sấm, bốn vó như phong, có tên là "Phi vân mã ", tương đương với con Hãn huyết bảo mã của Quách Tỉnh cưỡi. Dương- Qua nhìn thấy Hoàng đế Mông Cổ giục ngựa chạy như bay biến, chàng biết loại ngựa mà vua cưỡi, nếu không phải Long Câu thì cũng là Thần mã , nên giục ngựa đuổi nhanh, nhưng càng đuổi nhanh thì con tuấn mã của vua Mông Cổ càng lúc càng xa. Dương- Qua sợ mất mồi, vội tung mình xuống ngựa chạy lẹ hơn gió, phút chốc đã đến sau lưng Hoàng đế Mông Cổ, chàng vung trường thương loang loáng nhắm ngay lưng Hoàng đế đâm tới, những tên thân binh hầu cận rụng rời đưa mắt nhìn nhau, lại thấy con Phi vân mã quay đầu lại rất nhanh, cây trường thương của Dương- Qua chỉ cách lưng Hoàng đế trong gang tấc, cây trường thuơng mất đà văng ra ngoài.

    Quân Tống ho âto : "Hỏng rồi !" Quân Mông Cổ cả mừng la vang : "Vạn tuế ! Vạn Tuế !" Lúc bấy giờ phía sau lưng Dương- Qua có Nhất-đăng đại sư , Hoàng Dược Sư , Quách Tỉnh, Hoàng Dung đuổi theo rất gấp, nhưng họ đã giục ngựa buông cương. Đàn ngựa này cũng không theo kịp con Phi Vân Mã của vua Mông Cổ, thành ra họ muốn đến trợ giúp cho Dương- Qua cũng không được.

    Hoàng đế Mông Cổ có cơ hội thoát nạn, phi ngựa chạy như bay, khi quay đầu lại thấy Dương- Qua còn cách mình khá xa, trong lòng hoan hỉ vô cùng, giơ cao cây trường mâu và kéo một muôn quân đi về hướng Tây. Đạo quân này thấy Hoàng đế mình thoát nạn, cất tiếng hò reo vang trời dậy đất. Dương- Qua bản lãnh cao cường như thế mà không đả thương đuợc Hoàng đế Mông Cổ, chàng tức giận bồi hồi, vùa giở hết nội lực khinh công chạy như bay đuổi theo, vừa chạy vừa nghĩ thầm :

    - Cây trường mâu này khá nặng, khó phóng xa được, tại sao ta không dùng đá nhỏ ?"

    Nghĩ đoạn, Dương- Qua lấy ra hai hòn đá nhỏ, thi triển môn Đàn chỉ thần công, phi một viên vào đôi chân Phi Vân Mã , làm cho con ngựa đau quá hí lên một tiếng to, nhảy dựng đứng hai chân trước, nhưng không quăng đuợc Hoàng đế Mông Cổ rơi xuống đất đuợc. Bởi vì Hoàng đế Mông Cổ từ thủa bé thơ đến nay chuyên cưỡi ngựa bắn cung, nối chí tổ phụ là Thành Cát Tư hãn và theo sự chỉ dạy của phụ hoàng là Đà Lôi cho nên ngồi trên lưng ngựa có thể ăn, uống, nghỉ ngơi, dù cho biến cố thế nào cũng khó rơi ngã ngựa đuợc. Khi con Phi vân mã vừa nhảy dựng lên là ông rút loan cung ra, đặt vào một mũi tên dài nhắm ngay Dương- Qua bắn tới.

    Dương- Qua cúi đầu tránh khỏi, thuận tay vung ra mấy viên đá to, nhỏ, theo chỉ pháp Đàn chỉ thần công bắn ngay ngực Hoàng đế Mông Cổ.

    Hoàng đế Mông Cổ không tài nào tránh kịp đòn sát thủ lợi hại này, trúng ngay một thạch chưởng như cả ngọn núi đổ tới, làm cho xương ngực bể tung, máu huyết bắn ra rất ghê sợ, không kịp la lên tiếng nào đã té xuống ngựa chết tốt.

    (Tác giả Kim Dung viết theo Nguyên sửÕ trong quyển thứ ba có viết rằng : OĐười vua Hiến Tông tên húy là Mông Ca, kế vị Hoàng đế Đà Lôi ... Đời Hiến Tông thứ chín vào tháng hai Bính Tý, Hoàng đế ngự giá thân chinh công thành Tương Dương bên Trung Nguyên. Công phá lúc thắng lúc bại... đến ngày Quý Hợi, đế băng... không để lại di ngôn nào ...

    Theo tài liệu của Tục thông giám, ... Hiến Tông hoàng đế là vị vua cương minh hùng tráng...đốc quân công thành... không ngờ... chúa tể đã thăng hà... Sử Thiên Trạch với quần thần chịu tang nơi đất Bắc...

    Tài liệu Tục thông giám khả o dị chép : Nguyên hoàng đế Hiến Tông hành quân đ lâu... ngày Quí Hợi... bị xạthạch, đế băngÕ.

    Tác giả dựa theo lịch sử mà viết ra đúng theo Nguyên sử chứ không thêm bớt, có chăng là đề cao tinh thần quốc gia Trung Nguyên mà thôi)

    Đoàn binh Mông Cổ thấy nhà vua rơi xuống ngựa, tất cả đều kinh hoàng, chúng xúm lại vực hoàng đế lên và rút lui. Quách Tỉnh thừa thế đuổi theo truy kích.

    Chúng binh Mông Cổ thấy tường tận nhà vua bị trúng thương súyt té ngựa hai lần, và bấy giờ Hoàng đế lại băng hà làm cho chúng tiêu tan tinh thần chiến đấu. Hai tên phụ bật vội giựt xác nhà vua chạy thoát hiểm.

    Quách Tỉnh thừa thế rượt theo, quân trong thành cũng mở toang cửa ùa ra như nước vỡ bờ. Hoàng dược Sư , Hoàng Dung, Quách Tỉnh đồng huy động nhị thập bát tú trận tàn sát quân Mông Cổ chết vô số kể. Quân Mông Cổ đạp lẫn nhau chạy trối chết về hướng Bắc.

    Quách Tỉnh đang đuổi theo, bỗng thấy một đạo quân hàng ngũ rất chỉnh tề, trong quân đưa đến có cờ mao chín tụi, chính là Hiệu kỳ của Hoàng đế Hốt Tất Liệt, đoàn bại binh thấy cứu tinh đến liền xếp thành hàng gia nhập vào đoàn quân của Hốt Tất Liệt.

    Tuy Hốt Tất Liệt trị quân rất nghiêm, nhưng bị đoàn bại binh nhập vào và đồn rầm lên là Hoàng đế đã băng hà. Hốt Tất Liệt thấy tình thế rất nguy ngập, vội xuất vài trăm quân đi đoạn hậu để mấy muôn tàn binh rút lui. Quách Tỉnh truy đuổi theo trên ba mươi dặm mới trở về theo sự triệu hồi của biên thủ thành Lữ Văn Hoán, quân Tống ca khúc khải hoàn trở lại thành Tương Dương.

    Đêm ấy trong thành Tương Dương bày yến tiệc linh đình để khao ba quân tướng sĩ. Quách Tỉnh bỗng nhiên cảm thấy lòng chua xót, nhớ lại ơn sâu của sư phụ Hồng Thất Công.

    Mông Cổ Hoàng đế thân bị tan nát dưới thành Tương Dương nên quân Mông Cổ rút cả về Bắc. Bá tánh trong thành ngoài quận, nhà nhà treo đèn kết hoa làm lễ ăn mừng.

    Tuy họ phải chịu cả như cha xa con, vợ mất chồng, nhưng họ rất vui, vì gia đình mình đã đem xương máu bảo vệ ngọn rau tấc đất, sống làm tuớng, chết làm thần.

    Đêm nay trong dinh quan trấn thủ Lữ Văn Hoán bày tiệc yến để khánh hạ. Lữ Văn Hoán thấy Dương Qua đã lập được công đầu nên nài nỉ chàng ngồi ghế chủ tọa bữa tiệc. Dương Qua nhất định chối từ. Mọi người nhường chỗ cho nhau rất lâu, sau cùng Nhất Đăng đại sư ngồi ghế đầu, tiếp đến là Hoàng dược Sư , Châu- bá- Thông. Dương Qua, Tiểu Long nữ và Gia Luật Tề ngồi sau. Lữ Văn Hoán trong lòng chẳng vui vì nghĩ : Hoàng đảo chúa, hòa thượng Nhất Đăng tướng mạo rất hiền từ nhưng võ nghệ cao siêu đáng trọng, chỉ có lão Châu- bá- Thông là không được đứng đắn lắm, mà để ngồi trên sao coi được ? Tất cả quần hùng ăn uống luận bàn, ai cũng khoe chiến quả của mình, duy có Lũ Văn Hoán thẹn thùng không nói được nửa câu.

    Rượu được vài tuần, từ quan viên, đại tướng, đến thân binh lần lượt đến chúc tụng Quách Tỉnh và Dương Qua. Họ tán dương ca tụng hai người, nào là tài ba lỗi lạc, võ nghệ siêu quần, cừ khôi cự phách, đại hào kiệt, đại anh hùng, làm cho Quách Tỉnh và Dương Qua nhắm ít rượu của mỗi người mà muốn say.

    Quách Tỉnh nhớ đến công ơn của sư phụ, bèn nói :

    - Sở dĩ Quách mỗ lập được kỳ công, là nhờ Toàn Chân giáo chủ Khưu Xứ Cơ, với bả y vị ân sư từ xa lặn lội đến Mông Cổ, và công ơn lớn là của Hồng Thất Công nuôi dạy mới có được ngày nay. Hôm nay quý vị hoan hô chúc tụng, tôi xin dâng lên anh hồn của các vị ân sư , trừ ra Kha ân sư là người danh tiền ! Theo tôi nghĩ chúng ta nên tưởng niệm anh hồn những người đã khuất.

    Nhất Đăng biết rõ việc này, nên tỏ vẻ chia sẻ tâm tình với Quách Tỉnh. Riêng viên sứ quân Lữ Văn Hoán là một văn quan bổ nhiệm, có óc khinh người, lại thêm tự tôn tự đại, nên ông nghĩ thầm :

    - Bọn thảo mãng này thật không biết kính trọng là gì. Thực là phường cỏ dại, hoa đường không biết lễ phép, đang khi vui vầy khánh chúc, nó lại đem người chết ra tán tụng, thật vô lễ hết sức.

    Quách Tỉnh lại nói :

    - Bây giờ đại sự đã yên, tôi muốn ngày mai chúng ta lên đỉnh Hoa Sơn mà tảo mộ cho ân sư .

    Dương Qua nói tiếp :

    - Chính tôi cũng muốn nói câu này, vậy chúng ta đi cùng một lượt được chăng, Quách bá bá ?

    Nhất Đăng, Hoàng dược Sư ,Châu- bá- Thông ngồi yên đợi mọi người tưởng niệm các vị lão hữu đã tạ thế, cũng tán đồng ý kiến của Quách Tỉnh, Dương Qua. Đêm nay quần hùng họp nhau ăn uống chuyện trò đến nửa đêm mới đi nghỉ.

    Sáng hôm sau, họ tụ tập nhau lại trước dinh của Lữ Văn Hoán để chia tay, quan quân và dân chúng đều cảm ơn Quách Tỉnh và quần hùng, nên hợp thành đoàn đưa ra khỏi cửa Bắc trên dặm dường mới trở lại, đoàn người thẳng hướng Hoa Sơn tiến tới.

    Riêng Châu- bá- Thông, anh em họ Võ, Lục Vô Song và Tứ Thủy Ngư ẩn thương thế chưa lành, nên cả đoàn phải cho ngựa đi chậm để chờ mấy người này. Lúc bấy giờ không còn việc gìquan hệ, nên quần hùng thong thả, đi rất chậm độ 10 dặm đường mỗi ngày.

    Không đầy mười ngày sau, đoàn người đ đi đến chân núi Hoa Sơn, những người bị thương nhờ dưỡng sức lúc đi đường cho nên đến nơi họ đã thuyên giảm rất nhiều.

    Từng người một leo lên núi. Dương Qua đưa Quách Tỉnh đến nơi phần mộ của Âu Dương Phong và Hồng Thất Công,

    Hoàng Dung thìở dưới chân núi mua cải tươi, gà béo để làm cỗ, vì lúc sanh tiền Hồng Thất Công rất thích món gà hấp cải nên Hoàng Dung làm cúng để tưởng niệm.

    Tất cả quần hùng đều bái lễ trước mộ phần của Hồng Thất Công, riêng Quách Tỉnh do dự không muốn lạy vì ngôi mộ của Hồng Thất Công nằm ngay kế mộ của Âu Dương Phong Tây Độc là người thù không đội trời chung của Quách Tỉnh. Lúc Âu Dương Phong còn sống đã giết chết các ân sư của ông là Châu Thông, Hàn Tiểu Oanh, Hàn Bửu Câu. Tuy đó là chuyện đã qua, nhưng Quách Tỉnh vẫn chưa quên mối đại thù, cho nên ông đứng xéo qua một bên để lạy mộ Hồng Thất Công. Chỉ có Dương Qua và Tiểu Long nữ nhớ đến cựu tình của Âu Dương Phong là cha nuôi nên đến trước mộ Âu Dương Phong lễ bái.

    Châu- bá- Thông cũng đến trước mộ Âu Dương Phong xá vài cái và kêu lớn :

    - Lão độc vật ! Bớ lão độc vật ! Lúc sanh tiền ngươi tạo ác đa đoan, lúc chết lại xui cho ngươi được nằm bên lão Hồng, khiến cho người không muốn nhìn, cũng phải lạy ngươi, thực là tam sanh hữu hạnh cho ngươi. Hôm nay mọi người đều quỳ bái lão Hồng mà không ái ngó ngàng đến mồ mả của ngươi. Chỉ có vợ chồng thằ ng nhãi con Dương Qua là nó cúi đầu trước mộ ngươi, vậy hồn ngươi có linh thì về mà chứng chiếu!

    Nói xong ông giả bộ khóc hu hu, làm mọi người đều cười ầm lên. Mọi người bày rượu cải gà ra ăn uống trước mộ. Xảy nghe từ sau núi đưa đến những tiếng binh khí chạm nhau loảng xoảng, nghe rõ thật là có tiếng hò hét đánh nhau.

    Châu- bá- Thông lật đật quăng chén đũa chạy ra sau núi xem, vài người cũng bỏ dỡ cả ăn uống chạy theo Châu- bá- Thông, khi chạy qua khỏi hai ngọn đồi nhỏ, họ thấy một nhóm người tụ hội trên mặt đá phẳng, già có, trẻ có, cao có thấp có, cả tăng lẫn tục, cả nữ lẫn nam, mỗi người đều cầm trên tay một thanh kiếm hoặc đao.

    Mọi người đang đánh kịch liệt, nhìn thấy Nhất Đăng, Hoàng dược Sư , Quách Tỉnh đến, đều cho là khách du sơn không ai thèm ngó tới. Lại thấy một tên đại hán thân thể như hộ pháp cất tiếng nói to :

    - Chúng ta không nên đánh nhau để làm trò cười cho thiên hạ. Chỉ có cãi nhau về danh hiệu Thiên hạđệ nhất cao thủ mà nỡ đánh nhau ư ? Hôm nay hảo hán các nơi kéo về đây tụ hội, thì chúng ta hoặc đao kiếm, hoặc chưởng cước, hãy đem ra tranh hùng. Để xem ai thắng ai bại, chừng nào chúng ta khâm phục thực sự, thì hãy tôn người ấy lên làm Đệ Nhất Cao Thủ, phải vậy chăng ?

    Lão già râu dài, vung kiếm múa loang loáng nói :

    - Đúng đấy ! Lão có nghe các giới võ lâm đồn đại, trên đỉnh Hoa Sơn có câu chuyện Hoa Sơn luận kiếm, thì chúng ta cũng nên ngồi luận bàn lại, để xem kẻ anh hùng đuơng thời hiện ở đâu.

    Bọn họ đều ho âto Ûđ ồng ýÕ, tất cả đều ngưng lại không đánh nhau nữa. Một người có vẻ cao nhất bọn, chống kiếm hô to :

    - Có vị nào dám tỉ thí với ta ? Hãy vào đây !

    Vừa nói vừa nhìn sang nhóm người của Đông Tà, Nam Đế như khiêu khích.

    Châu- bá- Thông, Hoàng dược Sư và Nhất Đăng tất cả nhìn bọn này, không biết một người nào cả.

    Lần thứ nhất luận kiếm Hoa Sơn, thì Quách Tỉnh vẫn chưa ra đời, chỉ có Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái và Trung Thần Thông năm người họp nhau tranh quyền làm chủ quyển Cửu Âm Chân Kinh, họ ước hẹn tại đỉnh Hoa Sơn để đấu võ, người nào võ nghệ cao nhất sẽ được quyền giữ Cửu Âm Chân Kinh, kết quả Vương Trùng Dương Trung Thần Thông chiến thắng cả bốn người, được tôn xưng là Thiên hạ đệ nhất cao thủÕ.

    Đến hai mươi lăm năm sau, Vương Trùng Dương đã tạthế. Lần này Hoàng dược Sư mở cuộc luận kiếm tại Hoa Sơn, vẫn còn đủ Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, nhưng vẫn thiếu một vị thế vào ngôi Trung Thần Thông. Lúc ấy có Châu- bá- Thông, Cừu Thiên Nhận và Quách Tỉnh ba người sau tham dự, tuy mỗi người đều là tay cự phách nhưng chẳ ng ai thắng nổi các phương vị Đông Tây Nam Bắc, cho nên cái chức Thiên hạ đệ nhất cao thủÕ không về tay ai cả. Không ngờ ngày hôm nay tình cờ lại thấy một cuộc luận kiếm thứ ba, không ưước hẹn. Hoàng dược S lấy làm ngạc nhiên lắm, nếu bọn này mở cuộc luận kiếm Hoa Sơn thì ít ra trong nhóm người này ông cũng biết được một hoặc hai chứ, có lẽ nào lại phù hợp với câu :

    Trường Giang hậu lăng suy tiền lăng Nhứt bối tâm nhân thắng cựu nhân

    Dịch :

    Sông Trường Giang sóng sau đè sóng trước, nguời mới thắng người xưa ?

    Có lẽ nào ta là Hoàng dược Sư mà lại là hạng người ếch ngồi đáy giếng ? Lại thấy trong nhóm người này, có sáu người cầm gươm đao giáo mác nhảy ra đánh túi bụi. Qua vài thế võ, Hoàng dược Sư , Châu- bá- Thông nhìn thấy tức cười nôn ruột, chính đại sư Nhất Đăng là người ôn hòa thuần hậu, nghiêm nghị từ bi cũng nhịn không được, mỉm cười chúm chím.

    Vài phút sau, Châu- bá- Thông, Hoàng dược Sư , Dương Qua, Hoàng Dung, Quách Tỉnh tất cả đều người cười khúc khích, người cười hi hí, chỉ có Châu bá- Thông cười lên ha hả.

    Nguyên mấy người này mới học đâu đuợc vài thế võ Thần đồng tấn nhứtÕ, ÛMai hoa quyền thực là hạng bét của võ lâm, nếu đem ra so sánh thì sẽ thua xa hai chị em Quách Phù, hoặc anh em họ Võ. Vậy mà chúng dám đại ngôn lên Luận kiếm Hoa Sơn để tranh chức Thiên hạ đệ nhất cao thủÕ, tuy chúng thuộc vào hàng tiểu bối hạ thừa, nhưng múa máy trông rất ngoạn mục. Sáu người này đang đánh nhau say sưa, họ thấy Châu- bá- Thông ôm bụng cười dài, tức giận không đánh nhau nữa mà hét to :

    - Không biết sống chết ất giáp gì mà cười à ? Lão già đang tỉ võ luận kiếm hay sao chứ ? Tất cả các ngươi hãy xuống núi tức khắc nếu không chúng ta làm hại đến tính mạng thì chớ than !

    Dương Qua chẳng nói gì, vận nội lực dồn vào ngũ tạng, đoạn cất tiếng cười ha hả vang dội, rúng động cả gió núi mây ngàn, lúc đầu chàng cười có vẻ vui tươi, kế đến là một tràng cười điên dại, tiếng cười nặng nề làm cho cây rừng rung chuyển, tiếng cười tựa sấm động núi băng, tiếng cười nghe rầm rầm rộ rộ như muôn binh thao luyện ! Tiếng cười o o vu vu như muôn mũi tên bay. Tiếng cười của Dương Qua làm sáu tên này run cầm cập, bao nhiêu vũ khí binh đao rớt nhào xuống đất. Dương Qua thấy vậy bước lại nói :

    - Ta sẽ lãnh giáo tất cả ! Cả bọn mười người lớp lết, lớp bò, ngổn ngang như cua, không dám lượm võ khí hay quay đầu lại, chỉ la lên :

    - Chạy mau ! Chạy mau ! Thần Điêu Đại hiệp giá lâm !

    Trong khoảnh khắc chúng chạy xuống núi mất dạng. Bà Anh Cô, Quách Tường và Quách Phù cười nôn ruột nói chẳng ra lời. Bọn háo danh doạ người, chúng không dè trước mặt chúng là những người đã Luận kiếm Hoa Sơn từ lần đầu tiên.

    Châu- bá- Thông trịnh trọng nói :

    - Ngày trước trong thiên hạ có Ngũ Bá, bây giờ Tây Độc, Bắc Cái, Trung Thần Thông đã khuất núi, hôm nay trong võ lâm chỉ còn hai người làm sao xưng được Võ lâm ngũ bá ?

    Hoàng Dung mỉm cười nói :

    - Nhất Đăng đại sư và gia gia võ công trác tuyệt quần hùng, thì vẫn còn giữ lại hai ngôi Đông và Nam. Hôm nay muốn lập lại Ngũ Bá thì cũng chẳng khó khăn gì. Như tiểu điệt Hoàng Dung đây có thể gọi là nối chí cho Bắc Cái là một, và Dương Qua tuy tuổi còn trẻ, nhưng võ công trác tuyệt, thống lãnh quần hùng, lại là con nuôi của Âu Dương Phong, có thể nối chí Tây Độc.

    Châu- bá- Thông lắc đầu nguầy nguậy nói :

    - Không được ! không được !

    Hoàng Dung hỏi :

    - Tại sao không được ?

    Châu- bá- Thông nói :

    - Âu Dương Phong xưng là Tây Độc, tâm tính độc địa ! Còn Dương Qua hiền lành, lại độc thủ, gọi là Tây Độc nghe không ổn, và không xác nghĩa.

    Hoàng Dung cười nói :

    - Nếu vậy thì chúng ta cải lại các danh hiệu thì mới ổn. Gia gia không cần phải cải danh hiệu nữa, cứ xưng là Đông Tà như cũ là được. Nhất Đăng đại sư không còn là Hoàng đế mà là hòa thượng, gọi là Nam đế không được, nên đổi lại là Nam Tăng. Còn Qua nhi, theo tôi nên đặt cho nó một chữ ÛCuồng là hạp nhất ! Vậy Lão Ngoan đồng nghĩ xem : Đông Tà, Nam Tăng, Tây Cuồng có ổn chăng ?

    Hoàng dược Sư nói nhanh :

    - Hay lắm, hay lắm ! Đông Tà, Tây Cuồng, một già một trẻ, là hợp ý ta nhất. Danh hiệu này ta đồng ý lắm. Qua nhi, ngươi thấy sao ?

    Dương Qua khiêm tốn nói :

    - Tôi tuổi trẻ tài sơ, đâu dám cùng quý vị tiền bối sánh vai ?

    Hoàng dược Su nói :

    - Tốt lắm, người bạn nhỏ ! Người bằng lòng nhận chữ Tây Cuồng đi ! Vì cuồng mà không dại thì đã sao ? Phải nói là hôm nay danh dự của ngươi đã khá cao, võ công lại tuyệt giỏi, có thể hơn Lão Ngoan đồng một phần.

    Sở dĩ Hoàng dược Sư nói thế là thấy Hoàng Dung không đề cập đến Lão Ngoan đồng, biết là con gái mình muốn kiếm chuyện khích cho lão tức giận chơi, nên ông kiếm chuyện nói ra.

    Dương Qua đã rõ ý Hoàng Dung, nên ngó Tiểu Long nữ mỉm cười và bảo :

    - Chữ Cuồng thực hợp với ta lắm.

    Châu- bá- Thông ngó Hoàng Dung châm bẵm, nói :

    - Bé Dung, ngươi đã cải Đông Tà, Nam Tăng, Tây Cuồng, còn Bắc Cái không cải hiệu hay sao ?

    Chu Tử Liễu nói :

    - Hào kiệt đương thời, ai ai cũng suy tôn Tỉnh huynh là Quách đại hiệp, đã mười năm bảo quốc an dân, cố thủ thành Tương Dương, thực xứng với danh hiệu hiệp sĩ lắm. Theo tôi nghĩ ít có người bì kịp. Vậy ta nên cải lại là Bắc Hiệp, ắt mọi người sẽ cảm phục.

    Nhất Đăng và Võ Tam Thông đều vỗ tay đồng ý. Hoàng dược Sư nói :

    - Đông Tà, Tây Cuồng, Nam Tăng, Bắc Hiệp, vậy là đủ và hợp danh nghĩa lắm. Chỉ có Trung ương còn thiếu một vị, không rõ nên chọn ai và cải danh hiệu thế nào ?

    Châu- bá- Thông ngó Hoàng dược Sư trân trối, chỉ thấy lão ngó lại ông mỉm cười và nói :

    - Dương phu nhân là Tiểu Long nữ là người đệ tử chính tông của Cổ Mộ phái, là ái đồ của Lâm Triều Anh nữ hiệp, oai trấn giang hồ, nàng có thể nối chí được Vương Trùng Dương chân nhân. Vả lại, phái Cổ Mộ còn di truyền môn Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp. Hôm nay anh hùng nữ hiệp họp nhau ở Hoa Sơn đỉnh để luận kiếm, chứ không phải chỉ có việc đổi danh hiệu. Dương tiểu huynh đệ lại học được võ công từ phu nhân, tất nhiên gọi vợ là thầy, không lẽ đệ tử nổi danh trong Ngũ Bá mà lại không đề cập đến thầy hay sao ? Vậy theo ý tôi nên chọn Tiểu Long nữ vào Trung ương để nối chí Trung Thần Thông là nhất với chữ Thiên ha ïđệ nhất cao thủÕ!

    Tiểu Long nữ cả cười nói :

    - Việc này muôn ngàn lần tôi không dám dự !

    Hoàng dược Sư cố tình trêu chọc Châu- bá- Thông nên nói tiếp:

    - Nếu Dương phu nhân không nhận thì để cho Dung nhi vậy ! Quách phu nhân võ công quán chúng, mưu lược xuất thần, từ xưa đến nay lấy trí thắng lực, có thể liệt nó vào hàng Võ Lâm Ngũ Bá, nối chí Vương Trùng Dương mà an vị ngôi Trung ương !

    Châu- bá- Thông vỗ tay cười nói :

    - Hay lắm ! Hay lắm ! Ta nói thật chứ Hoàng lão tà hay Quách đại hiệp ta cũng không phục đâu. Ta chỉ phục con bé Dung là có thể đứng vào hàng võ lâm ngũ bá, xứng đáng chữ Thiên hạđệ nhất cao thủÕ, lão đồng ý, đồng ý !

    Mọi người đều ngơ ngác, không ai ngờ lão lại nói thế. Chính ra Hoàng dược Sư và Nhất Đăng biết Châu- bá- Thông xứng đáng đứng trong ngũ bá, nhưng sở dĩ Hoàng dược Sư không đề cập đến lão, cố tình đưa Hoàng Dung lên làm chức vị Trung ương là muốn trêu chọc khích nộ lão cho vui. Không ngờ lãa lại không nghĩ tới điểm gì về vấn đề này, thật là một người xứng đáng trọng vọng, thiên tính hiền hòa, không ham danh háo lợi, quyết không nghĩ đến mình thuộc hàng tiền bối cao nhân.

    Hoàng Dược sư nói :

    - Lão Ngoan đồng ! A ! Lão Ngoan đồng ! Thực chỉ có Châu huynh mới xúng dáng được nể trọng hơn ai cả ! Ta Hoàng lão ta danh hiệu đạm bạc, Nhất Đăng đại sư danh hiệu Hảo, chỉ có Châu huynh tấc lòng trong sạch, không bợn chút bụi đời, vả lại cái danh hiệu Ngoan đồng rất phù hợp. Vậy thì ta nên đặt lại danh hiệu ngũ bá như thế này : Đông Tà, Tây Cuồng, Nam Tăng, Bắc Hiệp, Trung Ngoan đồng. Trong hàng ngũ bá, Châu huynh đứng đầu phải chăng ?

    Mọi người nghe võ lâm ngũ bá xưng danh Đông Tà, Tây Cuồng, Nam Tăng, Bắc Hiệp, Trung Ngoan đồng, cái danh hiệu nghe qua rất quái gở, ai cũng bắt tức cười.

    Sau khi phân chọn xong, môĩ người đi xuống núi Hoa Sơn dạo xem phong cảnh.

    Dương Qua đưa tay chỉ ngọn đồi Ngọc nữ và bảo Tiểu Long nữ :

    - Long nương ! Em có Ngọc nữ kiếm pháp, tại sao chúng ta không đến dạo chơi đồi Ngọc nữ ?

    Tiểu Long nữ cả cười nói :

    - Nên đi chứ !

    Hai người nắm tay nhau đi lên đồi Ngọc Nữ, dọc theo đường lên đồi hai bên lộ hoa cỏ xinh tươi, hương hoa của núi rừng bay bát ngát, khi đến ngọn đồi thấy một tòa miếu nhỏ, trước miếu có một con ngựa đá đứng chầu vào. Nhìn lên tấm hoành treo trước miếu có đề Ngọc Nữ TừÕ, bước vào trong thất bên hữu của ngôi miếu có một hòn đá lõm sâu chứa một vũng nuớc xanh biêng biếc. Lúc Dương Qua ở Hoa Sơn có nghe Hồng Thất Công kể lại, liền day qua bảo Tiểu Long nữ :

    - Đây là nơi gội đầu của Ngọc nữ, quanh năm nước không cạn.

    Tiểu Long nữ nói :

    - Vậy chúng ta nên vào chánh điện để lạy cầu chư vị thần linh !

    Hai người bước vào chính điện, nhìn thấy tượng thần Ngọc Nữ đã phai màu vàng mạ, nhưng dung nhan cực kỳ diểm lệ, mắt phượng mày ngài, mũi thẳng, mồm hoa, oai phong lẫm liệt, thực giống tượng Lâm Triều Anh ở Cổ Mộ. Cả hai đều kinh ngạc nói :

    - Không lẽ đây là tượng của Sư tổ ?

    Dương Qua nói :

    - Lâm sư tổ thủa xưa hành hiệp khắp thiên hạ có nhiều người mộ ân mến đức, lập miếu mạo để thờ, cũng có lẽ miếu này thờ Lâm sư tổ !

    Tiểu Long nữ ngẫm nghĩ giây lâu rồi nói :

    - Chắc hẳn là thế. Nếu là vị tiên cô thường thì ai lại tạc thạch để thờ, chỉ có Lâm sư tổ suốt đời hành hiệp, tung vó ngựa khắp nơi, mới có tạc thạch ghi công đức người anh thư nữ kiệt.

    Họ đứng một lúc lâu, cả hai vì lòng sùng kính họ cúi xuống khấn thầm :

    - Xin tổ sư chứng giám cho chúng tôi được bền duyên tơ tóc đến trăm năm !

    Khấn xong hai người đứng dậy bước đến gần thần tượng để chiêm ngưỡng. Bỗng có tiếng chân động nhẹ sau lưng, hai người quay lại thì thấy Quách Tường.

    Dương Qua vui mừng nói :

    - Tiểu muội tử, hãy cùng đi du ngoạn với chúng tôi nhé !

    Quách Tường nói :

    - Được vậy thì còn gì bằng !

    Dương Qua đi trước, Tiểu Long nữ nắm tay Quách Tường theo sau. Khi ba người đi ra khỏi điện thờ độ mười bước, họ thấy một hòn đá to nằm về phía hữu, cả ba đi lại xem thấy khuất sau hòn đá này là một cửa hang. Quách Tường nhìn vào trong, cảm thấy một luồng gió lạnh hắt vào mặt, cả ba vội bước vào trong. Thấy hang này sâu không kém cái hang ở Tuyệt Tình Cốc, nhưng có lối đi lần xuống rất dễ, cả ba đã quen nguy hiểm nên không còn biết sợ là gì, vẫn bước xuống hang sâu. Tiểu Long nữ nắm chặt tay Dương Qua và Quách Tường nói :

    - Hãy cẩn thận !

    Dương Qua nói :

    - Chẳ ng lẽ cái hang này đi không ra sông Hoàng Hà hay sao ? Hoặc nó ăn thông xuống Thủy phủ ? Đời Đuờng Huyền Tông có hạn ở phương Bắc, vua Đường viết thư cầu mưa, đem thả xuống sông Hoàng hà để mong thư này được đưa xuống Thủy phủ ?

    Quách Tường nói :

    - Vậy sông Hoàng hà đáng ngại lắm sao ?

    Dương Qua nói :

    - Ta nghe lời truyền tụng của mấy bô lão chứ chưa đi đến nơi này, không rõ sông Hoàng hà có đi thông xuống địa phủ chăng ?

    Quách Tường nói :

    - Lúc Đường Huyền Tông hạ chiếu đồ thư , chắc là có Duơng Quý Phi ở bên cạnh. Vậy chiếu chỉ của Hoàng đế gửi đi có cầu được mưa không ?

    Dương Qua cười nói :

    - Tiểu muội hỏi ta, ta chẳng biết trả lời sao. Những việc của nhà trời làm sao ta biết ! Trời muốn mưa là mưa, muốn không là không, đã là trời thì đâu cần nghe lời Hoàng đế.

    Quách Tường nhìn xuống hang sâu tỏ vẻ buồn, nói :

    - Đến như Hoàng đế Vạn Thắng Chí Tôn, cũng không chắc mọi việc đều vừa lòng.

    Dương Qua nghe nàng nói vậy, lòng chàng suy nghĩ, toan dùng lời an ủi cho cô bé vui lòng. Chàng toan mở lời an ủi thì nghe Tiểu Long nữ suỵt một tiếng và nói khẽ :

    - Có người đi lại ! Ba người vội lần lên miệng hang, đưa mắt quan sát thì thấy từ phía gành đá co hai người bò thoăn thoắt trên thảm cỏ tựa hồ như cặp rắn. Hai người có võ lực khinh công thật cao, họ bò thoăn thoắt như tên bay, không gây tiếng động mạnh. Dương Qua nói khẽ :

    - Hai người này làm ma quỷ gì thế ? Võ công chẳng yếu mà làm ra vẻ núp lén sợ sệt thế kia ? Họ lên núi Hoa Sơn ắt hẳn có duyên cớ gì chớ, chúng ta hãy nom theo xem chúng giở trò gì?

    Thế là cả ba người núp sau phiến đá dưới tàng cây đại thọ chờ đợi. Trong phút chốc bọn chúng đã đến gần. Lúc bấy giờ khí trời bắt đầu lạnh vì màn đêm kéo đến đã lâu, nửa vành trăng non lơ lửng trên nền trời xanh ngắt. Quách Tường đứng bên Tiểu Long nữ, nàng không quan tâm đến hai người lạ, chỉ nhìn theo bóng Dương Qua mà nghĩ thầm : Nếu trọn đời ta được như thế này, theo mãi bên Dương đại ca và Long tỉ tỉ thực không có gì bằ ng !

    Nàng thấy cả như tượng này rất hạnh phúc, nhưng thời gian không thể kéo dài, cho nên vẻ mặt của Quách Tường in rõ một nỗi buồn man mác. Tiểu Long nữ nhìn theo làn sương mờ, liếc thấy nơi khóe mắt Quách Tường đẫm ướt đôi dòng lệ, Tiểu Long nữ lại nghĩ : Cô bé này cảm tình rất lạ, không hiểu nó có tâm sự gì mà chẳng tiện nói ra. Ta và Dương lang hãy dò hỏi xem nó có cần giúp đỡ gì, thì hãy giúp cho tròn để nói không âu sầu nữa.

    Ôi, Tiểu Long nữ có ngờ đâu, trong đời này lại có nhiều chuyện éo le, mà không ai có thể giúp đỡ được.

    Hai người lạ len lỏi đến gần hòn đá, chúng đứng núp sau phiến đá to, trong giây phút một người nói :

    - Tiêu Tương huynh, núi Hoa Sơn rừng dày cây rậm, lão trọc đầu thần thông quảng đại đến bực nào cũng không thể biết chỗ mà tìm. Chúng ta hãy chờ ít hôm nữa, nếu không thấy lão trọc đầu lai vãng đến, chúng ta hãy lên đường trở về Tây Vực.

    Dương Qua không nhìn rõ mặt mũi hai người nhưng nghe qua tiếng nói của hai người thì chàng độ là Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử. Bởi lẽ rất dễ hiểu là người này gọi người kia là Tiêu Tương huynh, thì chắc là Tiêu Tương Tử chứ gì. Dương Qua nghĩ thầm :

    - Chư võ sĩ giúp Mông Cổ, giúp kẻ ác như Kim Luân Pháp Vương và Ni ma Tinh đều bị tiêu diệt, Đạt Nhĩ Ma và Mã Quang Tổ làm ác chẳng nhiều nên chúng đã trở về xứ sở, chỉ còn lại hai tên ác đồ là Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử, hai tên ác tặc này đã mấy lần ta tha mạng sống nhưng ác tính vẫn còn, không rõ hôm nay chúng đã tạo ra chuyện tác tệ gì nữa đây ?

    Tiếng Tiêu Tương Tử nhỏ như hơi thở :

    - Doãn huynh chớ vội mừng, lão trọc nếu không kiếm ra chúng ta thì sẽ xuống núi ngồi rình theo đường cái. Đợi chúng ta xuống dưới là lão tóm liền/.

    Doãn Khắc Tây nói :

    - Tiêu Tương huynh mưu cao kế thâm, sự lo xa này hợp lý lắm. Vậy Tiêu huynh có kế gì hay không ?

    Tiêu Tương Tử đáp :

    - Tôi có một kế như thế này : Trên núi Hoa Sơn có một ngôi chùa cao von vót kia, chính là chỗ chúng ta có thể ẩn thân được. Vậy chúng ta hãy lên quan sát ngôi chùa, bất luận là chùa Phật hay Âm tiên, trụ trì là Hòa thượng hay Đạo sĩ, chúng ta hợp nhau giết chết trụ trì, chiếm lấy ngôi chùa mà ẩn thân. Lão trọc không lẽ ỏ năm này tháng kia chầu chực mãi hay sao? Lão có giỏi lắm là chịu đuợc 2 tháng, lúc ấy lão sẽ nghĩ chúng ta bị hùm tha sấu nuốt rồi, lão sẽ ngã lòng mà trở về.

    Doãn Khắc Tây cả mừng nói :

    - Tiêu Tương huynh, kế hoạch này rất hay !

    Doãn Khắc Tây mừng quá nói rất to. Tiêu Tương Tử hỏang hồn nói :

    - Suỵt ! Nói khẽ chứ !

    Doãn Khắc Tây điềm nhiên nói :

    - Phả i đó, tôi hoan hỉ quá nên quên để ý !

    Theo lời hai ngưòi này nói, Dương Qua đã hiểu mọi việc. Chàng lấy làm lạ nghĩ thầm : ÛHai tên ác đồ này lại sợ lão hoà thượng, không rõ chúng sợ vấn đề gì? Theo công phu của chúng, trừ ra Hoàng dược Sư , Quách bá bá, đại sư Nhất Đăng, chưa dễ gì có người chống lại với chúng, và lai chúng liên kết với nhau thì sức lực càng mạnh hơn, tại sao lại sợ lão hòa thương ?

    Vậy lão hòa thượng là ai ? Chàng lại suy nghĩ Nếu hai tên này giết người cướp chùa, ta há lại khoanh tay đứng nhìn hay sao ?Õ

    Lại nghe từ xa vọng đến tiếng kêu của Quách Phù :

    - Dương đại ca ! Dương đại tẩu ! Nhị muội ! Mau về ăn cơm !

    Dương Qua quay đầu nhìn Tiểu Long nữ và Quách Tường xua tay ra hiệu bảo đừng lên tiếng. Quách Phù lại kêu một hồi nữa rồi ngừng bặt. Tiếp theo đấy là một giọng trầm trầm trỗi lên :

    - Kẻ trộm sách, mau hiện hình lên, để chúng ta bàn lại ! Hỡi kẻ trộm sách !

    Theo giọng nói của người này đúng là một tay võ công cao trọng, nội lực phi phàm, có thể ngang bằng tiếng hú của Dương Qua.

    Dương Qua cả kinh nghĩ :

    - Ta không dè trên đời này lại còn kẻ cao diệu đến thế ?

    Dương Qua lẻn nhẹ ra ngoài nhìn cho tường tận. Chàng lắng nghe rõ là tiếng chân của hai người, một vị tăng gia mặc áo thụng màu nâu và môt chú tiểu tuổi vừa đôi tám. Chính lão tăng này đi tìm Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử. Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây hai người nằm mọp xuống đất không dám thở một làn hơi nhẹ. Dương Qua thấy hình dáng và lời nói của lão tăng, chàng lấy làm lạ nghĩ thầm :

    - Ta và Tiểu Long nữ khinh công và võ thuật chưa hẳn bằ g lão tăng này, đi trên sườn núi mà đeo theo chú tiểu chạy như bay, thật là ít người sánh kịp. Chính Hoàng dược Sư , Quách Bá bá và Nhất Đăng đại sư chưa hẳ n địch lại lão. Tại sao trên chốn giang hồ chưa nghe tên tuổi của lão ?

    Hai thầy trò lão tăng đi như gió, lùng kiếm xục xạo khắp chốn vẫn không thấy tung tích hai nguời, liền đi sang hướng Tây. Dương Qua thấy vậy phất tay áo đúng dậy. Quách Tường nhịn không được liền hô to :

    - Bớ hòa thượng, hai người đó ở tại đây !
    Tiếng nói Quách Tường vừa dứt, bỗng nghe tiếng gió veo veo, hai mũi ám khi nhắm ngay óc Quách Tường bắn tới. Dương Qua lanh mắt trông thấy liền giũ tay áo gạt phăng hai mũi ám khí. Quách Tường võ công không thâm hậu nên tiếng kêu léo nhéo, hai thầy trò lão tăng không rõ, càng đi thật mau về hướng Tây. Quách Tường cả kinh nói với Dương Qua :
    - Đại ca ! Hãy kêu phụ tôi với !

    Dương Qua liền cất tiếng ngâm lớn :

    - Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ Vô duyên đối diện bất tương phùngÕ Tiếng ngâm vang dội cả núi rừng, làm cho hai thầy trò lão hòa thượng đã đi đến sườn non bỗng dừng lại, lão hòa thượng quay đầu lại hỏi :

    - Nhọc công người chỉ lối mê tân !

    Dương Qua cao giọng ngâm tiếp :

    Đạp phá thiết hài vô mịch xứ Đắc lại toàn, bất chí công phu (Trổi gót sắt đi tìm cùng khắp Khi đựoc rồi chẳng uổng công phu) Hai thầy trò lão tăng mừng rỡ, quay gót trở lại nhắm hướng Dương Qua thẳng tới.

    Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử cũng nghe rõ mồn một. Lúc trước Ni ma Tinh và Doãn Khắc Tây đã khiếp vía trước tiếng la của Dương Qua, bây giờ được nghe lại hồn vía đã rụng rời, vội kéo Tiêu Tương Tử chạy thóat thân. Dương Qua nhìn thấy lão hòa thượng đi rất nhanh, nhưng bị các chướng ngại vật là gai cỏ lỗ hang ở triền Hoa Sơn cản trở, nếu để hai tên ác đồ này thoát thân thì biết lối nào tìm ra chúng, vì bóng đêm đã dày mịt, bởi vậy Dương Qua nhắm ngay hướng Tiêu Tương Tử đã ném ám khí hại Quách Tường lúc nãy, mà đưa ra một loạt hai đàn chỉ thần công. Tiếng Ûtình tangÕ nổi lên nhẹ hướng vào Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây xạ tới. Dương Qua không rõ hai tên ác đồ đã phạm tội khinh trọng ra sao, cho nên chàng chỉ làm cho chúng biết tay để chúng sợ không dám trốn thoát. Hai người bị Dương Qua ra mặt cản trờ, liền ra khỏi chỗ núp dựa lưng vào vách đá. Chúng biết khó thoát khỏi tay chàng độc thủ, nên cả hai vội rút binh khí hộ thân. Một người tay cầm gậy khốc tang, một người cầm roi kim long thủ thế đứng chờ. Hai thầy trò lão tăng đã đến nơi, chỉ thấy Doan Khắc Tây và Tiêu Tương Tử mà không thấy kẻ hỗ trợ mình, nên chỉ biết vòng tay thi lễ và nói :

    - Tiểu tăng pháp danh là Giác Viễn, môn phái Thiếu Lâm Tự kính tạc sĩ giúp đỡ.

    Dương Qua liếc nhìn thấy lão tăng này thân hình tao nhã , cốt cách phi phàm, tiếng nói tựa chuông ngân, nếu ông không có đầu tròn áo vuông, thực là một vị tướng công sang cả. Nếu đem ra so sánh lão tăng với Hoàng dược Sư , thì Hoàng dược Sư lại kém hơn ông ở dáng điệu hào hoa phong nhã , nếu đem so sánh với Chu Tử Liễu thì lại hơn Chu Tử Liễu cái tác phong kim mã ngọc đường, có vẻ triều đình quý phái.

    Giác Viễn đại sư , tuối quá năm mươi, nhưng thư sách, thi phú, trù tụng, kinh pháp đều lầu thông hết cả, thật là một người thâm nho bác học.

    Dương Qua chẳng dám chậm trễ, vội vã bước ra vòng tay thi lễ :

    - Tiểu tử là Dương Qua, xin bái kiến đại sư !

    Chàng vừa nói vừa suy nghĩ :

    - Nơi chùa Thiếu Lâm, ta đã quen thủ tọa Lạt Ma đường, võ công của ông này lại kém xa Giác Viễn đại sư . Tại sao trưởng lão Đạt ma chẳng đề cập đến Giác Viễn đại sư kìa ?

    Giác Viễn đại sư tỏ vẻ cung kính, nói tiếp :

    - Tiểu tăng nghe danh của Dương cư sĩ, nay hội ngộ thật là may mắn,

    ói xong ông quay sang bảo chú tiểu :

    - Lệnh đồ ! Hãy bái kiến Dương cư sĩ.

    Tiểu hòa thượng cúi đầu bái lễ. Dương Qua vòng tay đáp lại, Tiểu Long nữ và Quách Tường vội bước ra bái kiến Giác Viễn đại sư , cả hai tỏ vẻ tôn kính vô cùng. Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử đứng lặng như trời trồng, vì chúng biết khó mà thoát khỏi tay thầy trò lão tăng, bây giờ lại thêm Thần Điêu Đại hiệp nữa, dễ gì mà chạy thoát, nên cả hai quét cặp mắt căm hờn nhìn Dương Qua và Giác Viễn đại sư .

    Dương Qua nói :

    - Sáu năm về trước, tại hạ có đến lễ phật tại Thiếu Lâm Tự theo lời mời của Thiên Minh thiền sư . Tại hạ còn có duyên được Đạt Ma Viện trưởng là Vô Sắc thiền sư , cùng quý vị trong bửu tự đã tiếp đãi hết sức nồng hậu, vô duyên thay đệ tử lại không được gặp đại sư để bái kiến !

    Thần Điêu Đại hiệp vang danh thiên hạ, mọi người lớn bé trẻ già đều biết, thì Giác Viễn đại sư há chẳng biết hay sao ? Nhưng Giác Viễn chỉ điềm đạm trả lời :

    - Làn thay ! Dương cư sĩ đã được Vô Sắc sư huynh, Vô Tướng Sư huynh và Thiên Minh sư thúc biết qua. Rất tiếc là tiểu tăng ngày đêm lo sắp xếp và viết lách trên Tàng Kinh Các, trên ba mươi năm, chưa ra khỏi gác một bước, chỉ biết mặt giấy trắng mực đen, nên lúc Dương cư sĩ đến chùa tiểu tăng không hay để tiếp kiến.

    Dương Qua nói thầm :

    - Thật là trời đất bao la, kỳ nhân dật sĩ vẫn còn ẩn thân nơi thảo dã . Giác Viễn đại sư võ công cao diệu, nhưng cố giấu mọi người, đến ngay Vô Sắc và Vô Tướng thiền sư cũng không hay biết, nếu họ biết bao giờ họ lại lặng im chẳng nói qua.

    Dương Qua đứng trên núi nói xuống, Giác Viễn đứng phía dưới nói lên, cả hai nói chuyện thường mà làm cho núi rừng rung chuyển, Hoàng dược Sư và Nhất Đăng nghe rõ, vội cùng mọi người chạy túa ra ngoài xem sự thế ra sao ?

    Hoàng dược Sư , Nhất Đăng, Châu- bá- Thông, Quách Tỉnh, Hoàng Dung, tất cả những người này danh dương thiên hạ ai cũng biết rõ.

    Thế mà Giác Viễn đại sư chỉ lấy mắt nhìn qua vòng tay thi lễ mọi người, và bảo tên tiểu đồ bái kiến. Mọi người thấy Giác Viễn đại sư , uy nghi đạo mạo, cốt cách trang nghiêm, tất cả đều tỏ lòng kính trọng.

    Giác Viễn thi lễ với mọi người xong, đoạn vòng tay vào Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử nói :

    - Tiểu tăng là quản thủ Tàng kinh các, đã bị mất hết vài mảnh giấy, tiểu tăng phải chịu tội với Phương Trượng. Vậy hai vị cư sĩ có lấy xin hoàn trả, tiểu tăng cảm ơn sâu!

    Dương Qua nghe rõ đoán biết là hai tên ác đồ này ăn cắp của lão, lão tăng đã không trách mắng còn tỏ vẻ khiêm tốn ôn hòa, thật là trên đời hiếm có người như thế.

    Chỉ thấy Doãn Khắc Tây cười hì hì, nói :

    - Đại sư nói sai rồi, chúng tôi đều gặp điều bất hạnh đã được đại sư cứu thoát, đã không trả ơn thìchớ, lẽ nào trộm sách làm chi ? Vả lại chúng tôi không phải là phật tử, tín đồ, thì lấy kinh Phật để làm gì?

    Doãn Khắc Tây là gã lái buôn, mồm mép lanh lợi, lời nói cuả gã mới nghe qua thật là chí lý không thể bắt bẻ vào đâu.

    Nhưng Dương Qua đã biết chúng quá rõ, chàng đoán thầm là hai tên ác ôn này đã đánh cắp kinh sách, ắt không phải loại kinh sách tầm thường, mà là những loại thiên về võ thuật như kiếm phổ, hoặc chưởng kình. Nếu Dương Qua ở vào hòan cảnh của Giác Viễn đại sư , chàng sẽ nhảy lên đánh cho chúng mỗi đứa một chưởng cho tan thây, mà lấy lại bộ sách, chứ hơi đâu nói chuyện với chúng cho uổng lời.

    Lại nghe Giác Viễn đại sư nói rất êm :

    - Tiểu tăng nói những chuyện xảy ra để quý vị bình luận xem, tiểu tăng chẳng dám nói vu cho người.

    Quách Tường tính tình sảng khoái, nhịn không được nên lên tiếng nói to

    - Đại hòa thượng ! Hơi sức nào mà nói với hai tên này, chính tôi đã nghe chúng bàn với nhau định giết người chiếm tự, để cho ông không tìm ra chúng. Nếu chúng chẳng hung hăng làm gì có ác tâm loạn ý như vậy ?

    Giác Viễn đại sư nói :

    - Tội nghiệp ! Hai vị cư sĩ đã tạo điều oan nghiệt, cầu xin ơn trên trời Phật độ trì cho hai vị sớm cải hối ăn năn.

    Mọi người thấy việc ông làm cũng như lời ông nói, mỗi điểm đều từ bi chí thiện, không có vẻ lưu ý đến thế sự nhân tình, đối với hai tên ác ma đạo tặc mà cầu xin cho chúng cải hối ăn năn thật là một việc phi phàm. Mọi người tức cuời muốn nôn ruột, nhưng cố dằn xuống làm cho họ đỏ mặt tía tai.

    Doãn Khắc Tây thấy Giác Viễn đại sư không động thủ thì gã đoán thầm lời biện bạch của gã có ít nhiều hy vọng, lại nghe thiền sư nói tiếp :

    - Có một hôm tiểu tăng soát lại mớ văn thư ỏ Tàng kinh các bỗng nghe sau núi có tiếng reo hò đánh nhau, rồi có tiếng kêu cứu vang dậy. Tiểu tăng liền lần ra xem, thì thấy hai vị cư sĩ đây quỳ dười đất, bị bốn tên quan binh Mông Cổ đánh trối chết, tiểu tăng lòng lành không nỡ để thấy cảnh đau thương, bức bách người, liền lên tiếng khuyên cả bốn tên quan viên Mông Cổ, chúng nghe lời tiểu tăng bỏ về, lúc ấy thì hai vị cư sĩ đây bị thương rất nặng, nên tiểu tăng vực vào Tàng kinh các nghỉ ngơi. Xin hỏi hai vị lời nói của tiểu tăng có đúng không?

    Doãn Khắc Tây đáp :

    - Đúng đấy ! Công việc có xảy ra như thế, cho nên cả hai chúng tôi luôn cảm kích ơn này.

    Dương Qua xì một tiếng nói :

    - Khéo đóng kịch, với võ công của hai ngươi, đừng nói là bốn tên quan binh Mông Cổ, dù cho bốn mươi tên, bốn trăm tên cũng không làm gì được hai người. Giác Viễn đại sư rất đáng tôn kính mà các ngươi dám giở trò dối gạt.

    Giác Viễn nói tiếp :

    - Tiểu tăng đã chăm sóc suốt một ngày, vì nơi Tàng Kinh Các lại không có hậu liêu, chỉ để hai vị đây nằm trên giường kế cận phòng đọc sách, theo lời hai vị yêu cầu. Tiểu tăng chuyên lo hoàng hóa Phật pháp, thấy người ham chuộng đạo, tiểu tăng lấy làm hoan hỉ vô cùng nên có cho hai vị cư sĩ mượn vài bộ kinh để đọc, không ngờ một đêm nọ hai vị cư sĩ thừa lúc tiểu tăng đang tham thiền nhập định, lấy bốn quyền Kiết dà kinh của tiểu đồ Trương Quân Bảo đang đọc, mà ra đi không một tiếng cáo từ, hành động của hai vị hơi kém quang minh, vậy tiểu tăng xin hai vị vui lòng trả lại.

    Nhất Đăng đại sư Phật học tinh thâm và Chu Tử Liễu cũng nghiên cứu rất nhiều sách Phật, nghe lời nói của Giác Viễn thiền sư làm cho hai người kinh ngạc vô cùng. Nhất Đăng nghĩ thầm :

    - Hai người này đánh cắp kinh thư của Thiếu Lâm Tự, tưởng đâu là chúng trộm lấy chưởng kinh thư kiếm để luyện võ, ai ngờ chúng đánh cắp bốn quyển Kiết dà kinh. Kiết dà Kinh là một bộ Phật luật rất cao do Đạt ma tổ sư truyền lại, bộ này nói về Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, phân tích rất rõ ràng nghiệp duyên của nguời đời, học được sẽ minh tâm kiến tánh, và đạo pháp sẽ lên đến mức thượng thừa. Kiết dà kinh không quan hệ mảy may đến võ thuật, tại sao chúng đánh cắp làm gì? Vả lại, Kiết dà kinh đầy rẫy trong các chùa chiền, nơi nào cũng có, thì đâu có gì quan trọng hay bí mật ! Tại sao Giác Viễn đại sư khổ công đi tìm như thế, ắt là có điều bí ẩn ?

    Lại nghe Giác Viễn nói :

    - Bộ Kiết dà kinh này nguyên bản của Đạt Ma Tổ sư mang đến Trung Nguyên, viết bằng toàn tiếng Phạn ngữ, nhị vị không biết tiếng Phạn có lấy được cũng chẳng dùng vào đâu, nhưng đối với tiểu tăng thì đó là kỷ niệm rất quý báu của tổ sư để lại.

    Mọi người nghe nói vỡ lẽ, nguyên đó là di vật của tổ sư , thảo nào Giác Viễn đi tìm.

    Doãn Khắc Tây cười ha hả nói :

    - Chính chúng tôi không biết Phạn ngữ, lấy kinh ấy cũng không làm gì. Tuy nói là di vật quý báu, nhưng bỏ tiền ra mua thiếu gì? Mấy bậc cao tăng Phật học, chức thiếu gì người có nghiên cứu và lưu giữ nó ? Chỉ vì đại hòa thượng thân không mảnh vật, thì đào đâu ra tiền để mua, nên bảo nó quý trọng chứ gì?

    Mọi người nghe Doãn Khắc Tây nói đều lộ vẻ tức giận. Giác Viễn vẫn giữ vẻ điềm nhiên, không mảy may tức giận. Ông nói tiếp :

    - Cư sĩ nhầm rồi ! Bởi vì Kiết dà kinh có bốn quyển chú thích bằ ng Hán văn, nhưng giờ chỉ còn ba bộ :

    1) Vào đời Lưu, Tống triều có Vệ đà la chú thích, đặt tên là Kiết dà. Vệ đà la bảo kinhÕ chia ra bốn quyền, người đời quen gọi là ÛTứ quyển Kiết dà

    2) Vào đời Nguyên Ngụy có Bồ Đề Lưu Chi chú thích, lấy tên là Nhập kiết dà kinh công lại với mười quyển gọi là Thập quyển Kiết dà.

    3) Vào đời Đường có A Nam Đà chú thích lấy tên là Đại thừa nhập Kiết dà kinhÕ, cộng lại thành bảy quyển gọi là Thất quyển Kiết dàÕ.

    Ba loại chú thích chỉ có bảy quyền Kiết dà kinh là rất rõ ràng, tiểu tăng có mang đến đây, nếu cư sĩ có lòng mộ đạo, tiểu tăng xin kính tặng nhị vị. XIn nhị vị đem bốn quyền Kiết dà kinh chữ Phạn đổi lại, tiểu tăng hết sức cảm tạ.

    Nói xong ông thò vào tay áo lôi ra bảy quyển Kiết dà kinh đưa cho chú tiểu bảo đem cho Doãn Khắc Tây.

    Dương Qua nhủ thầm :

    Thực là đạo hạnh của một nhà tu chân chính, hiếm có nhất trần gian, không rõ vì sao là một bậc kinh luân võ học, lại bị hai tên ác đồ này trộm sách mà chẳng hay ?

    Lại nghe chú tiểu nói :

    - Nếu hai vị không có gian ý tại sao lại dùng võ lực khủng bố chúng tôi. Hình như hai vị cho rằng Thiếu Lâm tự không có kẻ nào biết võ nghệ sao ? Hai vị có thể lợi dụng được lòng từ bi của sư phụ tôi, nhưng không thể qua mặt được các cao thủ ở đây đâu. Đừng ngụy biện vo âích.

    Châu- bá- Thông đắc chí cười ha hả nói :

    - Tốt lắm, ngươi hãy đứng cho vững mà nghe đây : Tân Võ lâm ngũ bá bao gồm : Đông Tà, Tây Cuồng, Nam tăng, Bắc Hiệp, Trung Ngoan đồng. Trong năm vị, Lão Ngoan đồng đứng vào hạng nhất. Ta bảo các ngươi đã lấy trộm kinh sách của đại hòa thượng, nếu các ngươi cất giữ trong mình thì hãy lập tức mang ra trả cho đại hòa thượng, nếu các ngươi muốn diên trì, ta xẻo mỗi đứa một lỗ tai rồi nói chuyện sau.

    Lão Ngoan đồng cố vận nội lực để nói ra một giọng thật hùng hậu. Sau khi nói xog, lão xắn tay áo bước lên toan đánh hai người.

    Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử cau mày, chúng tự biết mình có lỗi, mà kẻ buộc tội lại là tay võ công siêu phàm, khó mà tránh khỏi.

    Bỗng nghe Giác Viễn nói tiếp :

    - Châu cư sĩ nhầm rồi ! Chuyện đời phải hỏi cho rõ lý do. Hai vị cư sĩ đây nếu nhỡ có lỗi thì cũng ngoài ý muốn của họ. Nếu hai vị cư sĩ đây có lỗi thật sự thì họ phải nói ra rõ ràng, giao trả lại bốn bộ kinh là đủ rồi.

    Châu- bá- Thông cười :

    - Đại hòa thượng nghĩ sao vậy ? Họ nhất định là có lỗi rồi, cần gì phải phân biện dài dòng vô ích. Đại hòa thượng, tôi nói rõ cho ông nghe : không bao giờ ta đoán nhầm đâu, nếu bốn cuốn có mất thật thì tôi sẽ áp tải hai đứa này về Cao Sơn Thiếu Lâm Tự để làm lại cái trò ăn cắp của chúng cho mọi người thấy, như vậy là rõ ràng và hợp lý lắm, dù không có trộm cũng là kẻ trộm.

    Giác Viễn đại sư nghe Lão Ngoan đồng nói một thôi dài toàn lời buộc tội cả hai, nên ông vội tiếp lời :

    - Lời nói của Châu cư sĩ không hợp với đạo lý nhà Thiền. Phật có dạy rằng : Sắc tức thị không, không tức thị sắc, hai sự có và không có. Chẳng nên lấy sức mạnh mà phân giới hạn, hai tiếng trộm sách sẽ làm cho họ tủi lòng. Dù thật sự có như vậy, chẳng qua ngoài ý muốn mà thôi, nếu ngoài ý muốn ta buộc tội nặng sao phải ?

    Mọi người nghe Giác Viễn đại sư giằng co mãi với hai tên trộm ai ai cũng bực tức vô cùng. Dương Qua nhịn không được hỏi thẳng :

    - Đại hòa thượng ! Hai tên này tội ác đầy rẫy, chúng đã làm sai đạo lý luân thường, dắt đường cho quân Mông Cổ xâm phạm quốc gia lãnh thổ Trung Nguyên, tội chết cũng vừa lắm rồi. Hôm nay có Nhất Đăng và Giác Viễn đại sư ở đây, nếu tôi ra tay giết chúng thì hai vị sẽ bất nhẫn và tôi cũng là kẻ vô lễ. Vậy hiện giờ chỉ có hai con đường, do chúng tự lựa chọn, một là giao trả bốn bộ kinh cho đại sư , rồi lập tức quay về Trung thổ. Hai là mỗi đứa lãnh một chưởng của tôi, dù chúng có vận nội lực cũng khó toàn mạng.

    Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử cả hai đều bị tay Dương Qua đánh sống dở chết dở, nên chẳng dám mở lời biện hộ. Chúng lượng sức, một chưởng của Dương Qua chắc là chịu không nổi, Doãn Khắc Tây nghĩ thầm : Chỉ vài ngày sau thôi, ta sẽ luyện thành thần công, ta sẽ quay trở lại trả thù cái nhục ngày hôm nay. Nhìn lại chỉ có hòa thượng là người tốt không cố ý buộc tội mình, chỉ có bọn ma vương ác quỷ này là rắc rối!

    Cho nên Doãn Khắc Tây nói :

    - Dương đại hiệp ! Câu chuyện tôi với đại hiệp sẽ bàn sau. Võ công của đại hiệp hơn tôi đến vạn lần nhưng tôi có lỗi gì với đại hiệp đâu ? Cho đến việc có trộm hay không trộm kinh thư thì việc này nên để cho Giác Viễn đại sư nói rõ ngọn ngành, và câu chuyện này chẳng liên can đến Dương đại hiệp.

    Dương Qua chưa kịp trả lời thì Giác Viễn đại sư đã gật đầu nói :

    - Đúng thế ! Đúng thế ! Doãn cư sĩ nói đúng lẽ !

    Dương Qua tức muốn bể ngực vì tánh gàn dở của lão, chàng quay đầu lại thì thấy Trương Quân Bảo đôi mắt trợn trừng , toan nhảy vào hạ thủ hai người.

    Dương Qua láy mắt ra hiệu cho chú tiểu bảo cứ ra tay đi, có chàng phụ lực. Trương Quân Bảo hiểu ý, cất tiếng quát to :

    - Doãn cư sĩ, bữa ấy ta đang ngồi đọc sách dưới mái hiên, thì ngươi lén đến sau lưng điểm huyệt ta, rồi đoạt bốn quyển Kiết dà kinh ra đi, vậy chuyện này có hay không ?

    Doãn Khắc Tây nham nhở cười nói :

    - Nếu ta thích đọc thì mượn coi, chứ cần gì phải điểm huyệt làm chi ? Ta hỏi mượn sư cụ vẫn đuợc kia mà ?

    Giác Viễn đại sư nói :

    - ừ, nếu mượn ta vẫn cho ...

    Trương Quân Bảo nói to :

    - Nếu hai vị lỡ tay mượn tạm hay không có mượn, thì hãy để ta lục sóat khắp mình mới rõ được.

    Giác Viễn đại sư lắc đầu đáp :

    - Không thể như vậy, xét người giữa công chúng là việc vô lễ, chúng ta không thể làm vậy. Việc này tiểu tăng không nhìn tường tận, nếu hai vị cư sĩ có lòng tốt nên giao trả lại thì hay hơn cả nếu quý vị lỡ mượn

    Doãn Khắc Tây muốn đem lời ngụy biện để nói ra, thì Dương Qua lại hỏi :

    - Giác Viễn đại sư , hai tên đạo tặc này nhất định là không có Phật tâm, phật tánh gì cả, thì không thể nào chúng lấy cắp kinh sách này, trừ khi trong 4 quyển Kiết dà kinh có chứa đựng điều gì quái lạ, thì may ra...

    Giác Viễn đại sư thành thật nói :

    - Kẻ tu hành không vọng ngữ, lời nói của Dương cư sĩ đúng phần nào, bộ kinh Kiết dà bên trong do tổ sư Đạt Ma viết ra với tựa đề là Cửu Dương Chân Kinh...

    Bốn chữ Cửu Dương Chân Kinh vừa thoát ra khỏi cửa miệng lão làm cho mọi người đều xám mặt. Ngày trước trong nền võ thuật bỗng xuất hiện quyển Cửu Âm Chân Kinh đã làm đổ máu không biết bao nhiêu anh hùng hào kiệt, ai cũng giành quyền độc chiếm, đến sau cùng mới rơi vào tay Ngũ bá, năm vị này họp nhau tại Hoa Sơn đỉnh luận kiếm để tranh chức vô địch và đọc quyền giữ quyển sách này. Cửu Âm chân kinh sau lọt vào tay Vương Trùng Dương. Nhưng Vương Trùng Dương lại là nhà cách mạng, không hay lo việc tư riêng, nên chẳng ham danh vị hão huyền. Khi được làm chủ bộ Cửu Âm Chân Kinh, khác hơn người là ông không sờ mó đến nó. Ông chia làm hai phần chôn giấu dưới đất, sợ rằng truyền lại cho người đời nó sẽ gây họa không nhỏ. Đến sau Đào hoa đảo chủ Hoàng dược Sư đuổi hết đệ tử, Châu- bá- Thông bị cầm tù, Âu Dương Phong phát điên, Đoàn Hoàng gia bỏ ngôi đi tu hành, tất cả những việc này đều có liên hệ đến quyển Cửu Âm Chân Kinh, quyển sách do Đạt Ma Tổ Sư trước tác, về sau Đạt Ma Tổ sư có trước tác quyển Cửu Dương Chân Kinh oai lực càng dũng mãnh hơn. Mọi người nghe đến tên Cửu Dương Chân Kinh đều kinh ngạc. Hoàng dược Sư , Nhất Đăng, Quách Tỉnh, Hoàng Dung, Châu- bá- Thông, Dương Qua, Tiểu Long nữ, tất cả những người đã biết sơ về uy lực của Cửu Âm Chân Kinh đều xúc động vô cùng, vẻ mặt mọi người lúc đỏ lúc nhợt. Giác Viễn đại sư rất thành thật không để ý tới sự thay đổi đó nên ông tiếp tục nói :

    - Vì tiểu tăng giữ chức quản thủ Tàng Kinh Các cho nên mỗi quyển sách đều có đọc qua ít nhiều. Tiểu tăng tưởng mỗi bộ kinh Phật đều dậy sự giác mê, hành thiện, danh ngôn, tiểu tăng không ngờ rằng quyển Cửu Dương Chân Kinh không dậy về Phật pháp mà lại dạy về cách làm cho thân thể cường tráng, mạnh khỏe sống lâu. Tiểu tăng mỗi ngày mỗi tập trên 10 năm nay, không có bịnh hoạn gì cả. Mấy năm gần đây tiểu tăng lại truyền dạy cho Trương Quân Bảo, quyển Cửu Dương Chân Kinh bất quá truyền dạy cách bảo vệ thân thể để sống lâu. Vả lại, quyển kinh này truyền dạy cho Quân Bảo đang dở dang, nay mất đi rồi thì lấy gì cho tiểu đồ học tập ? Nhị vị cư sĩ lại không thông Phạn ngữ, nhỡ mượn quyển Kiết dà kinh thì vui lòng hoàn trả để tiểu đồ tiếp tục học hành.

    Dương Qua nói lẩm bẩm :

    - Cửu Dương Chân Kinh là tinh hoa của võ thuật, thế ra đại hòa thượng này không hiểu võ nghệ nên lầm tưởng nó là một cuốn sách dùng để phòng trừ bệnh. Thật là một chuyện hi hữu, thảo nào hai vị thiền sư Vô Sắc và Vô Tướng đã ở cùng trên 10 năm chẳng rõ nơi thiền viện có một bậc vĩ nhân.

    Chỉ một mình Nhất Đăng hiểu ý gật đầu :

    - Theo vị sư huynh này Cửu Dương Chân Kinh bất quá chữa trị bị phủ nội tạng. Thật là một người thâm ngộ về Phật pháp. Theo học thuật phái Thiền Tông, chỉ cầu cho minh tâm kiến tánh, nhưng Cửu Âm Chân Kinh hay Cửu Dương Chân Kinh theo nghĩa nhà Thiền là tập dần cho đến chỗ kiến tánh minh tâm, nên sư huynh này chẳng hiểu là phải, tuy vậy luyện được 10
    năm thì công lực cũng xuất quỷ nhập thần rồi, mà chính lão có biết đâu

    Doãn Khắc Tây giũ tay đứng dậy, cả cười nói :

    - Tại hạ thân mình trơ trọi, có món gì trong người đâu ?

    Tiêu Tương Tử mặc áo bào dài, gã cũng đứng dậy nói :

    - Tôi cũng không có gì nốt.

    Trương Quân Bảo bỗng quát to :

    - Để ta xét lại thử coi !

    Nói xong cậu bé chạy đến trước mặt Doãn Khắc Tây toan lúc xét, Doãn Khắc Tây đưa ra một chưởng nhẹ đánh vào người Trương Quân Bảo cốt ý đẩy cậu bé thối lui.

    Giác Viễn đại sư cả kinh nói lớn :

    - ối da ! Quân Bảo, chẳng đỡ được đâu. Ngươi hãy dồn nguyên khí xuống sơn căn, lấy sức giữ mình cho thẳng, xem chúng làm gì được ngươi ?

    Câu bé nói to :

    - Xin vâng ! Và làm theo lời dạy của thày tiến đến bên mình Doãn Khắc Tây lục sóat. Mọi người lấy làm hoan hỉ khi nghe Giác Viễn đại sư chỉ điểm võ học cho đệ tử, nên họ nghĩ thầm :

    - Chúng ta nghĩ không ra vị quân tử hòa thượng này, lão đợi đến giờ phút chót mới nhắc nhở đệ tử !

    Sự thật không hẳn thế, vì Giác Viễn là bậc thông minh xuất chúng, thấy đệ tử mình không sao trong chưởng phong đầu, thì ông hiểu ra Cửu Dương Chân Kinh là sách dạy võ thuật, nên ông đành liều nói thử ra một thế vững chắc nhất trong lúc luyện tập mà bảo đệ tử.

    Mọi người thấy Doãn Khắc Tây tung ra một chưởng thật lợi hại để giết chết cậu bé, không ngờ cậu bé đã y lời thày dặn vận chân khí điều hòa để chống lại Doãn Khắc Tây. Nào ngờ chưởng phong của Doãn Khắc Tây khi tới đẩy mạnh cậu bé ngã quỵ xuống đất.

    Doãn Khắc Tây cuời ha hả nói :

    - Tiểu sư phó, không cần hành đại lễ !

    Câu bé thẹn đỏ mặt. Giác Viễn đại sư ôn tồn nói :

    - Ta nhầm lẫn cách gã vừa sử dụng là hư , phải lấy khôngÕ để thắng có. Tại ngươi không chủ tâm vận khí, này nhé, ngươi hãy vận chân lực, mà không chờ ngoại khí. Kìa ngươi hãy xem ngọn đồi kia ..

    Vừa nói ông vừa đưa tay chỉ về hướng ngọn đồi và giảng tiếp :

    - Nó nằm yên như thế cả ngàn năm. Gió mạnh từ Đông lại, bão lớn từ Tây qua, dồn dập gió sưong, nó vẫn bất động. Vậy ngươi hãy cố ý làm như thế xem sao.

    Trương Quân Bả o thông minh đĩnh ngộ, nghị lực dồi dào. Khi nghe sư phụ chỉ đến đâu là hiểu đến đấy, nên gật đầu nói :

    - Sư phụ, con nhớ kỹ rồi, vậy con làm lại.

    Nói xong cậu bé đến trước mặt Doãn Khắc Tây. Dương Qua thấy cậu bé hai lần quá vội vàng, sau khi nghe Giác Viễn chỉ dạy nên làm liều lại thất bại, nên chàng nghĩ thầm :

    - Hai thày trò lão hòa thượng học đã quán thông quyển Cửu Dương Chân Kinh nên nội lực cao siêu thấy sợ. Hiềm vì không biết rõ làm sao khắc địch chế thắng, nên khi bị tấn công là không biết làm gì, nếu nội lực của cậu bé này chẳng dồi dào ắt phải tan xác dưới tay của Doãn Khắc Tây.

    Dương Qua vội đưa mắt theo dõi, thấy Doãn Khắc Tây tay hữu quét một chưởng, chặn bước tiến của Trương Quân Bảo, tay tả đẩy một chưởng vào bụng cậu bé. Vì cao thủ đứng như rừng chung quanh Trương Quân Bảo nên Doãn Khắc Tây chỉ dám dùng một thành lực , cố ý đánh cho cậu bé đau điếng mà thôi. Trương Quân Bảo thấy vậy kêu lên :

    - Sư phụ, có nên đánh lại không ?

    Luông chưởng phong của Doãn Khắc Tây đến trước bụng cậu bé đã biến mất, làm cho Doãn Khắc Tây kinh ngạc vô cùng, gã vội vươn tay ra chụp mạnh vào vai Trương Quân Bảo, nhưng cậu bé vẫn đứng trơ như tượng gỗ bất động. Trương Quân Bảo đã thắng thế, cậu bé cố chịu đựng cho Doãn Khắc Tây đánh đông đánh tây, công tả phạt hữu một hồi vẫn không suy xuyển gì cả.

    Doãn Khắc Tây cười gượng nói :

    - Thôi, tiểu sư phó ! Tôi cũng không cần đánh nhau với tiểu sư phó làm gì. Quân tử nên dùng lời nói là phải hơn., dùng chân tay chẳng ích gì, vậy tiểu sư phó lui ra ngoài, chúng ta sẽ thảo luận.

    Miệng nói như vậy nhưng gã cố vung chưởng lực đánh bao nhiêu, Trương Quân Bảo càng đứng yên bấy nhiêu, không biết phải chống lại thế nào. Cuối cùng Quân Bảo nói to :

    - Đau quá ! Sư phụ, gã đánh mãi, thầy mau tiếp tay với đệ tử !

    Doãn Khắc Tây nói :

    - Ngươi nói gì lạ thế ? Ta đứng cách ngươi bốn thước, làm sao mà đánh được ngươi, chỉ có ngươi nhào vô đánh ta trước mà thôi.

    Doãn Khắc Tây nói thế là dụng ý làm cho Giác Viễn phân vân vì ông đâu biết chưởng phong và võ thuật.

    Giác Viễn đại sư lắc đầu khổ não, nói :

    - Đúng vậy ! Đúng vậy ! Doãn cư sĩ nói chẳng sai. Đời Đường, đại đức Sanh Công thuyết pháp, hỏi tượng đá cũng gật đầu. Hai vị cư sĩ dầu có ngu ngoan đến bực nào, cũng không cứng rắn như đá được, thì chuyện gì phô trương võ nghệ. Ai da, ta bênh là không bênh, nhưng người nên nhớ nẻo hư và thật cho rõ ràng, một điều hư có kèm theo một sự thật, chuyện gì cũng do hư thật mà ra. Ngươi hãy nhớ lời ta nói : Hơi người như trống sấm, tinh thần là nội kiếm. Không đi đường khuyết hãm, chẳng vào lối gồ ghề, không nên có điều đoạn tục

    Trương Quân Bảo nghe lời thầy nói vụt tỉnh ngộ. Theo phái Thiền Tông của Thiếu Lâm Tự, thầy trò đều phải chịu theo giới luật nhà chùa, là cầu cho tinh thần quy tựu, xóa bỏ những điều mắt thấy tai nghe, để trở nên một vị cao tăng cùng khổ, chừng ấy mới giác ngộ được Phật pháp nhiệm màu. Trương Quân Bảo lúc vào chùa mới mười mấy tuổi đầu, ngày đêm ở bên Giác Viễn đại sư trên Tàng Kinh các lo quét dọn, châm trà. Giác Viễn đem Cửu Dương Chân Kinh ra truyền cho cậu bé, chính ông cũng luyện cho nhuần thêm, tuy học đã lão thông nhưng chẳng ai biết mình đang học được một môn võ tối thượng thời bấy giờ. Còn tất cả tăng chúng thấy Giác Viễn là một bạch diện thơ sanh không cần đi đâu mà phải chỉ dạy chưởng lực, mặc dù chưởng lực là môn võ oai trấn giang hồ chỉ có Thiếu Lâm Tự là xưa nay giữ địa vị độc tôn. Vả lại, tính tình thầy trò Giác Viễn lại không thích dòm ngó đến ngành võ, mỗi lần tăng chúng luyện tập võ nghệ thì cả hai lẻn đi lên Tàng Kinh Các. Cho đến bây giờ Giác Viễn vẫn đinh ninh là hai thầy trò ông chỉ biết giấy trắng mực đen và thầm tiếc không học lấy mấy thế võ phòng thân. Trương Quân Bảo có căn cơ thông tuệ, cho nên khi nghe lời thầy nói : Không đi đường khuyết hãm, chẳng vào lối gồ ghề, không nên có điều đoạn tục... Tuy cậu bé chẳng sử dụng đúng mực nhưng cũng đủ chống trả lại sự đau nhức của chưởng phong mà Doãn Khắc Tây đã đả kích, cậu vẫn an nhiên như người khỏe mạnh la ïthường, lúc này cậu lại nhảy vào Doãn Khắc Tây.

    Dương Qua, Tiểu Long nữ, Châu- bá- Thông, Quách Tỉnh đứng cách chỗ Do n Khắc Tây và Tiêu Tương Tử chừng mươi trượng cho nên Doãn Khắc Tây dù hung ác đến đây cũng không dám hạ độc thủ đánh cậu bé. Hai người đánh với nhau trông rất chênh lệch, tuy vậy họ đánh với nhau rất lâu. Trương Quân Bảo bàn tay nhỏ bé, cánh tay quá ngắn nên đánh không trúng người Doãn Khắc Tây, trái lại Doãn Khắc Tây mình to lớn, hai tay vạm vỡ, dài nhưng không đánh trúng cậu bé một cái nào, vì cậu bé bộ pháp lẹ như cheo. Dương Qua và mọi người cười rộ, làm Tiêu Tương Tử đứng bên ngoài sượng mặt.

    Quách Tường bỗng kêu to :

    - Tiểu huynh, sao không đánh cho nó một trận mà tránh né làm gì?

    Giác Viễn đại sư nói to :

    - Không nên ! không nên! Đừng giận, đừng phiền, đừng mắng, đừng đánh.

    Quách Tường nói to :

    - Tiểu huynh cứ đánh thẳng tay, có tôi trợ giúp cho !

    Trương Quân Bảo đáp :

    - Đa tạ cô nương !

    Nói xong Trương Quân Bảo nhảy tới tấn công quyết liệt vào người Doãn Khắc Tây.

    Giác Viễn lắc đầu than :

    - Nghiệp chướng, nghiệp chướng, lòng người khi nổi giận thì ác quả sẽ dấy lên từ đấy.

    Dương Qua, Hoàng Dung, Chu Tử Liễu cũng nói lên hưởng ứng giúp Trương Quân Bảo, làm cho cậu bé hứng khởi hăng hái đánh nhanh hướng Đông. Giác Viễn đọc lên một câu cổ ngữ : Tẩu thất kỳ lộc, thiên ha ïcông toại chíÕ, cậu bé hiểu nghĩa câu này, liền vươn tay ra đánh ngay ấn đường Doãn Khắc Tây nhanh như chớp, gã này không kịp phòng bị té nhào xuống đất hết cựa quậy.

    Mọi người hô lên cổ võ :

    - Hay quá ! Hay quá ! Lộc tẩu thùy thủ rất tuyệt diệu !

    Trương Quân Bảo hạđược đối phương liền nhảy ra một bước vòng tay nói :

    - Đắc tội !

    Nói xong cậu bé lại bên mình Doãn Khắc Tây lục xét, cũng không tìm ra tung tích 4 quyển Kiết dà kinh.

    Trương Quân Bảo quay đầu lại nhìn Tiêu Tương Tử, gã này hiểu ý cậu bé muốn khám người mình, nhưng Tiêu Tương Tử đã suy nghĩ biết làm mình không thể cao hơn Do n Khắc Tây, nếu đánh lại với nó mà thua thì nhục nhã vô cùng, dù có thắng thì các cao thủ võ lâm cũng chẳng tha cho, nên gã đứng dậy giũ quần áo và nói :

    - Thân ta không có giấu sách vở gì cả, ta nghĩ nên hẹn nhau ngày khác thì hơn !

    Nói xong gã phóng mình sang hướng Tây nam chạy như bay. Giác Viễn phất mạnh tay áo, nhảy đến trước mặt Tiêu Tương Tử cản lại.

    Tiêu Tương Tử nổi giận đứng lại, hớp một luồng chân khí bổ sung cơ thể, đoạn đưa ra một chưởng Trường sanh công đánh ngay bụng Giác Viễn đại sư .

    Môn Trường Sanh Công hắn đã luyện trên 10 năm, chịu không biết bao nhiêu khổ sở, nên chưởng lực vô cùng lợi hại.

    Quách Tỉnh, Châu- bá- Thông, Dương Qua thảy đều biến sắc kêu to :

    - đạI sư , hãy cẩn thận !

    Khi tiếng nói của mấy người này vừa dứt thì nghe hai tiếng bình bìnhÕ nổi lên, chưởng phong đã đánh trúng ngực Giác Viễn đại sư , mọi người kêu to :

    - Chết ! Chết mất !

    Nhưng trái lại đại sư không ngã , mà Tiêu Tương Tử văng ra xa mấy trượng, nằm co ro như con cuốn chiếu. Giác Viễn vẫn đứng trơ như đá, vững như trồng.

    Nguyên Giác Viễn đại sư không biết tí gìvề võ thuật, nên chưởng phong của Tiêu Tương Tử kề đến mà ông chẳng biết làm thế nào né tránh, chỉ đành đứng yên mà gánh chịu cái đòn ác liệt này. Nhưng mọt việc mà chính ông không ngờ là ông đã luyện 10 năm công lực trong Cửu Dương Chân Kinh, cho nên thân thể ông có một luồng dịch khí lưu thông không dứt, muốn yếu là yếu, muốn mạnh là mạnh, chưởng phong Trường sanh công vừa chạm phải người ông, như chạm phải vách sắt tường đồng, dội ngược lại Tiêu Tương Tử làm gã này mang thương tích rất nặng.

    Giác Viễn đại sư vội niệm :

    - A di đà Phật !

    Trương Quân Bảo chạy đến bên mình Tiêu Tương Tử lục lại cũng không thấy bộ kinh.

    Dương Qua nói :

    - Ta đã nghe rõ hai tên này nói chuyện, ta đóan chắc là chúng đã trộm sách, mà không rõ chúng giấu nơi nào.

    Võ Tu Văn bảo :

    - Có khó gì đâu, căng hai đứa ra tra khảo một trận thì ra manh mối chứ gì?

    Giác Viễn lắc đầu chắp tay nói :

    - Mô Phật ! Tội lỗi, tội lỗi lắm, không nên đâu, cư sĩ ạ!

    Hoàng Dung mỉm cười :

    - Hai tên gian manh ác đạo này, dù chặt một tay một chân nó cũng không nói, nữa là tra khảo làm chi vo âích.

    Trong lúc ấy, bỗng nghe từ ngọn đồi phía Tây có tiếng vượn hú từng chập, mọi người quay lại nhìn thấy Thần Điêu của Dương Qua đang đuổi theo một con vượn già, vươn đôi cánh trụi ra đánh túi bụi vào con vượn. Mọi nguười nhìn kỹ con vượn thì thấy hình vóc nó rất to, cao lớn bằng con người, trên đầu lốm đốm trắng chứng tỏ nó đã già lắm. Tuy cao lớn hơn Thần Điêu song nó không dám chống trả, chỉ chạy qua Đông xuyên qua Tây, cất tiếng hú rất thêthảm bi ai .

    Quách Tường thấy vậy thương hại vội chạy đến nói :

    - Điêu huynh ! Điêu đại ca hãy tha cho nó đi !

    Thần Điêu xếp cánh đứng lại nhình vẻ rất uy mãnh. Con vựon già hết chạy đến chỗ Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử, nó lại nắm tay hai người này tỏ ra thương mến lạ! Đoạn nó kéo hai người chầm chậm đi xuống núi. Mọi người thấy tình cảnh như thế lấy làm cảm động bồi hồi nên không đuổi theo Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử nữa.

    Quách Tường quay lại thấy Trương Quân Bảo vết thương trên đầu máu chảy rỉ ra bèn lấy chiếc khăn tay chậm máu. Trương Quân Bảo cảm động muốn thốt lời cảm tạ, bỗng thấy đôi mắt Quách Tường đỏ hoe, và có vẻ thương tâm sầu hận. Bỗng Dương Qua nói:

    - Cuộc hội ngộ hôm nay, đến đây đã đủ ! Trời dài đất rộng, trên chốn giang hồ còn ngày gặp lại. Hiện giờ chúng ta hãy tạm biệt tại đây !

    Nói đến đây tay áo Dương Qua phe phẩy mạnh, dìu Tiểu Long nữ cùng Thần Điêu đi dần xuống núi.

    Vành trăng sáng in rõ trên nền trời ! Một luồng gió động, lá vàng rơi lác đác. Tiết trời thu man mác buồn.

    Quách Tường hai dòng lệ lăn trên má, nhìn theo.

    Thu phong thanh, thu nguyệt minh
    Lạc diệp tụ hòan tán
    Hàn nha tẩy phục kính
    Tương tư tương kiến tri hạ nhật
    Thử thời thử dạ nan vi tình

    Dịch :

    Thu đến hoàng hôn, gió quyện nhiều X
    ót tình lũ quạ gọi hoang liêu
    Tả tơi lá úa rơi ngàn cánh
    Vằng vặc trăng thu tỏa một chiều
    Cám cảnh bồi hồi lòng tráng sĩ
    Tình sầu lay động khóm vân tiêu
    Tương tư một giấc năm canh mộng
    Thôi nói làm chi đến chữ yêu !
    Hết

+ Trả lời chủ đề
Trang 9/9 ĐầuĐầu ... 7 8 9

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
Trang Chủ Việc Làm Gia Sư Gia sư