+ Trả lời chủ đề
Trang 7/9 ĐầuĐầu ... 5 6 7 8 9 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 61 tới 70 của 83

Chủ đề: Võ Lâm Ngũ Bá

  1. #61
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 65 Oai trấn ổ giặc


    Hoàng Dược Sư chậm rãi theo chân hai tên giặc vào nơi sảnh đường, thấy chính giữa tòa đại sảnh có ba chiếc ghế bành bọc da cọp để một hàng ngang, giữa trần nhà có treo một khuôn biển với bốn chữ đậm nét sơn vàng : "Thế Thiên Hành Đạo".
    Hoàng Dược Sư cố ý hỏi :
    - Ủa ! Quí vị còn một vị thí chủ nữa sao ?
    Trịnh Thiên Vân không khỏi tím mặt ngập ngừng đáp :
    - Phải ! Chúng tôi còn một Đào trại chủ nhưng mấy hôm trước đã nhuốm bịnh chết rồi.
    Đào Hoa đảo chủ buột miệng cười khẩy một tiếng, rồi chẳng chút vị nể, cũng chẳng cần người ta chịu nhường hay không đặt đít ngồi ngay chiếc ghế bành da hổ ở giữa. Ngang nhiên tự toại, dưới mắt không coi ai vào đâu.
    Bọn cướp đứng hầu trực chung quanh Trung Nghĩa đường đều tím mặt ồ lên.
    Vì chiếc giao ỷ ở chánh giữa chỉ có một mình Đại Trại Chủ mới có quyền ngồi, nếu người ngoài ngồi vào chẳng khác nào như hàm ý truất ngôi Đại Trại Chủ vậy.
    Bọn cướp lập tức hờm sẵn binh khí, mặt mặt nhìn nhau chờ đợi, nhưng Hoàng Dược Sư chẳng bận để mắt nhìn đến.
    Đám tặc đạo biết chàng bản lãnh cao cường nếu cùng chàng gây sự là rước lấy cái chết, tuy căm tức đến mưởi hai phần, cũng đành hăm hở trơ mắt nhìn chàng chứ không dám xông ra .
    Hoàng Dược Sư sau khi ngồi xuống ghế giữa thản nhiên ngẫng đầu hỏi hai gã trại chủ :
    - Xin hai vị trại chủ cho biết, tấm biển Thế Thiên Hành Đạo treo trên Trung Nghĩa Đường của quí trại kia, là nghĩa gì ?
    Trịnh Thiên Vân không ngờ Hoàng Dược Sư vừa mở miệng đã tìm chỗ bắt bẻ mình, ngẩn người giây phút mới đáp :
    - Ồ ! Hoàng tiên sinh tài cao tám đấu, chẳng lẽ cho đến bốn chữ tầm thường ấy cũng chẳng giải thích nổi sao ? "Thiên" là thiên hạ, "Đạo" là chính đạo, chúng tôi tuy chiếm đất xưng vương, lỡ chân làm giặc, cũng chẳng quên nể thiên hạ để hành chánh đạo đấy thôi !
    Hoàng Dược Sư cười lên ha hả, tiếng cười sang sảng như giọng chuông đồng, bọn giặc không khỏi ngạc nhiên thất sắc.
    Chàng cười như điên một hồi, mới lên tiếng :
    - Thế thiên hạ hành chánh đạo, câu nói ấy đối với quí vị chẳng có chút xứng, cướp đoạt ngư dân, tàn hại bá tánh, cưỡng hiếp khuê nữ, đấy gọi là chánh đạo chăng ? Hà hà ! Tấm biển treo nơi đây, chỉ tổ làm nhơ thêm danh tiếng đạo tặc, để Hoàng mỗ phá hủy nó cho rồi .
    Dứt tiếng, Hoàng Dược Sư liền dùng chưởng lực "Phách Không" , tay áo vừa phất ra liền "rắc ! rắc !" vang lên, tấm biển "Thế Thiên Hành Đạo" dày hơn mấy tấc bị luồng chưởng phong quét ngang tan biến thành từng mảnh vụn bay rào xuống đất.
    Trịnh Thiên Vân, Võ Nguyên Khánh cả giận quát lớn một tiếng :
    - Cuồng đồ vô lễ !
    Rồi phân ra hai bên một tả một hữu, nhãy như hai mãnh hổ vồ mồi, binh khí trên tay cũng đồng thời hoa lên chém xả vào đối phương.
    Trịnh Thiên Vân sử dụng đôi Thiết Điểm Vĩ kích, còn Võ Nguyên Khánh thì dùng đôi kiếm Thư Hùng, đôi kích của Trịnh Thiên Vân lao thẳng vào ngực họ Hoàng theo thế "Phan giang giác hải" , song kiếm của Võ Nguyên Khánh lấp loáng tréo lại như hai lưỡi kéo bén kẹp vào cần cổ của đối phương theo chiêu "Cuồng phong tảo diệp".
    Hoàng Dược Sư ung dung chẳng chút vội vàng, mặc cho hai gã cướp chúa hùng hổ tấn công như sấm như sét, chàng vẫn ngồi yên như mọc rễ trên chiếc ghế bành không nhích động nửa bước, chờ cho mũi kích nhọn lểu của Trịnh Thiên Vân gần chạm vào ngực, chàng mới lật tay hữu vung ra một chưởng từ phía dưới nhà xuyên lên trên lẹ như sét chớp, một tay đã chộp vào hai đầu kích của đối phương, gạt mạnh một cái, đoạn lơi tay buông liền trở ra, tức thì hai ngọn kích bằng thép rắn kệch cợm gảy thành bốn đoạn.
    Đồng thời tay trái của Hoàng Dược Sư cũng chẳng chịu để không, song kiếm Thư Hùng của Võ Nguyên Khánh chưa chém tới, Hoàng Dược Sư đã dùng Đàn Chỉ Thần Công búng tay vào song kiếm của đối phương, một tiếng "cong" nhè nhẹ ngân vang, ngọn kiếm nơi tay của Võ Nguyên Khánh không sao giữ được, sút khỏi bàn tay bay tuốt lên cao, lưỡi kiếm trên tay hữu, tiếp theo đấy bị Hoàng Dược Sư phi chân đá trúng vào cánh chỏ cũng văng tuốt thanh kiếm lên trời.
    Sau khi triệt mất binh khí của đối phương, Hoàng Dược Sư thuận chân dùng luôn "Tảo Diệp thồi" tả một chân, hữu một cước, đã nện cho Trịnh, Võ hai người, mỗi tên một cước đánh "bộp !" văng xa hơn bảy tám thước.
    Đào Hoa đảo chủ trước sau vẫn không rời khỏi chiếc ghế, vừa mới một chiêu dằn mặt, đoạt binh khí của hai người còn đá họ nhào hớt xa lơ.
    Bọn cướp thấy vậy đều reo hò tở mở, cử động khí giới định đổ ào ra tấn công họ Hoàng
    Trịnh Thiên Vân và Võ Nguyên Khánh liền lật mình nhãy phắt dậy gọi lớn :
    - Khoan đã !
    Đoạn Trịnh Thiên Vân cố dằn nộ khí, quay lại nói với Hoàng Dược Sư :
    - Hoàng tướng công, bản lĩnh của ngài quá ư cao cường chúng tôi nguyện ý tôn ngài làm bang chủ của chúng tôi.
    Y còn định nói tiếp.
    Hoàng Dược Sư đã phất tay ngắt lời :
    - Bá láp ! Ai thèm làm đầu xỏ của đám giặc cướp chúng bây, mau đem hai chục vạn lượng bạc ra nạp ngay, nếu thiếu một phân hào, ta cũng chẳng thèm đâu, và ! hừ hừ ! người trên toàn đảo của bọn ngươi cũng đừng mong sống sót.
    Bọn cướp nghe Hoàng Dược Sư phách lối cuồng ngạo như thế, tên nào cũng nổi giận sốt gan, đồng thanh hét rền trời :
    - Đại Vương để mấy ngàn anh em chúng tôi liều mạng với nó, dù nó ba đầu sáu tay, chúng tôi cũng bầm nó nát như tương mới nghe !
    Trịnh Thiên Vân lớn tiếng quát :
    - Chờ lịnh ta, đừng làm lếu !
    Lại quay sang dùng giọng ôn tồn nói với họ Hoàng :
    - Tôn giá muốn đến hai mươi vạn lượng, bổn trại cũng chẳng dám kỳ kèo, nhưng vì tiền lương kém khuyết, của dành của để cũng chỉ được bốn năm vạn lượng là cùng , hay là tướng công...
    Hoàng Dược Sư cười nhạt bảo :
    - Hay là thế nào ? Bắt ta đợi vài bữa nữa phải không ?
    Trịnh Thiên Vân đáp :
    - Không dám ! Tại hạ chỉ xin Hoàng lão sư lưu lại chơi vài hôm, đợi chúng tôi kiếm đủ số tiền dâng lên...
    Hoàng Dược Sư liền nói :
    - Không được ! Ta muốn đủ số hai mươi vạn lượng, hôm nay thiếu một phân nào cũng chẳng được .
    Võ Nguyên Khánh không nhịn được nổi khùng lên nói :
    - Đại ca, quân này chẳng thông tình lý, nói nhiều với nó làm gì , chúng ta quyết cùng liều chết lấy mạng đổi mạng với nó.
    Hoàng Dược Sư cười nhạt nói :
    - Hừ ! Đồng chết với nhau phải không ! Được lắm !
    Chàng vẫn ngồi yên trên ghế, tay trái khẽ vung ra, "rắc ! rắc ! rắc !" mấy tiếng, luồng kình lực Phách Không chưởng của Đào Hoa đảo chủ quả nhiên lợi hại , cây cột giữa nơi Trung Nghĩa đường nầy xây cất rất đơn giản, chỉ chống đở bằng mấy cây cột to, tay trái Phách Không Chưởng vừa đánh ngã xong một cây, tay phải của Hoàng Dược Sư tiếp theo đấy cũng khoát vung ra, tức thì lại "rắc rắc !" mấy tiếng, cây cột to phía bên hữu cũng theo đà tay gảy làm hai khúc.
    Mái ngói Trung Nghĩa Đường mất đi sức chống lung lay sắp sập , ngói gạch chuyển mình kêu lên "lách tách !", cát bụi trên trần nhà lớp lớp rơi xuống như mưa.
    Bọn cướp đâu còn lòng dạ nào ở lại, la hoảng lên chạy ùa ra khỏi Trung Nghĩa đường.
    Hai tên đầu sỏ Trịnh, Võ cũng ôm đầu lủi như chuột.
    Hoàng Dược Sư thấy bọn cướp thi nhau mạnh ai nấy lủi như chó ăn vụng bột, buông tiếng cười lên ha hả, "vù ! vù !" thêm hai chưởng, bao nhiêu cây cột còn lại đều một lượt bị đánh gảy đôi cả, đoạn nhún thân hình như mũi tên xẹt xuyên ra ngoài hành lang.
    Tiếp liền theo đấy không đầy nháy mắt cả tòa Trung Nghĩa đường sập ầm xuống mặt đất, biến thành một đống ngói vụn.
    Hoàng Dược Sư chỉ với bốn cái phất tay nhẹ nhàng như phủi bụi mà có thể đánh sập một tòa Trung Nghĩa Đường hùng vĩ, bọn cướp thấy vậy tên nào cũng khiếp đảm kinh tâm, lắc đầu le lưỡi ngầm khiếp phục sức mạnh như thần của kẻ địch.
    Hoàng Dược Sư vừa đặt chân xuống đất, tức thì có một số tiểu đầu mục hung hăng nóng máu chẳng biết chết sống, vội xông tới vung đao chém liền.
    Đào Hoa đảo chủ chỉ khẽ giơ tay chộp cứng bâu áo của họ thảy tuốt lên cao, cả người lẫn khí giới bay thẳng lên trời , rớt vào đám người đang đứng, khiến bọn chúng đè lên nhau té lổm ngổm dưới đất, tiếp theo đấy hai chân chàng thoăn thoắt, tay tả rồi đến tay hữu luân phiên nhau chộp người thảy ném như dồi banh, trong khoảng khắc đã liên tiếp ném ngã hơn mấy mươi tên, té đến bưu đầu sứt trán rên la inh ỏi, hàng ngũ của bọn cướp vẹt năm vẹt ba, trật tự nhốn nháo cả lên.
    Trịnh Thiên Vân và Võ Nguyên Khánh thấy Hoàng Dược Sư làm sập Trung Nghĩa đường của mình, lại còn xông xáo vào đám bộ hạ, bắt thảy quăng vùn vụt vào nhau như thảy đạn, không khỏi ói mật trào gan, bèn quát lên :
    - Bây đâu, buông tên !
    Nhưng lúc ấy bọn lâu la đang rối loạn dồn cụt lấy nhau còn đâu nghe thấy lịnh của nhị vị trại chủ.
    Trịnh Thiên Vân giận như điên vung đao chém luôn hai tên bộ hạ gần đấy và lớn tiếng quát :
    - Buông tên ! Đồ tồi !
    Bọn lâu la mới sực tỉnh , rầm rộ giương cung lấp tên bắn chĩa vào người Hoàng Dược Sư, trong khoảng khắc đường tên giao nhau, khít rịt như bầy châu chấu.
    Hoàng Dược Sư thấy trận mưa tên bay đến liền rú lên một tiếng lảnh lót, thân hình bay vọt lên cao, nhãy bổ vào đoàn người, quơ tay chộp lấy hai gã lâu la, dùng thân hình hai tên ấy làm tấm khiên đở tên.
    Không mấy chốc mình mẩy hai tên cướp nhãi vô phước kia ghim đầy những tên như con nhím xù lông.
    Hoàng Dược Sư lại vứt hai tên ấy, theo mửng cũ chộp hai tên khác.
    Phương pháp đở tên bằng thịt sống ấy khiến ai cũng phải ruột gan đều ớn lạnh .
    Đám giặc con ấy hết còn lòng nào bắn tên, hùa nhau chạy ra ngoài đại trại thoát thân.
    Hoàng Dược Sư thấy lối đở tên bằng người sống có hiệu quả nhanh chóng, cất tiếng cưới rùng rợn như tử thần hăng máu, bay mình đuổi theo, nhưng không thèm đuổi theo bọn giặc cỏ mà đuổi theo tên đầu xỏ Trịnh Thiên Vân.
    Trịinh Thiên Vân thấy Hoàng Dược Sư đuổi tới nơi, hồn vía như thót ra cả bên ngoài, vội ngoặt người sang bên, hai tay vung ra một lượt tiếp theo đấy gập người xuống, dậm chân mấy cái, tức thì "soạt soạt" những tiếng xé rít không khí vang lên liên tiếp, hơn hai ba mươi làn ánh sáng, lóng lánh nhỏ li ti như sợi tơ bạc, bay vút về phía họ Hoàng.
    Thứ ám khí ấy gọi là "Bá biến phi hoàng đinh", một bộ môn ám khí mà Thốn Hải Trường Kình Trịnh Thiên Vân nhờ đấy trấn danh khắp giang hồ, dọc ngang miền Đông Hải bao năm nay.
    Môn ám khí "Bá biến phi hoàng đinh" vốn một loại đinh đặc biệt chế biến nhỏ như sợi lông trâu, tất cả có năm bộ, phân ra nhét trong năm cái vòng thép bằng hình dẹp đeo trên cổ hai tay và hai chân, mỗi khi muốn sử dụng chỉ cần dùng thế "Dao tử phiêu thân" (Con diều trở mình) uốn lưng gập người xuống, hoặc giả một cái vỗ tay hay phi thân, chiếc vòng dẹp mặt ấy sẽ tự động bật ra sợi giây lò xo mắc ở bên trong, và những mũi phi đinh lập tức được bắn vọt ra ngoài, dầy khít như đám mưa bụi bay thẳng vào người đối phương.
    Trên những mủi phi đinh được tẩm trong loại thuốc cực độc, lợi hại khó lường, tuyệt kỹ phóng "Bá biến phi hoàng đinh" của Trịnh Thiên Vân từ xưa nay tung hoành trên khắp mặt biển Đông chưa hề thất bại bao giờ. Nhưng hôm nay y biết rõ bản lĩnh của Hoàng Dược Sư quá mức cao cường, độc đinh ám khí của y khó hại được Hoàng Dược Sư, chỉ mong cho chàng bận tay chống đở một chút để y có đủ thì giờ lẫn vào đám đông thoát thân.
    Chẳng ngờ ý mưu chưa kịp thi hành thì sự việc đã xảy khác với lòng tính toán !
    Phi hoàng đinh của y vừa bay ra Hoàng Dược Sư liền đoán được ý định của y ngay. Chàng dùng hai tay áo trái và phải, một phất một múa, hai tiếng "vù !", hai ngọn kình phong vun vút bay ra đánh nát những mũi đinh ấy, thành một đám bụi bạc rơi lả tả xuống đất .
    Tiếp theo đấy lẹ như chớp chàng xẹt ra trước thộp lấy cổ áo của Trịnh Thiên Vân.
    Trịnh Thiên Vân vẫn cố gắng vùng vẫy.
    Hoàng Dược Sư lại dùng ngón tay giữa chọt vào "khí du huyệt" của y một cái.
    Trịnh Thiên Vân đau quá hét lên một như bị chọc tiết mềm nhũn ra.
    Hoàng Dược Sư mới ném y xuống đất và quát :
    - Thằng giặc chó ! Có hai mươi vạn hay là không ? Nếu không ta chặt đầu mi ra bây giờ ? Muốn mất thủ cấp hay là mất bạc tùy ý !

  2. #62
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 66 Đáy nước mưu sâu


    Trịnh Thiên Vân bị Hoàng Dược Sư ném mạnh xuống đất đau muốn ngất đi được, lại nghe chàng bảo nếu chẳng đưa bạc ra sẽ cắt đầu mình thay bạc, hoảng hồn la lia lịa :
    - Có có ! Có bạc rồi ! Xin tha mạng tiểu nhân !
    Hoàng Dược Sư cười lớn bảo :
    - Đồ giặc thúi, đến bây giờ mi mới biết tánh mạng dáng quí hay sao ?
    Nét mặt bỗng rắn lại, lớn tiếng quát :
    - Mau giao bạc đây ! Hai chục vạn lượng, nếu thiếu một phân một hào, hừ ! Ta lập tức lấy mạng mi bù vào, quét sạch hết toàn trại chúng bây cho tất cả số người trên đảo này xuống dưới biển chầu hà bá ngay !
    Trịnh Thiên Vân vâng dạ liền miệng :
    - Vâng ! Vâng ! Tôi gọi bọn chúng đem bạc ra ngay, bảo đảm chẳng thiếu một hào.
    Y lại quay sang ra lịnh bọn thủ hạ :
    - Mau giao bạc cho Huỳnh tướng công, bảo chúng gánh đến đây mau lên !
    Nên rõ, người xưa toàn dùng bạc nén vàng ròng để tiêu biểu giá trị vật dụng, số bạc càng to thì càng nặng nề phiền phức !
    Tống trào kể mười lượng bạc thành một cân, hai mươi vạn lạng bạc bằng như hai vạn cân, tức là hai trăm tấn. Nếu theo bây giờ dùng xe vận tải loại lớn nhất để chở, ít nhất cũng phải đầy hai mươi chiếc chở mới hết, huống hồ là bắt người phải gánh thì tối thiểu phải động viên hai trăm nhân số mới gánh xuể một lần.
    Trịnh Thiên Vân bên ngoài tuy kêu gọi thủ hạ mau gánh bạc đem đến nạp, kỳ thật là dò xét Hoàng Dược Sư xem chàng có được bao lớn bản lãnh ? Làm thế nào để chuyển được hai trăm cân bạc ròng một mình ra khỏi Hắc Phong Đảo, vượt bể đến tận nơi xa ?
    Trịnh Thiên Vân vừa lên tiếng, Võ Nguyên Khánh đã hội ý ngay, y lập tức phân phó bọn dưới tay đến kho tiền sau núi để gánh hai mươi vạn lạng bạc đem ra.
    Đấy là thói quen của bọn cướp bể, mỗi khi cướp đoạt được tài vật, chúng thường giấu vào những hốc núi kín đáo, rồi dùng cây cỏ nghi trang bên ngoài, trở thành một kho bạc thiên nhiên kín đáo khó ai tìm thấy.
    Lịnh của hai Đại trại chủ đã ban hành, thì chẳng mấy chốc sau bên ngoài cổng sơn trại đã thấy lố nhố vô số người, trên vai mỗi tên nặng trĩu hai gánh bạc trắng lấp lánh như thủy tinh.
    Hoàng Dược Sư thầm kinh ngạc vô cùng, bọn cướp Hắc Phong Đảo trong khoảng khắc mà lấy ra hai trăm tấn bạc ròng không chút khó khăn, đủ thấy nơi chôn cất bạc vàng cướp đoạt của chúng phong phú đến bực nào ?
    Đang lúc chàng còn phân vân suy nghĩ thì hai trăm tên tặc đảng đã gánh đủ hai trăm tấn bạc để cận bên chỗ Hoàng Dược Sư đang đứng.
    Mọi người chăm chú nhìn Hoàng Dược Sư xem chàng làm cách nào chuyển vận cho kham !
    Hoàng Dược Sư cười nhạt chẳng nói chẳng rằng, đi đến mấy gióng bạc nhìn một hồi, rồi tiến gần chỗ Trịnh Thiên Vân đang nằm, chân đá y một cái như trời giáng.
    Trịnh Thiên Vân suýt xoa kêu lên :
    - Ối ! Tôi đã đem bạc ra giao đàng hoàng rồi. Sao lại còn muốn giết tôi ?
    Hoàng Dược Sư quát lớn :
    - Đồ chết bằm ! Mi đem hai chục vạn lượng bạc để dưới chân ta, chẳng lẽ ta có phép tiên di sơn đảo hải đem được số bạc này ra khỏi đảo hoang được hay sao ? Có mau chuẩn bị cho ta một chiếc thuyền to, đem số bạc vàng này gánh lên thuyền để ta đáp thuyền rời khỏi đảo, nghe rõ chưa ?
    Lời chàng vừa thoát ra, không những Trịnh Thiên Vân và Võ Nguyên Khánh phẫn nộ cực cùng mà cho đến những tên lâu la đầu mục trên toàn đảo cũng căm hận đến phùng má trợn mày .
    Trong bọn có tên đầu mục tên Ngô Qui biệt hiệu là Hải Hồ Ly, bước đến bên Võ Nguyên Khánh và nói nhỏ :
    - Nhị trại chủ, gã họ Hoàng này hiếp ta thái thậm, tiểu nhân có một diệu kế, chúng ta cứ làm y như vậy là đưa cái tên cuồng ngông này xuống đáy biển chầu Long Vương chẳng chút khó khăn !
    Võ Nguyên Khánh cau mày trầm ngâm giây lâu rồi đáp :
    - Ô ! Phương pháp ấy vị tất có thể thực hành, vả lại làm như thế chả quá ra hai mươi vạn lượng bạc kia cũng theo hắn xuống đáy bể sao, như vậy thì đáng tiếc lắm !
    Ngô Quí cố thuyết phục :
    - Bẩm trại chủ, hai chục vạn lượng bạc ấy kể như đã mất đứt đi rồi ! Chẳng qua nếu để mặc y dương dương chở đi như thế thì từ nay về sau ta còn uy tín đâu mà làm ăn trên mặt biển nữa ! Đại vương hãy suy nghĩ kỹ lại xem, mạo hiểm như vậy có đáng làm hay không ?
    Võ Nguyên Khánh bất đắc dĩ nuốt giận quay sang giả lả với họ Hoàng :
    - Tôn giá muốn chúng tôi nạp hai mươi vạn lượng bạc, chúng tôi đã theo ý dâng đủ , tôn giá lại cần thuyền chúng tôi đưa đi chúng tôi cũng ráng chịu cho vừa lòng khách quí ! Song le chúng tôi có một lời thỉnh nguyện là tướng công rời khỏi Hắc Phong đảo đừng làm khó chúng tôi, cũng đừng bắt người nào trên đảo chúng tôi đưa đi. Nếu tôn giá thuận lời, chúng tôi xin xuôi tay hòa thiện, nhược bằng tôn giá cũng không thuận chúng tôi thà ngọc đá nát hay dù có hy sinh tất cả mạng sống anh em trên toàn đảo cũng quyết liều đến mức cuối cùng vậy !
    Hoàng Dược Sư cười lớn đáp :
    - Ngươi tưởng ta đem trại chủ ngươi theo sao ? Hay sợ ta mượn đến thủy thủ, tài công của bọn ngươi để điều khiển thuyền bạc ? Cứ yên tâm ta chẳng làm khó dễ các người đâu, cứ gánh bạc lên thuyền cho đàng hoàng là ta lập tức rời khỏi nơi đây, chả cần một tên nào của các ngươi đưa đi cả.
    Võ Nguyên Khánh mừng rỡ, tự nhủ thầm :
    - Mi chẳng cần người của bọn ta đưa đi càng hay ! Lúc ra tay ta chẳng phải bận bịu e dè.
    Y vội quay sang bảo một đầu mục đứng bên cạnh :
    - Sửa soạn một chiếc lầu thuyền cho Hoàng tướng công, chuẩn bị đủ cả buồm chèo, rồi bảo bọn chúng gánh bạc chất tử tế lên thuyền, phải cho mau !
    Nửa giờ sau, Hoàng Dược Sư đã đến bờ biển Hắc Phong đảo, nơi đây quả đã chuẩn bị sẵn một chiếc lầu thuyền sơn vàng óng ánh, mấy trăm tên cướp bể đang hì hạch gánh bạc lên thuyền.
    Hoàng Dược Sư thấy bọn cướp đem bạc chất tử tế trong khoang, trên sạp thuyền cũng chuẩn bị sẵn sàng buồm chèo, mọi thứ đầy đủ, chàng mới khoan thai gặc đầu và nói :
    - Tốt lắm ! Với số bạc hai mươi vạn kia ta tha mạng cho chúng bây ! Ta đi đây !
    Dứt lời đã tung mình nhãy lên đầu thuyền, một mình trương buồm xả lèo nương theo ngon gió Đông, từ từ rời khỏi đảo, thẳng buồm ra khỏi mặt bể mênh mông .
    Hoàng Dược Sư vừa lái thuyền ra khỏi đảo chẳng bao xa thì thấy phía sau lưng thuyền mình nơi bến Hắc Phong Đảo có bốn chục thuyền nhỏ lướt ra như bay, trên thuyền chở đầy bọn giặc bể trực chỉ theo thuyền mình ra biển.
    Đào Hoa đảo chủ nhìn thấy thế cười nhạt một tiếng, chàng sực nghĩ ra một kế, tung mình nhãy vọt lên cột buồm giữa, tay chân cùng lượt vận dụng, lanh lẹn như con vượn chuyền cây, nháy mắt đã lên đến đỉnh cột buồm, và như vậy, ở trên nhìn xuống mỗi cử động trên thuyền nhỏ của bọn cướp, đều không lọt qua khỏi đôi mắt sáng như cú vọ của chàng.
    Hoàng Dược Sư thấy tiểu thuyền của giặc vượt khỏi bờ độ một dặm, thình lình từng đứa một nhãy ùm xuống biển, mỗi tên hải tặc đều mặc quần áo bằng vải dầu. Nhảy xuống biển là lặn ngầm dưới dáy nước.
    Hoàng Dược Sư bàng hoàng vỡ lẽ bèn "à" một tiếng và tự nói thầm :
    - Té ra bọn chó chết này định làm thủy quỷ !
    "Thủy quỷ" chính là một đội đặc biệt lập trong đoàn hải tặc, chuyên môn lặn ngầm theo dõi đáy thuyền giặc để đục phá thủng đáy thuyền địch, để thuyền của bọn địch đang lúc vượt sóng, bỗng dưng chìm lỉm mà không chút hay biết !
    Đào Hoa đảo chủ thầm mắng bọn giặc :
    - Quân chó chết, không biết nẻo chết sống, dám trước mặt Hoàng Dược Sư này múa rìu qua mắt thợ , chẳng tự lượng thiệt hơn, định xuống uổng tử thành đầu quân chắc !
    Chàng liền leo xuống lấy một đầu giây buộc thòng vào eo lưng mình, còn đầu kia thì buộc vào cái khoen sắt trên sàn thuyền. Sau đấy "ùm" một tiếng, nhãy xuống biển lặn sâu xuống nước mất tăm.
    Võ công của Hoàng Dược Sư không những đạt đến mức lư hỏa thuần thanh mà cho đến tài thủy tánh, tài nghệ lặn lội dưới nước cũng độc nhất vô nhị. Người thường nhãy xuống biển lặn sâu dưới mặt nước thì không sao nhìn thấy vật xung quanh, Hoàng Dược Sư trái lại có thể nhìn tỏ rõ như trên bờ.
    Chàng lặn dưới đáy nước đợi không bao lâu, thì thấy mấy tên giặc bể vẹt nước đạp sóng lội nhanh đến.
    Hoàng Dược Sư làm thinh như hến, rút bên hông ra một ngọn dao găm bén ngót, khẽ trườn người một cái, như con cá lóc phóng mình vẹt nước băng băng, xông tới bên bọn cướp vươn tay nắm gọn cổ một tên cướp giật mạnh xuống ngọn dao gâm bên tay phải chàng đã xuyên qua ngực đối phương kêu "sực !" một tiếng, máu phun ra bên ngoài nhuộm đỏ cả một khoảng nước biển.
    Đáng tội cho tên cướp, mắt chưa kịp nhìn thấy rõ phía trước, đà dâng mạng vào miệng cọp rồi.
    Hoàng Dược Sư đã giết xong một tên , nhưng hai tên kia chưa hay biết đang lừ đừ lội đến, chàng cũng noi theo phương thức cũ, tay tả chớp gáy, tay phải ngoáy mạnh ngọn dao găm, đưa hồn chúng theo đồng bọn trước cho có bạn.
    Chàng ẩn mình dưới đáy nước như cá mập rình mồi, lặn qua lội lại. Đội "thủy quỉ" của bọn cướp bể, tên nào vừa ló đầu lặn đến bên thuyền, là chàng khỏi cần hỏi han lập tức nắm cổ lụi liền.
    Cứ như thế, trầm sâu dưới đáy nước, đón đầu giết cướp không tới nửa giờ đồng hồ sau, đội "thủy quỷ" trên bốn chiếc thuyền bị chết hơn phân nửa, còn lại số ít lưu lại trên thuyền thấy những đồng bọn nhãy xuống biển chẳng tên nào trở về thuyền, một chốc sau trên một biển lại thỉnh thoảng nổi lên từng cụm máu hồng loang trong nước bể, liền biết ngay là đồng bọn mình đã bỏ xác dưới lòng biển thẳm.
    Bọn chúng khiếp đảm kinh hồn, vội quay đầu thuyền, bơi nhanh trở về Hắc Phong Đảo báo cáo với chủ tướng.
    Hoàng Dược Sư giết một hơi trên mười mấy tên cướp, lại lội tới lội lui tuần la quanh thuyền thêm một lúc khá lâu chẳng thấy tên nào bén mãng tới nữa, biết bọn giặc bị mình giết hại đã rút mất tất cả, bèn trồi đầu lên mặt biển nhờ sợi thừng buộc ngang eo lưng, ở dưới nước tha hồ lặn lội diệt trừ kẻ địch, mà vẫn không lạc khỏi thuyền mình bao xa , nên chàng về thuyền không mấy khó khăn, nghĩ lại bọn cướp bên ngoài vờ phục tùng, nhưng lại ngầm sắp đặt bọn thủy quỷ để hại mình, lửa giận bỗng sôi lên sùng sục.
    Tánh tình của vị Đào Hoa đảo chủ rất cổ quái sắt đá, một khi đã giận là chẳng chút dung tình, lập tức quay buồm cho thuyền trở lại Hắc Phong đảo.
    Trịnh Thiên Vân và Võ Nguyên Khánh, hai tên cướp chúa đang ở đại trại đợi chờ tin tức, bỗng nghe bọn còn lại trở về cấp báo, những anh em thủy quỷ được phải đi ám toán chẳng những không thành mà còn chết hết một số lớn.
    Trong lúc chúng còn đang tức bực, thất vọng nghiến răng bứt tóc, thì lại nghe thêm tin thuyền của Hoàng Dược Sư quay mũi trở lại Hắc Phong Đảo.
    Chúng cả kinh thất sắc, lập tức xuống lịnh thổi tù và báo động khắp nơi, phân phát toàn đảo bộ hạ nghiêm mật chuẩn bị cùng kẻ địch quyết một chết sống.
    Thuyền lầu của Hoàng Dược Sư hiện ra ven bãi vịnh, bọn cướp trên bờ đã reo hò tở mở, sau ghềnh đá, trên mõm biển bắn rãi ra vô số tên độc như mưa bấc.
    Hoàng Dược Sư đứng nép mình sau ngọn cột buồm chánh, đối với những mũi tên của bọn cướp trên bắn xuống rào rào như bầy châu chấu kia chẳng hề đếm xỉa tới.
    Chiếc lầu thuyền của chàng lúc ấy trông thật vô cùng quái dị, đầu thuyền cho đến lái thuyền, thậm chí cột buồm, sạp thuyền, be lớn be nhỏ nơi nào cũng cắm chởm chởm đầy những tên. Chiếc thuyền bấy giờ giống như trong Tam Quốc Diễn Nghĩa lúc Khỗng Minh dùng thuyền cỏ mượn tên Tào Tháo vậy.
    Hoàng Dược Sư đợi cho chiếc thuyền còn cách bờ không xa, từ sau cột buồm tung mình nhãy ra trước đầu thuyền lẹ như chớp, cúi người xuống nắm lấy sợi đỏi trên sạp thuyền, phi thân lên bãi cát nhanh như chiếc én xuyên mây.
    Bọn cướp thấy Hoàng Dược Sư nhãy vút lên bờ cát liền hét vang.
    Hoàng Dược Sư chân chưa chấm đất đã vung sợi đỏi dài độ hai trượng ra, vừa đập, vừa quét, khi vụt, khi quay.
    Sợi dây tuy mềm mại dịu dàng, nhưng khi đã vào tay họ Hoàng thì còn cứng hơn cả sợi xích sắt, đầu giây bay tới đâu là những tay cung thủ của bọp cướp bị cuốn văng lên không, va mạnh vào ghềnh đá thịt da văng tơi tả, xương cốt nát rụm từng khúc nhỏ !
    Mấy trăm tên hải tặc trên bờ biển sợ đến ôm đầu kéo nhau chạy như bầy cá bị đuổi.
    Hoàng Dược Sư dùng chân đạp lấy sợi đỏi, hai tay chộp lấy một tảng đá nặng độ hai trăm cân dư, rinh khỏi bãi cát chặn lên sợi đỏi để phòng chiến thuyền trôi đi. Đoạn chàng cười lên rùng rợn, tiếng cười nghe rởn cả tóc tai, rồi tung mình nhãy vào đám đông, quyền chưởng sử dụng một lúc, "Lạc Anh Quyền" phối hợp cả "Tảo Điệp Thối", chân đá tay đấm biến hóa trăm chiêu ngàn thức, thân hình loang loáng, hoặc Đông hoặc Tây, khi tả khi hữu, dành thôi bọn cướp kêu khổ liên hồi, người chàng lướt đến đâu, là chết chóc đến đấy .
    Không đầy khoảng khắc bọn cung thủ mai phục trên mặt biển đã chết ngót trăm người, kỳ dư bao nhiêu thấy tình thế bất lợi ùn ùn thi nhau lủi trốn.
    Hoàng Dược Sư thấy thây người ngã ngổn ngang trên bãi cát, cười lên ha hả như điên, lao người thẳng đến cổng đại trại.
    Lúc ấy bọn cướp giàn thành một trận tuyến dọc theo rào cổng của đại trại, thấy Hoàng Dược Sư nghênh ngang đi tới chỗ bọn họ, khuôn mặt sắc lạnh như vô định cảm kia, tuy không phải là "dạ xoa la sát" nhưng vừa nhìn thấy mặt chàng, bọn chúng không lạnh đã run !
    Mọi người rập tiếng hét lên để lấy can đảm rồi từ phía sau cột rào bắn tên ra ào ào, còn không ngớt ném vôi tro thạch pháo, thật phòng thủ còn hơn gặp phải mười vạn quan quân chẳng bằng.
    Nhưng đối với thế trận tầm thường của bọn cướp, Hoàng Dược Sư đâu xem ra gì, vẫn thản nhiên tiến đến rào cổng.
    Tên bắn tới trước mặt chàng, Hoàng Dược Sư hoặc phất tay áo đánh rơi, hoặc tràn mình tránh né, không tới mười mấy cái nhãy lên đáp xuống đã đến gần bờ rào, song chưởng hiệp lại đẩy ra, tức thì rào cổng bị kình lực của Phách Không Chưởng đánh phải ngã sập cả một khoảng bảy tám trượng dài, nhưng trụ cây lớn bằng miệng chén cũng kêu lên "rắc ! rắc !" và gảy thành đôi đoạn như bị đao bén chặt nhằm.
    Bọn cướp cả kinh, ùn ùn thi nhau lủi tuốt vào trại.
    Hoàng Dược Sư tung mình nhãy qua bờ rào, hai tay tóm hai tên chậm chân chạy phía sau nhất, quát lớn :
    - Đại vương của chúng bây trốn ở xó nào ?
    Hai tên lâu la run lẩy bẩy đáp :
    - Bẩm tướng công, hai người ở trong đại trại kia kìa.
    Hai gã cướp biển chưa kịp hết lời, Hoàng Dược Sư khẽ dùng sức một cái, tức là "rộp !" một tiếng cần cổ hai tên cướp đã gảy lìa, chết ngoẻo đầu dưới đất.
    Chàng thẳng tay giết từ ngoài ngỏ cho đến trong trại.
    Bọn cướp tranh nhau chen lấn chạy vắt giò lên cổ.
    Đào Hoa đảo chủ xông xáo như vào chỗ không người.
    Gặp ngay tên nào là chàng nắm gáy hỏi liền :
    - Trại chủ của bọn bây trốn ở xó nào ?
    Hỏi xong là lập tức vung tay một chưởng chết không kịp ngáp. Chàng xông tuốt vào Trung Nghĩa Đường. Lúc ấy chánh sãnh của Trung Nghĩa Đường đã bị chàng đánh sập, chàng lướt qua đống gạch vụn vào thẳng Trung Nghĩa Đường, nơi đây cũng chẳng thấy một ma nào, chợt nghe có tiếng khua xào xào như tiếng quần áo còn nguyên nếp hồ.
    Hoàng Dược Sư cảm thấy lạ kỳ vội cúi nhìn xuống đất.
    Thì ra nơi đây có bày một tấm bình phong bằng giấy bồi vẽ sơn thủy, dưới tấm bình phong sơn thủy ấy lại ló ra một đôi chân, Hoàng Dược Sư không khỏi buộc miệng thất cười.
    Vì có một kẻ núp vào đấy, tiếng quần áo khua lên lào xào, là vì y quá sợ run lên cầm cập, đụng vào giấy trên bức bình phong mới phát ra tiếng kêu tố cáo kia .
    Hoàng Dược Sư không chút chần chờ, nắm lấy hai chân của người ấy lôi ra khỏi bức bình phong, thì té ra là một tên đầu mục gìa, vì yếu chân chạy trốn chẳng kịp mới chui tót dưới bức bình phong để trốn, bị Hoàng Dược Sư lôi tuột ra chỗ núp, hồn phi phách tán, van xin liền miệng :
    - Trăm lạy ông tha mạng !
    Hoàng Dược Sư nạt to :
    - Quân chết dầm, trại chủ của mi núp nơi nào ?
    Lão đầu mục gìa đáp :
    - Bẩm lão gia, lúc nãy hai vị trại chủ còn ở đây, họ có lẽ biết lão gia sắp vào, nên đã lỏn đâu mất rồi !
    Hoàng Dược Sư định giết chết tên đầu mục gìa nọ, nhưng sực hồi tâm tỉnh lại, đối với địa thế Hắc Phong đảo chàng chưa được rành lắm, nếu muốn bắt được hai tên đầu bọn cướp, thì phải có người dẫn đường mới được .
    Chủ ý đã định, liền lật tay trái vù ra một chưởng, một tiếng bùng thật lớn vang lên, cái giá bình phong bằng đá vân mẫu, bị đánh bể nát thành mảnh vụng, đoạn lớn tiếng quát nạt gã đầu mục :
    - Mi tên gì, muốn sống hay muốn chết ?
    Lão đầu mục gìa run như lên cử rét đáp :
    - Dạ... Dạ... Tiểu nhân muốn sống ! Tiểu nhân tên Vạn Thiên Quí !
    Hoàng Dược Sư "hừm !" to một tiếng và nói :
    - Tốt lắm mi hãy khai rõ địa thế trên Hắc Phong Đảo cùng những sào huyệt hang ngách trong trại và dẫn ta đi bắt hai gã Trịnh Thiên Vân và Võ Nguyên Khánh, ta mới tha mạng mi ra.
    Vạn Thiên Quí vội đáp :
    - Xin lão gia thương tình nếu ngài bảo tôi làm thế, thì anh em trong đảo đâu có dung mạng sống cho tôi.
    Hoàng Dược Sư gằn giọng bảo :
    - Nếu mi chẳng thuận lời, ta cũng giết chết mi ngay, nói thật cho mi biết, ta thề chỉ nội ngày nay phải giết cho hết bọn giặc chòm trên Hắc Phong đảo này, chúng nó còn sống đâu mà sát hại mi chớ ?
    Vạn Thiên Quí nóng mình ớn lạnh, lập cập đáp :
    - Dạ ! Dạ tôi đưa lão gia đi tìm đại vương của tôi vậy .
    Hoàng Dược Sư ngắt ngang :
    - Khỏi nói nhiều ! Đi cho mau !
    Tên đầu mục gìa run rẩy đưa Hoàng Dược Sư vào trong nội thất của bọn cướp, cũng chẳng thấy một người.
    Hoàng Dược Sư nóng nảy mười phần nạt to :
    - Hai gã trại chủ trốn đi đâu nói mau. Nếu cố ý diên trì thời giờ thì mạng mi sẽ như cái gía bình phong lúc nãy nát ra từng mảnh.
    Lão đầu mục gìa vội nói lia lịa :
    - Tiểu nhân đâu dám, Hắc Phong Đảo này trừ đại trại ra còn một gian nhà kho bí mật xây cất trên đỉnh một ngọn núi, chắc Đại trại chủ và Nhị trại chủ núp trên ấy !
    Hoàng Dược Sư nạt như sấm :
    - Mau dẫn đường ! Nếu chần chờ, chết không kịp ngáp bây giờ !
    Lão đầu mục liền dắt Hoàng Dược Sư xuyên qua hậu trại, nơi đây cũng chẳng thấy một người, ngoài rào cổng có thể nhìn thấy dạng một dãy núi sẫm uất cây rừng.
    Hoàng Dược Sư một khi đã ra tay là làm tới cùng, quơ một số đồ dẫn hỏa chất vào tòa trại trống rỗng kia, nổi lửa đốt lên, sau đấy mới ép Vạn Thiện Quí dẫn mình ra sau trại tìm hai tên đầu xỏ của Hắc Phong Đảo.
    Ngoài trại cũng chẳng có một dạng người đến ngăn trở, chỉ mỗi khi Hoàng Dược Sư đi ngang qua một mỏm đá cheo leo, hay vòng quanh một ngọn núi là tất có một vài mũi tên bắn lén ra, nhưng Hoàng Dược Sư thị như đồ chơi trẻ con, khẽ giơ tay bắt mũi tên rồi lẹ làng phóng quay về hướng cũ luôn luôn, tiếp
    theo đấy là một tiếng rú thảm thiết rồi lại im lìm như thường.
    Lão đầu mục càng sợ hãi đến hồn kinh đảm khiếp.
    Đi qua một đoạn đường núi độ còn vài mươi trượng, trước mặt đã sừng sững hiện lên một ngọn núi cao.
    Lão đầu mục lấy tay chỉ ra phía trước và nói :
    - Bẩm lão gia, chỗ ngọn núi lõm vào mà lờ mờ thấy được tường rào đó chính là chỗ kho phòng, nếu hai vị trại chủ không có trốn trong ấy thì tiểu nhân không sao biết được nữa !
    Hoàng Dược Sư bèn nói:
    - Tốt lắm. Mi ngồi yên nơi đây, trời sập xuống cũng chẳng phép động đậy ! Nếu nhúc nhích nửa bước, ta cũng trở lại lấy mạng mi ngay nghe chưa ?
    Lão đầu mục gật đầu lia lịa như chày giã gạo.
    Hoàng Dược Sư phất tay áo rộng, áp dụng thuật lục địa phi hành, thoăn thoắt bay nhãy trên ghềnh núi đá không đầy một chốc lát đã đến bên rào tường.
    Chợt nghe một tiếng còi rúc lên, phía sau bờ tường liền có vô số mũi tên bắn vụt ra, lại còn có cả vôi tro, thạch pháo ào ào ném ra như mưa bấc.
    Hoàng Dược Sư hú dài một tiếng lảnh lót tung mình một cái, bóng xanh đã vượt lên đỉnh tường cao hơn một trượng.
    Bọn giặc không khỏi khiếp hãi la rùm lên !
    Những tên cướp phòng thủ kho phòng đều là những tên được chọn lựa trăm người lấy một trong đám bộ hạ của Đông Hải Vương, chúng không những can đảm thiện chiến, mà tánh tình vô cùng hung hãn.
    Bọn chúng vừa thấy Hoàng Dược Sư hiện ra, lập tức đao thương nhất tề cử động đâm vào dưới chân của chàng.
    Hoàng Dược Sư hừ hừ cười nhạt luôn miệng, vút mình phi thân vào giữa đoàn giặc cướp, rồi giơ tay nhấc chân thế nào, thân hình chỉ thoát lên thoắt xuống, trong khoảng thời gian nháy mắt đã giựt được hai ngọn trường mâu của hai tên giặc, đoạn đâm Đông đánh Tây, gạt tả quét hữu, ngọn thương bay đến đâu là thây cướp ngã lợt đợt xuống đất như chuối rụng. Không đầy nửa giờ đồng hồ sau một đoàn giặc cướp phòng thủ kho phòng gần năm trăm tên đã bị Hoàng Dược Sư giết hại hơn phân nữa.
    Thủ pháp giết người của chàng rất đặc biệt, một mâu bay ra, là xuyên qua mình một tên, nhưng mũi mâu vẫn còn sức lủi chết thêm tên thứ hai, nói một cách rõ hơn là một mũi mâu của chàng đâm ra có thể giết một lượt hai hoặc ba tên cướp như người ta xỏ xâu cá một thứ, khiến cho bọn cướp còn lại, không còn lòng dạ đâu luyến chiến, ùn ùn tranh nhau chạy chết, còn giận cha mẹ tại sao chỉ sanh có hai chiếc giò nên chẳng thể chạy nhanh hơn được.
    Hoàng Dược Sư giết rốc một hơi đến trước cửa kho phòng bí mật, chàng vung mạnh một chưởng chém bật cánh cửa mở toang ra, thấy bên trong châu báu ngọc ngà, san hô mã não lóe mắt, từng đống cao nghệu, chỉ có một điều là bên trong vắng hoe như nhà mồ chẳng thấy dạng một người.
    Hoàng Dược Sư chẳng màng đến số tài sản khổng lồ kia, tung mình nhãy vụt trở ra, khám phá được nơi sau lưng kho phòng còn có một đường mòn ruột dê ngoằn ngoèo tận đến dưới chân núi.
    Chàng không chút chần chờ dùng công phu phi hành trên mặt đất, chạy như bay xuống núi, quẹo qua mấy đường quanh, chợt thấy có bốn tê tiểu tặc vác thương chạy vắt giò phía trước mặt.
    Hoàng Dược Sư nhún mình nhãy vụt theo và quát lớn :
    - Đứng lại !
    Bốn tên tiểu tặc thấy Hoàng Dược Sư đuổi tới, đồng rập reo to lên rồi nhất tề quay người lại.
    Đào Hoa đảo chủ tưởng bọn chúng hươi thương liều chết với mình .
    Ngờ đâu khi chàng tung mình đến trước mặt bọn chúng thì bốn gã đã quì móp xuống đất, lạy như tế sao, làm Hoàng Dược Sư phải khựng người lại.
    Chàng vừa tức giận, vừa buồn cười, một chân bay ra, tức thì "bình !" "bình !" hai tiếng, tên cướp quì ở cuối phía trái bị chàng đá bổng lên như trái banh da tung cao lên mấy bước, rơi trở xuống lại đè phải tên đồng bọn ở bên cạnh, khiến tên này ngã nhào đè lên tên thứ ba, tên thứ ba lại nằm gọn trên mình gã thứ tư. Bốn gã trước sau té đùn cụt một đống, bằng như Hoàng Dược một cước mà đá ngã cả bốn tên một lượt.
    Chàng lại cất tiếng nạt to :
    - Trịnh Thiên Vân và Võ Nguyên Khánh trốn đâu ? Có trong kho phòng không ? Nói cho mau !
    Bốn tên cướp kẻ bưu đầu người sứt trán, ê ẩm cả mình mẩy, sợ đến mặt mày tái mét như hết cả máu, lồm cồm bò dậy, lập cập, tươi cười đáp :
    - Bẩm lão gia, hai vị trại chủ vừa trong kho phòng, thấy dạng lão gia đến, hai người vội lỏn mất , con đường này thông đến bải biển, có lẽ đi hơn buổi trời rồi !
    Hoàng Dược Sư nghe hai tiếng "bãi biển" giật mình đánh thót một cái liền quắc mắt nhìn quanh, nơi đây là chỗ cao nhất trên toàn đảo Hắc Phong, có nhìn thấy suốt bốn phía mặt bể xung quanh đảo.
    Chàng thình lình thấy chiếc thuyền chở bạc đậu trên bãi đông nghẹt những đầu người, liền sực tỉnh ngộ ngay là bọn giặc định đáp thuyền trốn chạy.
    Hoàng Dược Sư không khỏi bồn chồn nóng nảy quát một tiếng cực lớn đẩy mạnh ra một chưởng đánh nhào bốn tên cướp đang quì trước mặt lăn lông lóc xuống triền núi, rồi chả cần biết bọn chúng sống hay chết, dùng ngay thuật lục địa phi hành tung mình vun vút xuống núi, chạy bay đến bờ biển.

  3. #63
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 67 Phá ổ giặc


    Quả không ngoài ý liệu, Trịnh Thiên Vân và Võ nguyên Khánh hai người thấy Hoàng Dược Sư trở lên bờ, xông xáo giữa rừng tên núi kiếm như chỗ không người, trong khoảng khắc giết hại hơn mấy trăm bộ hạ của mình. Tuy trên đảo đồng đảng có hơn hai ba nghìn người, nhưng bọn chúng thấy Hoàng Dược Sư giết người như ngóe, đã bay hồn mất vía, còn đâu cản đảm để tác chiến nữa. Ba mươi sáu kế, nhanh chân chuồn trước sớm phút nào hay phút ấy. Nên Trịnh Thiên Vân và Võ Nguyên Khánh thừa lúc Hoàng Dược Sư đang đối phó với dàn quân phòng thủ kho phòng bên ngoài, hai người dắt theo vài mươi tên thân tín, lỏn ra ngã sau chạy xuống núi.
    Đến bờ biển, chợt thấy chiếc lầu thuyền của Hoàng Dược Sư còn đậu ở đấy, Trịnh Thiên Vân nhớ đến hai mươi vạn lượng bạc chất trong thuyền kia, tự nghĩ mình đã kể như phế bỏ cả cơ nghiệp trên Hắc Phong Đảo, song còn nhặt lại được số bạc hai mươi vạn kia, trốn đến Triết Giang, Phúc Kiến hoặc nơi nào, cũng sống vương giả suốt nửa đời người.
    Nhưng Trịnh Thiên Vân, Võ Nguyên Khánh tuy thông minh, bọn cướp cũng đâu dại gì, bao nhiêu thủ hạ theo phò anh em Đông Hải Vương từ bao năm nay thấy thủ lãnh của mình, trong cơn nguy khốn chỉ nghĩ đến bản thân mà bỏ rơi tất cả anh em trên đảo, mặc cho kẻ ngoài sát hại lại còn úm theo cả số tài sản định trốn khơi khơi để hưởng lấy an nhàn một mình, bọn chúng đâu dễ làm thinh, nhất tề la lối nguyền rủa vẳng lên.
    Đúng lý ra, lúc gặp nạn, mạnh ai nấy trốn, vả lại Hắc Phong Đảo không phải chỉ độc có một chiếc thuyền ấy thôi, nhưng vì bọn chúng đã quen thói tham lam ích kỷ, thấy chủ tướng ôm theo cả một số bạc to, còn mình trái lại những một ten lận lưng, tiền bạc đều cất trong kho phòng bí mật trên ngọn núi kia. Đại trại bị phá tan hoang, có tên nào mà đủ gan mật trở lại, mạo hiểm với lửa đỏ và bị sát nhân họ Hoàng nọ giết, để tìm tài vật phòng thân ?
    Chạy trốn chẳng tiền nong, mà vàng bạc thì trại chủ định úm cả trọn gói, tất nhiên chúng đâu chịu trố mắt nhịn thèm, nên bọn giặc tập trung trên bãi biển để kỳ kèo với trại chủ mình.
    Trịnh Thiên Vân, Võ Nguyên Khánh dắt theo vài mươi tên tâm phúc lên cả thuyền vừa định trương buồm đào vong, nhưng lại bị đám thủ hạ níu đỏi kéo lại chẳng cho đi, nhứt định đòi chia chát cho được mới nghe.
    Trịnh Thiên Vân cả giận, quát mắng :
    - Đâu có lộng hành như vậy được, cho đến bọn chết bầm này cũng chẳng xem trại chủ ra gì, định vì một số bạc vô chủ này mà làm khó dễ với ta chăng ? Bây đâu ! Xô tất cả bọn này xuống khỏi đòn ngang, bảo bọn chúng buông giây ra, tên nào cứng đầu chém cho cho ta !
    Đám thuộc hạ trên thuyền bình thường rất mực phục tùng lịnh trại chủ, nhưng vì đám tập trung trên bờ biển quá đông, mà cũng không thể cưởng lịnh trại chủ, miễn cưởng vung đao đâm chém bừa bãi trong lúc hai bên còn dằng co nhau thì Hoàng Dược Sư đã đuổi đến nơi rồi !
    Hoàng Dược Sư thấy bọn cướp láo nháo trì kéo lẫn nhau thì chẳng cần phân tách lỗi phải ra sao nữa, chàng tung mình nhãy vút vào giữa đoàn giặc hai tay túm lấy hai tên quăng bổng lên trời.
    Hai tên cướp rơi lộn mèo lên mình đám đồng bọn, làm cho bọn chúng té ngã đùn cụt lẫn nhau, vừa quăng nhầu vào đoàn cướp, cứ như thế quăng luôn bảy tám cặp thì đã có trên mấy mươi tên té lăn cù nhau dưới đất.
    Bọn giặc không khỏi loạn cả lên, la hét như điên, ùn ùn chạy tán loạn khắp tứ phía.
    Trịnh Thiên Vân thừa cơ hội lộn xộn trên bờ biển chạt đến đầu thuyền rút đao chặt đứt giây đỏi, đồng thời thúc giục :
    - Anh em đâu, trương buồm lên cho mau !
    Mười mấy tên thủ hạ trên thuyền vội căng buồm lên cao.
    Võ Nguyên Khánh cũng hét lớn ra lịnh :
    - Bỏ sào ! Chèo rút !
    Tức thì trên mấy chục dầm lẫn sào đập loạn xạ lỏm bỏm dưới mặt biển lanh như con thoi, trong khoảng khắc chiếc thuyền đã rời khỏi bờ mấy trượng.
    Hoàng Dược Sư liên tiếp quăng thảy đám cướp xông xáo vào đoàn người như sóng tràn đê vỡ, lướt đến gần được bờ biển thì chiếc thuyền chở Trịnh Thiên Vân đã rời xa khỏi bờ trên mười trượng rồi.
    Hoàng Dược Sư thấy bọn giặc đáp thuyền trốn chạy, còn chở theo cả hai mươi vạn lượng bạc của mình thì ngoài cả ý liệu định.
    Chàng nhìn khoảng cách giữa chiếc thuyền và bờ biển rồi lập tức hú lên một tiếng thanh tao nhãy vút khỏi bờ đảo, tung cao trên hai trượng, đoạn ở khoảng không lộn người lại, chân trên cao đầu cúi xuống phía mặt nước.
    Nhưng kỳ thật thì chàng không hề chúi tòm xuống nước, mà chờ khi sắp rơi là xuống cận mặt nước, song chưởng vỗ mạnh lên mặt nước, người chàng tựa như một con hải yến xẹt vút trở lên ba bốn trượng, song vì lúc Hoàng Dược Sư phi thân khỏi bờ biển thì nước chảy xiết, do đó chiếc thuyền chở bọn cướp lại trôi dạt ra thêm một hai trượng xa. Nói một cách rõ hơn, là đã kéo dài được một khoảng cách với Hoàng Dược Sư vậy.
    Kể cũng đáng khen Đào Hoa đảo chủ chẳng chút bối rối, lần thứ hai rơi xuống nước, chàng cũng y theo cách thức trước lại bay vút trở lên tựa như con chuồn chuồn giỡn nước, liên tiếp bốn năm lần xà xuống vượt lên như thế, đã nhãy đáp lên sạp thuyền giặc rồi, trên người Hoàng Dược Sư không dính một chút nước mà có thể vượt qua hai mươi trượng xa trên mặt biển, nhãy lên thuyền một cách nhẹ nhàng như chiếc lá rụng, khiến bọn cướp vừa khiếp phục vừa kinh sợ, kêu lên oai oái.
    Hoàng Dược Sư chân vừa đặt lên sạp ván, một cước dưới, một quyền trên trước tiên triệt hai tên cướp phụ trách ở lái thuyền, văng tòm xuống biển như hai quả khí cầu.
    Cùng trong lúc ấy, từ phía hữu của chàng liên tiếp réo lên tiếng xé gió "vù !" "vù !" , do những phiêu thương của mấy tên cướp đứng bên be thuyền phía hữu phóng lại.
    Những mũi phiêu thương ấy là loại khí giới dùng để đâm cá, nơi đầu mũi có chiếc ngạnh thật sắc,
    Hoàng Dược Sư cười lên như ma kêu quỉ hú, ngoáy tay một cái, đã bắt gọn mấy mũi phiêu thương vào tay, đoạn phất mạnh áo trở ra, dùng công phu Đàn Chỉ Thần Công cho mủi phiêu thương quay về nguyên chủ.
    Lối ăn miếng trả miếng của chàng vừa độc, vừa chuẩn. Bốn mũi phiêu thương phân ra bốn nẻo, ghìm lút từ trước ngực ra đến sau lưng bốn tên cướp, bọn chúng chưa kịp "ối cha !" một tiếng đã ngã vật xuống sạp thuyền chết lập tức.
    Kỳ dư bao nhiêu bọn cướp còn lại, thấy oai thế Hoàng Dược Sư như vậy hết dám chống cự, nhưng ngặt nỗi trên thuyền lại chẳng có nơi nào để trốn chạy chỉ còn cách rủ nhau nhào đầu đùng đùng xuống biển để lặn trốn khỏi tay sát thần họ Hoàng kia.
    Những tên còn khá bình tỉnh thì khôn hồn lội trở vào bờ, còn những kẻ quá ngu, chỉ nhắm mắt nhắm mũi bơi cho xa, đến khi sức cùng hơi tàn bị sóng triều nhận chìm xuống đáy biển sâu.
    Trịnh Thiên Vân, Vô Nguyên Khánh hai người thấy Hoàng Dược Sư nhãy lên thuyền mình giết người như cỏ, sợ đến quýnh quíu chân tay, bọn chúng lết từ đầu thuyền đến cuối thuyền, lại từ cuối thuyền lết tới mũi thuyền.
    Hoàng Dược Sư vừa nhìn thấy mặt hai tên tức thì "ào !" một tiếng gió, người chàng đã nhãy đến đầu thuyền như con đại bàng, đáp xuống trước mặt hai người cách nhau chẳng đầy hai tấc .
    Trịnh Thiên Vân kêu lia lịa :
    - Khoan ! Khoan đã ! Tôi muốn nói !
    Hoàng Dược Sư cất giọng âm trầm như quỉ đêm hỏi :
    - Còn muốn nói gì ? Mi bức tử vợ chồng Phùng Lai, ta đã bảo mi đưa ra hai chục vạn lượng bạc để thường mạng, mi lại ẩn lòng lang độc, bề ngoài vờ phục tùng, bên trong âm thầm tìm cách ám hại Hoàng mỗ ta, còn lải nhải gì nữa ? Mau trở đao tự sát để khỏi nhọc sức ta.
    Trịnh Thiên Vân biết chẳng còn nài nỉ vào đâu được, mặt như tro xám, Võ Nguyên Khánh trong đầu bỗng loé lên một ý định liền lên tiếng :
    - Họ Hoàng kia, trên đất liền tài nghệ ta chẳng bằng mi nhưng dưới nước chưa chắc bọn ta đã kém mi nếu ngươi quả là bậc hảo hán, hãy nhãy xuống nước cùng chúng ta quyết chiến thử xem ai hơn ai kém !
    Hoàng Dược Sư lạnh lùng cười khan và nói :
    - Bọn ngươi trên bờ bị thịt như thế e dưới nước cũng chẳng ra cái cóc rác gì ! Được lắm ! Chỉ cần bọn bây đành dạ chết thì dưới nước hay trên bờ cũng chẳng hại !
    Nói đoạn, song chưởng cuốn tròn một vòng rồi đẩy mạnh trở ra và nói:
    - Hai tên chó chết, có mau rút xuống nước cho ta không ?
    Chàng chỉ dùng có hai thành công lực Phách Không chưởng mà Trịnh, Võ hai người đã bị kình lực của chưởng phong hốt tuốt xuống biển, đánh ùm một tiếng. Nước bắn tung toé vào be thuyền.
    Hoàng Dược Sư cũng quát to một tiếng và nói :
    - Ta cũng nhãy xuống biển, bọn ngươi có bao nhiêu bản lãnh cứ việc đem ra hết thi thố, kẻo chết còn ức lòng không nhắm được mắt !
    Dứt lời, chàng liền nhún chân nhãy vụt xuống biển. Dưới nước sâu cũng có thứ khí giới khác biệt chuyên để sử dụng dưới nước.
    Trịnh Thiên Vân và Võ Nguyên Khánh là hai tên cướp biển thiện nghệ lâu năm trên miền Đông Hải, tinh thông thủy tánh là chuyện tất nhiên, nếu chẳng thế, bọn chúng làm sao có ngoại hiệu là Thốn Hải Trường Kình và Cửu Đầu Ngân Ngao được
    Bởi thế, chúng dư hiểu trên thuyền không sao chống lại nổi Hoàng Dược Sư, hy vọng với ngón sở trường dưới nước mạo hiểm để cầu may , dù chẳng đấu lại đối phương, thì dưới mặt bể mênh mông nước thẳm, cũng dễ trốn chạy, hơn là bó tay chờ chết.
    Hoàng Duợc Sư đâu phải là hạng người như chúng tưởng làm gì chẳng hiểu rõ tâm ý của bọn chúng. Vừa ném hai người xuống biển xong là chàng lập tức nhảy canh dòm chừng rồi.
    Trịnh Thiên Vân thấy Hoàng Dược Sư phăng phăng vẹt nước đuổi tới, liền với tay rút một đôi "phân thủy nga my thích" buộc sẵn nơi bắp đùi ra, hụp người chòi chân một cái đã lặn xuống thật sâu, rình chờ Hoàng Dược Sư lội ngang đỉnh đầu mình, sẽ xuất kỳ bất ý trồi lên đâm vào chỗ yếu nơi bụng đối phương.
    Dưới mặt nước nhìn đồ vật thật khó song Trịnh Thiên Vân nhờ sinh sống lâu ngày trên mặt biển, nửa đời người làm bạn với biển cả nên dù lặn dưới mặt biển một trượng sâu cũng có thể nhìn lờ mờ một vật ở xa ngoài bảy tám thước.
    Ngờ đâu y hôm nay gặp phải Hoàng Dược Sư một con người cũng đã nửa đời làm bạn với bể khơi, thủy tánh cao còn hơn y gấp mười, nên Hoàng Dược Sư từ xa đã thấy rõ Trịnh Thiên Vân đang lăm lăm trên tay ngọn binh khí sáng láng phản chiếu trong ánh nước, liền mắng thầm :
    - Thật là đồ trước cửa Lổ Bang mà dám múa búa.
    Chàng chợt nhìn thấy Võ Nguyên Khánh đang lội ở cách phía tả Trịnh Thiên Vân độ ba trượng, sực nghĩ được một kế, liền bỏ mặc gã họ Trịnh ở đó, quảy mình lội theo Võ Nguyên Khánh.
    Gã họ Võ đang lặn phía trước thình lình nghe sau lưng có tiếng nước khua động, biết là Hoàng Dược Sư đuổi theo mình.
    Không dám chần chờ, vội ngoáy tay một cái, ánh sáng lạnh liền loáng lên, một ngọn ám khí vẹt nước băng băng bay đến tấn công Hoàng Dược Sư.
    Môn ám khí của gã họ Võ vừa rồi tên là "Ngư vĩ cang thoa", thật ra khi ở dưới nước giao đấu nhau, vì có sức nước cản trở, nên bất luận là binh đao ám khí cũng khó là sử dụng. Thứ nhất là áp dụng ám khí , khó càng thêm khó, chẳng qua loại ám khí "ngư vĩ cang thoa" của Võ Nguyên Khánh, sở trường ở dưới nước sâu, nhờ ở một cái lò so trong ống thiết, dấu dưới tay áo , đẩy bật ra, có thể xuyên qua sức nước ngăn trở, giết chết đối phương trong vòng một trượng.
    Hoàng Dược sư chợt thấy trong làn ánh sáng lấp loáng ấy có một vật ám khí hình cá, lao đến trước mặt, chàng liền nhanh tay chộp lấy rồi lặn sâu xuống nước .
    Võ Nguyên Khánh thấy ám khí mình vừa phóng ra, liền có một bóng người tự dưng chìm sâu xuống, ngỡ là đã thâu hoạch được công hiệu, thầm mừng rỡ trong lòng, vội đạp chân quay lại, hai tay vẹt nước băng băng, định xem cho tỏ rõ.
    Hoàng Dược Sư lẹ như cắt từ dưới sâu bắn vọt lên, một tay chộp lấy hai cổ chân của hắn, dìm xuống đáy nước.
    Phàm những kẻ lặn lội dưới nước, tối kỵ là bị người khác giữ lấy tay chân, dìm xuống dưới dáy sâu, dù thủy tánh tinh thông đến bực nào, cũng phải cậy vào tứ chi để xoay tròn nên khi Võ Nguyên Khánh vừa bị nắm lấy cổ chân, đã hiểu ngay mình bị lừa. Dù cho vùng vẫy cũng vô ích trái lại còn bị uống phải nước biển, mà khi uống vào bụng rồi thì dầu tinh thông thủy tánh thế nào cũng phải đi đời .
    Võ Nguyên Khánh cố nhịn hơi định bụng tìm cơ hội phóng ra ngọn ngư vĩ kim thoa thứ hai hoặc may trong cái chết tìm lấy ngõ sống, hắn đâu có dè là kẻ cao vẫn có kẻ cao hơn.
    Hoàng Dược Sư chộp được cườm chân của đối phương, liền đẩy mạnh hắn về phía Trịnh Thiên Vân đang ẩn mình.
    Gã họ Trịnh nằm mơ cũng không ngờ rằng đồng bọn mình đã bị Hoàng Dược Sư bắt sống và đẩy sang phía mình.
    Trịnh Thiên Vân đang trầm sâu dưới đáy nước, đôi mắt lom lom chờ đợi, thình lình thấy phía trên đầu lờ mờ có bóng người vẹt nước lướt tới, ngỡ là Hoàng Dược Sư đuổi đến, lập tức đạp chân lặn trồi trở lên, vung cây nga mi thích, đâm vào huyệt đơn điền dưới bụng dưới đối phương kêu "sực" một tiếng ghê rợn.
    Trịnh Thiên Vân không ngờ nổi là sự đột kích bất ngờ vừa rồi, lại thành công dễ dàng như thế, thầm mừng trong bụng vội ngoắt mạnh ngọn nga mi thích một cái, kéo cả ruột gan của đối phương ra có nùi, máu tươi vọt phún ra, đỏ hồng cả một khoảng nước .
    Đáng tội cho Cửu Đầu Ngân Ngao tung hoành Đông Hải suốt nửa đời người lại chết trong tay của đồng đội Trịnh Thiên Vân.
    Trịnh Thiên Vân vừa rút ngọn Nga Mi thích ra thi hài của đối phương liền nổi phù lên mặt bể, khiến y giật mình kinh ngạc vô cùng ! Y dư hiểu là bản lĩnh của Hoàng Dược Sư rất cao cường, một cái đâm bất ngờ vừa rồi mà có thể giết chết chàng được như vậy sao ? Trong lòng lấy làm hồ nghi bất định chẳng lẽ lại đâm nhầm người của bổn đảo sao ? (Vì trong thời gian ấy tất cả bộ hạ trên thuyền đều ùn ùn nhãy xuống biển thoát thân cả).
    Trịnh Thiên Vân còn đang lưỡng ước băn khoăn, chợt thấy sau lưng gáy có một bàn tay cứng như sắt nguội chộp cứng cần cổ mình. Trịnh Thiên Vân vì quá bất ngờ, hốt hoảng mở miệng ra, nước biển được dịp tuôn vào bụng òng ọc như chảy vào lổ cống, tiếp theo đấy bụng dưới bị nện cho một quyền thích đáng.
    Trinh Thiên Vân đau quá vừa mở miệng thì nước biển lại một phen nữa chảy vào miệng.
    Trịnh Thiên Vân uống một hơi nước biển đã lâm vào tình trạng nửa tỉnh nửa mê.
    Hoàng Dược Sư liền nắm đầu xách lên khỏi mặt nước, lúc ấy Thốn Hải Trường Kình mới kịp nhìn thấy cái tử thỉ bị y đâm chết lúc nãy và nổi lềnh bềnh trên mặt nước kia, lại chính là người bạn kết nghĩa Võ Nguyên Khánh. Y buộc miệng kêu "á !" lên một tiếng.
    Hoàng Dược Sư khi ấy mới quát to :
    - Thằng giặc thúi ! Thấy rõ chưa ! Mi ở dưới nước ám toán ta không xong, lại nhè đồng bọn mình mà đâm chết có người hậu bạn cùng mi đến Uổng tử thành chết cũng đành dạ rồi vậy !
    Trịnh Thiên Vân chưa kịp đáp, ngọn chương của Hoàng Dược Sư đã chém xả xuống, bể cả sọ óc trắng vọt ra ngoài chết liền không một tiếng rên.
    Giết xong hai đầu đảng Đông Hải Vương, Hoàng Dược Sư thuận tay đoạt lấy thanh bồi đao của họ Trịnh cắt lấy thủ cấp hai người buộc xâu xách vào tay.
    Lúc ấy chiếc lầu thuyền chẳng ai lèo lài, bị sóng đánh trôi dạt ngoài xa tít mù một trăm dặm ngoài.
    Nhưng Hoàng Dược Sư là người tinh thông thủy tánh, lập tức lội đuổi theo chiếc thuyền nắm lấy tấm ván bánh lái lật mình một cái đã nhãy vút lên thuyền, kiểm soát trước sau mũi lái, trừ bạc nén chất trong khoang ra không còn một tên nào sao lái, Hoàng Dược Sư mới bỏ hai chiếc thủ cấp xuống dong buồm quay lại trực chỉ về phía bờ biển Triết Giang.
    Lần này Hoàng Dược Sư đơn thân bình định Hắc Phong Đảo, một người một thuyền sát hại trên sáu trăm tên cướp bể. Sau trận huyết chiến kinh khủng ấy, uy danh của Hoàng Dược Sư chấn động khắp cả miền Đông Hải, Triết Giang trở thành một tông sư duy nhất miền Đông. Tổ cùng với Trung Thần Thông Bắc Cái, Nam Đế. Tây Độc lừng danh trong thiên hạ.
    Chiếc lầu thuyền của Hoàng Dược Sư, qua hai ngày một đêm thuận theo ngọn gió, đến chiều ngày thứ hai đến phụ cận vùng bờ biển Hà Nam. Lúc ấy nơi Thanh Vân thôn, Võ Hồng Quang và Phùng Hương Điệp, vì thấy Hoàng Dược Sư đi đã mấy ngày mà chưa trở về, trong lòng hết sức nóng nảy lo âu, sợ chàng gặp chuyện bất trắc, nên nhờ cậy vài người dân làng di dọc theo bờ biển dò la trông chừng tin tức.
    Họ vừa thấy Hoàng Dược Sư cặp thuyền vào bờ, an lành trở lại, thật mừng còn hơn bắt được vàng, hoan hỉ la hét vang dậy.
    Hoàng Dược Sư bèn bảo bọn họ :
    - Ta đã phá tan sào huyệt của bọn cướp biển Hắc Phong Đảo, chém lấy thủ cấp của hai tên chúa đảng đem về đây, kể như đã báo được huyết hải thâm thù cho Phùng cô nương, lại còn đem về vô số tài vật của bọn cướp, các người mau trở về kêu gọi dân làng ra đây khiêng về.
    Đám dân làng cả mừng chạy như bay trở về không bao lâu, Võ Hồng Quang dẫn theo một đám đông dân làng rầm rộ đến nơi, nhìn thấy trong khoang thuyền bạc nén từng đống trắng chói cả mắt , hớn hở vui cười, một hô trăm ứng, gồng gánh số bạc trở về thôn.
    Hoàng Dược Sư cắt lấy một chéo buồm, bao gói hai chiếc thủ cấp đỏ lòm máu me kia lại trở về Thanh Vân thôn.
    Phùng Hương Điệp thấy Hoàng Dược Sư nửa mừng nửa thẹn, lại thấy trên tay Hoàng Dược Sư ôm một cái bọc lớn bèn hỏi :
    - Tướng công, trong tay tướng công cầm vật chi thế ?
    Hoàng Dược Sư cười thật dịu dàng đáp :
    - Đây là chiếc đầu của kẻ thù đã giết cha mẹ cô, nên tôi cắt đem về đây cho cô hả tức, còn chở theo hai mươi vạn lạng bạc trong trại cướp đem về, đủ cho cô ăn tiêu suốt một đời !
    Nói đoạn rủ mạnh gói vải buồm trên tay ra, hai chiếc đầu máu me lem luốc rơi lông lốc xuống mặt đất như hai trái dưa hấu.
    Phùng Hương Điệp cúi xuống nhìn xem quả đúng là đầu của hai tướng cướp Đông Hải Vương mừng rỡ đến suýt ngất đi.
    Hoàng Dược Sư bèn bảo nàng :
    - Cô nương, số bạc từ sào huyệt bọn cướp chở về đây, xin nhường lại một phần cho cô, đám tham quan ở Thiệu Hưng cũng đã bị tôi trừng trị tởn vía rồi. Cô có thể trở về cố hương an cư lạc nghiệp mà chẳng còn lo gì nữa.
    Phùng Hương Điệp ngập ngừng giây lâu mới đáp :
    - Không ! Tôi không cần vàng bạc, cũng chẳng muốn trở về làng cũ ! Nếu tướng công không chê, tiện nữ nguyện ý đến đảo Đào Hoa, làm kẻ tì nữ hèn hạ, suốt đời hầu hạ bên tướng công !
    Hoàng Dược Sư hiểu lời nói của Hương Điệp vừa rồi là rõ ràng có ý gởi thân cho, chàng thầm nghĩ nửa đời người giang hồ lang bạc là có cái diễm phúc được một người vợ sắc thắm hoa nhường, phong tư dịu dàng đầm thắm, con người vẹn đôi như thế, còn muốn gì hơn nữa ?
    Song vì Hoàng Dược Sư là một danh sĩ quen thói khí khái trượng phu không muốn làm cho người khác dèm siểm mình là kẻ thi ân cầu lợi để cưới một cô gái mồ côi, nên chàng lắc đầu nói :
    - Cô nương như vậy sao đặng ? Đào Hoa Đảo tuy phong cảnh thanh tú, nhưng chẳng qua chỉ là một cô đảo giữa biển khơi, cách biệt thế giới bên ngoài thanh tịnh vắng buồn, cô làm sao ở được !
    Phùng Hương Điệp đáp :
    - Lời của tướng công sai chăng ? Thuở xưa Lâm Hòa Tịnh với nếp sống cội mai làm vợ, hạc trắng làm con, tự cho mình là người trong giới thần tiên ngoại tục ! Thiếp tuy bất tài cũng không sợ tịch mịch là gì !
    Hoàng Dược Sư nghe lời đáp, trong lòng hết sức cảm động.
    (Nguyên vì thời Bắc Tống, có một vi tu sĩ tên Lâm Thông tại đất Giang Nam tự xưng là Hòa Tịnh tiên sinh, không thích công danh, ẩn cư nơi biệt dã, lúc về gìa ngụ tại bến bờ tây Hàn Châu, trước cửa nhà mình trồng mấy cụm mai to, lại nuôi được hai con hạc trắng. Có người hỏi ông tại sao chẳng chịu cưới vợ, chẳng iẽ không muốn có con để nối hậu sao ?
    Lâm Thông bèn mỉm cười lấy tay chỉ mấy cội mai trước nhà và đáp :
    - Đấy là thê phòng của tôi !
    Lại chỉ vào mấy con hạc đang đứng xớ rớ kế bên chân và nói tiếp :
    - Còn đây là con tôi, Lâm mỗ này lấy mai làm vợ, có hạc là con, cần gì phải như thói tục không chịu nổi kia, nhất định phải cưới vợ mới được hay sao ?
    Do đấy người mới có câu chuyện Hòa Tịnh tiên sinh là Mai thê, Hạc tử).
    Lời của Phùng Hương Điệp vừa rồi, làm cho Hoàng Dược Sư không khỏi bật cười to lên và nói :
    - Thật chẳng ngờ Hoàng Cổ tôi lại còn có một người hồng nhan tri kỷ như thế. Tốt số thay ! Cô nương đã nói như thế, tôi cũng chẳng hẹp gì mà không đưa cô nương đến Đào Hoa Đảo sống thử một phen !
    Hoàng Dược Sư bèn đem hai mươi vạn lượng bạc kia phân phát cho tất cả cư dân làng Thanh Vân thôn, mỗi người được lảnh hơn một trăm lượng, vui mừng hớn hở ca tụng công đức họ Hoàng chẳng tiếc lời.
    Hoàng Dược Sư lưu lại tíc t thôn Thanh Vân thêm hai ngày rồi cùng Phùng Hương Điệp, Võ Hồng quang đáp thuyền trở về Đào Hoa đảo .
    Sau đó Phùng Hương Diệp thành ra Hoàng phu nhân.
    Hoàng Dược Sư tự dưng được một cô vợ mỹ mạo song toàn nhưng tiếc thay hồng nhan bạc mạng, vì nàng cưởng đọc Cửu Âm Chân Kinh của Châu Bá Thông do dó mà tạ thế, trước khi lâm chung sanh được một cô con gái tên là Hoàng Dung tánh mình cao ngạo cổ quái y như Hoàng Dược Sư chẳng khác.

  4. #64
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 68 Xuất Du Viễn Phương


    Nhắc lại Toàn Chân Giáo Chủ Vương Trùng Dương, sau khi đại hội Luận Kiếm Hoa Sơn trở về. Vì được danh Thiên Hạ Đệ Nhất Bá oai danh chấn động sáu cõi, nên chẳng bao lâu nhân vật võ lâm trên khắp miền Nam Bắc các tỉnh đều biết đến bản lĩnh cao sâu của Trùng Dương, nối tiếp nhau kéo đến Tung Sơn.
    Những nhân vật võ lâm ấy, một số vì muốn thi tranh tài nghệ với Trùng Dương, một số muốn được kết thân với chàng, không đầy mấy tháng trời mà số vô lâm đồng đạo kéo đến Tung Sơn không dưới số ba bốn mươi người.
    Trùng Dương tuy dặn dò Mã Ngọc và Khấu Xử Cơ tìm lời khôn khéo từ chối khách lạ, nhưng cũng cảm thấy hết sức phiền trí bực lòng, nên một hôm bèn phân trần với Châu Bá Thông :
    - Này sư đệ, thật là tự ngu huynh chuộc lấy sự bực trí, đáng lẽ ngu huynh chẳng nên đến Hoa Sơn so tài võ nghệ để làm gì, dẫn dắt bao nhiêu tục khách đến quấy nhiểu mải Tung Sơn.
    Vừa nói đến đây Châu Bá Thông đã vọt miệng ngắt lời :
    - Sư huynh đừng trách tiểu đệ là lắm miệng, những thứ tìm đến so tài sư huynh, chẳng tên nào được lòng dạ tốt cả, sư huynh không chịu động thủ cùng họ thì thôi, sao chẳng để cho tôi đánh họ phun phẩn té tiểu ra, cong đuôi mà chạy một lần cho họ tởn !
    Trùng Dương nạt to :
    - Nói xàm ! Nếu một người luyện võ công, cốt chỉ để đánh lộn với người thì chả hóa ra gieo rắc thù hận khắp nơi chăng ! Thà chẳng học võ nghệ còn hơn. Đừng nói chi đâu xa, năm trước sư đệ chỉ vì háo thắng tự cường mới bị hai anh em song quái họ Âm vây khổn tại Đông Hải, lại bị nhịn đói ở Đào Hoa Đảo, bài học đó sư đệ quên rồi sao ?
    Châu Bá Thông thẹn thùng đỏ mặt cứng họng hết lời.
    Khấu Xử Cơ cùng mọi người đứng bên bụm miệng cười khúc khích.
    Trùng Dương nhìn ra ngoài núi xa, thở dài một tiếng buồn bã rồi bỗng đứng phắt dậy nói :
    - Bá Thông sư đệ, ngu huynh định sáng mai du hành phương Nam một chuyến, sư đệ ráng ở nhà dạy dỗ mấy đứa đồ đệ vậy !
    Lời chàng vừa thốt khiến bảy đệ tử của Toàn Chân phái đều giật mình kinh ngạc, chắp tay cúi đầu cung kính thưa :
    - Tại sao sư phụ lại động ý viễn hành như thế ?
    Trùng Dương đáp :
    - Từ mấy tháng nay, Vân Hà động của ta ồn ào như cửa chợ, hết người này lại đến người khác tìm thầy để kết giao bái sư. Một nơi thanh tịnh tốt lành bỗng chốc biến thành một trường danh lợi ô trọc, cho nên thầy muốn rời động du hành, một là tạm thời tránh khách, hai là tai mắt được phần nào thanh tịnh, các con phải ngoan ngoãn cùng sư thúc Bá Thông luyện tập tài nghệ nghe chưa !
    Châu Bá Thông chợt lên tiếng :
    - Sư huynh, tôi đi theo với sư huynh vậy ?
    Trùng Dương hết sức ngạc nhiên bèn hỏi :
    - Sư đệ lần này ta đến phương Nam, là vì muốn tránh đám tục khách kia đến quấy rầy. Sư đệ cũng đòi đi theo ta, với dụng ý gì ?
    Châu Thông đáp :
    - Sư huynh đâu có rõ, lần trước sư huynh đến Hoa Sơn cùng cái tên chết bầm Âu Dương Phong đánh lộn nhau, để một mình đệ ở nhà với mấy sư điệt thật buồn muốn thúi cả ruột, nếu kỳ này sư huynh không đưa tôi đi, đừng trách sao tiểu đệ gây họa cho sư huynh .
    Trùng Dương càng lạ lùng hỏi dồn :
    - Gây họa dử ? Sư đệ nói năng gì thế ?
    Châu Bá Thông gải đầu đáp :
    - Sư huynh còn phải hỏi : Nếu sư huynh đi rồi, bọn tồi ấy tìm lên Yên Hà động quấy rầy, tiểu đệ mặc kệ họ, động nào phái nào thấy mặt là đập liền, một tên đập một tên, hai đứa chơi hai đứa, cùng với bọn chúng đánh chơi bỏ ghét !
    Trùng Dương cả kinh nói :
    - Sư đệ em định làm reo với ngu huynh đấy chăng ?
    Châu Bá Thông đáp :
    - Sư huynh muốn tôi đừng làm reo cũng chẳng khó, đem tôi đi theo là mọi việc đều êm !
    Trùng Dương biết rõ tánh tình của sư đệ mình hễ nói thì làm không chút đắn do hơn thiệt, nếu y đã nói cùng người đánh lộn, thì thế nào cũng xảy ra cuộc ấu đả, chàng không có ở Yên Hà động, lấy ai mà quản thúc nổi y ?
    Trùng Dương chẳng biết làm sao hơn chỉ còn cách dậm chân đáp :
    - Thôi thôi ! Tôi đưa ông mãnh đi được rồi !
    Châu Bá Thông nghe Trùng Dương cho mình đi theo, mừng như mở cờ trong bụng, cười hăng hắc nói :
    - Như vậy mới thật là hảo sư huynh ! Thỉnh tướng không bằng khích tướng, hơ hớ ! Sư huynh, anh trúng kế khích tướng của tiểu đệ rồi !
    Trùng Dương bị y nói như thế, thật là lỡ khóc lỡ cười. Nhưng đã lỡ hứa cho y theo, không thể nuốt lời.
    Hai anh em bèn quyết định sáng hôm sau rời khỏi Yên Hà động xuống núi vân du miền Nam.
    Lần du Nam này Trùng Dương đã có định ý đến thành Đại Lý ở đất Vân Nam thăm viếng Nam Đế Đoàn Hoàng Gia, nhưng chàng chẳng hề nói ý mình cho sư đệ biết.
    Anh em Trùng Dương khi xuống núi liền theo đường Uyển Lạc thẳng về hướng Tây, qua ranh giới Hà Nam xuyên qua dãy Trường Sơn, Phục Ngưu, Trung Điều, Hùng Nhỉ, trực chỉ đến Đồng Quan cận biên giới Thiểm Tây.
    Con đường này đối với Châu Bá Thông không lạ lắm nên y bèn ngạc nhiên hỏi :
    - Sao thế ! Sư huynh có định tới Hoa Sơn nữa không ?
    Trùng Dương lặng thinh lắc đầu chẳng đáp, sau khi vào biên giới Thiểm Tây. Chàng không đi về hướng Hoa Sơn lại tẻ qua đường đến Đại Tản Quan.
    Châu Bá Thông mới lấy vỡ lê :
    - Ồ ! Thế ra sư huynh định vào Tứ Xuyên, sao chẳng sớm nói cho tiểu đệ biết với !
    Trùng Dương chỉ khẽ mỉm cười lầm lũi tiến về phương Nam, đầu óc đang bận quay về với thời gian năm xưa, lần đầu tiên chàng đến viếng Đại Lý quốc, tình cờ cứu được triều đại họ Đoàn khỏi cơn quốc biến.
    Thì ra thành Đại Lý là thủ phủ của Nam Chiến Quốc, quốc vương là giòng họ nhà thế đại tương truyền ngôi báu.
    Nam Chiến Quốc là một quốc gia duy nhất của dân tộc thiểu số ở biên cương hai tỉnh Vân Nam, Quý Châu trước kia là Lục Chiến quốc , qua đời Ngũ đại , Tân Đường binh oai cả dậy, sau trong nước sanh nội loạn, có một quan đại thần họ Đoàn (tổ tiên của Đoàn Hoàng Gia hiện tại) dắt cả gia tộc đào vong đến biên trấn lập thành Nam Chiến Quốc, truyền đến vua Hiếu Tông đời Tống Quốc Vương Nam Chiến là Đoàn Thạnh, nhân dân quen gọi là Lão Hoàng Gia.
    Đoàn Thạnh là một quốc vương anh hùng đại lược , siêng năng cần mẫn việc quốc chánh, khiến cho một quốc gia tiểu nhược trở thành thạnh trị , trong thành Đại Lý , nhân dân sung túc ấm no. Người đi đường không lượm của rơi, đêm không đóng cửa ngỏ , mường tượng như một thiên đường thế giới.
    Đoàn Lão Hoàng Gia tuổi đã nửa đời, tam cung lục viện thê thiếp dẩy đầy nhưng chỉ sanh được một mụn Thái Tử tên là Đoàn Cẩm, chính là Nam Đế đã liệt danh trong hàng Ngũ Bá Vô Lâm trong kỳ Hoa Sơn luận kiếm vừa qua .
    Đoàn Cẩm từ nhỏ đã tỏ ra rắn mắc háo động, thích võ hơn văn, một hôm vào tiết tháng hai, khí xuân phơi phới, trong thành ngoài nội muôn hoa ngạt ngào sắc thắm hương thơm. Thái Tử Đoàn Cẩm cảm thấy chân tay ngứa ngáy vì thời tiết rực rỡ quyến rũ
    kia, bèn dắt theo vài tên tùy tùng đến Phỉ Thúy hồ để du ngoạn.
    Hồ Phỉ Thúy cách xa thành Đại Lý mười dặm về hướng Bắc, mặt hồ rộng chừng hai mươi dặm vuông nhưng cảnh sắc u nhàn mỹ lệ vì núi thẩm nước xanh, quanh năm mặt nước phẳng lì như một viên ngọc bích nên sĩ phu miền trấn Tây mới đặt tên là Phỉ Thúy hồ.
    Đoàn Cẩm cùng đoàn tùy tùng đến bên bờ hồ thấy nước trong leo lẻo rất dễ thương, cảm thấy trên người lại nóng bức khó chịu, muốn nhãy ngay xuống hồ xanh biếc kia tắm cho mát, bèn quay lại bảo thị vệ cởi áo cho mình.
    Bọn tả hữu tùy tùng kinh hãi bèn quì xuống cản ngăn :
    - Tâu điện hạ, không thể tắm ở nơi đây được vì hồ Phỉ Thúy này từ xưa tới nay không ai xuống tắm bao giờ, hễ nhãy xuống là mất mạng ngay .
    Đoàn Cẩm hết sức lạ lùng bèn hỏi :
    - Trong hồ có yêu quái ăn người chăng ?
    Nội thị bèn bẩm :
    - Vì điện hạ chưa biết dưới đáy hồ có một con quái long ẩn mình, mỗi kỳ trăng tròn tháng ba, tháng năm, liền xuất hiện trên mặt hồ, vùng vẫy dưới ánh trăng, hào quang màu vàng lóe mắt, đã có nhiều người ở ven bờ hồ nhìn thấy qua, nên không ai dám léo hánh đến bờ hồ trong vòng năm mươi bước mỗi khi về đêm, có mấy đứa bé người Mèo thử xuống hồ tắm chơi nhưng liền mất tích luôn, cho đến thi hài cũng chẳng còn, nghe đồn là bị con khủng long ấy ăn thịt mất.
    Đoàn Cẩm vốn tánh cường ngạo bèn bảo tả hữu :
    - Trời đất thanh bình như thế này làm gì lại có yêu quái ăn thịt người, đừng có nghe thiên hạ đồn vô căn cứ mà tin nhảm ! Dù có con quái long đi nữa, ta nhất định cũng xuống tắm xem con quái long ấy ra sao, thuận tiện giết chết nó, để trừ hại cho dân lành.
    Nội thị xúm nhau hết sức khuyên can, chẳng ngờ càng làm cho vị Tiểu Hoàng Gia cứng đầu kia thêm nổi giận, rút phăng thanh thất thủ đao bên mình ra, hoa lên trong không khí và quát to :
    - Đứa nào ngăn trở không cho tao tắm, ta sẽ ngoáy cho một đao thấu tới sau lưng cho biết tay !
    Bọn nội thị hốt hoảng vẹt ra hai phía, chẳng tên nào dám lải nhải thêm một câu, chỉ vì Tiểu Hoàng Gia này trời sanh dị bẩm sức mạnh vô cùng, tánh khí như lửa đốt, mỗi khi nổi xung lên là bất kể thân sơ xa gần. Bọn họ chỉ đành nín lặng tiếng mặc cho tiểu chủ tự do hoành hành.
    Đoàn Cẩm đắc chí cười lên ha hả rồi ung dung cỡi bỏ áo quần chỉ mặc một chiếc quần lót, ùm một tiếng nhún chân nhãy tòm xuống, hụp vùng vẫy thỏa thích dưới nước hồ xanh mát, hết lội lui lội tới, lại đánh đu theo mấy nhành cây gie ra bờ hồ, cười lên cầm cắc vang cả núi rừng.
    Bọn nội thị thấy Đoàn Cẩm nô đùa rất cao hứng, sự sinh nghi trong lòng họ đã tiêu đi phân nửa , ngở là câu chuyện "quái long" chẳng qua chỉ là một câu chuyện thần kỳ bịa đặt của đám dân quê không công ngồi rồi dựng đứng lên cho vui miệng mà thôi.
    Đoàn Cẩm đùa nghịch ven bờ hồ một hồi, cảm thấy gần bờ nước quá cạn không mấy hứng , bèn lội ra giữa hồ, chàng vừa lặn ra sâu cách bờ hồ độ mươi trượng, chàng cảm thấy dưới bàn chân có một vật mềm mềm trơn nhớt lạnh quấn lấy bàn chân mình.
    Đoàn Cẩm lúc đầu ngở là một con cá lớn trong hồ chạm phải chân mình, tánh chàng vốn ỷ lại hay nghịch, lập tức lặn sâu dưới nước, định bụng bắt con cá to ấy chơi, thình lình nơi chân đau nhói lên dử dội dường như bị một vật gì nhọn cứng đâm vào da thịt, trong lòng đang lúc sợ hãi thì bỗng nhiên nghe những tiếng đập trong nước "Đùng ! Đùng !"
    Cách đấy bảy tám bước, rồi trong vùng sóng nước tung tóe ấy, hiện ra một chiếc đầu quái vật lớn như cái đấu, lốm đốm sắc vàng đen, quậy trên mặt nước vài cái rồi lập tức lặn mất ngay.
    Bọn thị vệ trên bờ hồ nhìn rõ ràng, hốt hoảng réo gọi vang dậy :
    - Điện hạ ơi, không xong Không xong ! Quái long đến rồi chạy mau ! Leo lên bờ chạy cho mau !
    Đoàn Cẩm nghe bọn thị vệ réo gọi om sòm trong lòng rất ghét, nhứt định ở lì dưới hồ trêu bọn họ chơi, hơn nữa bản tính trời sanh lại ghét ác như kẻ thù, thầm nghĩ là quái vật núp mình trong hồ kia, quyết không phải là rồng, tuy chưa hề tận mắt thấy trong sách vở, rồng có thể đằng vân biến hóa, hớp khí thành mây, hà hơi thành mưa, có đâu chỉ núp sâu dưới đáy hồ để cắn chân mình ?
    Như thế nhất định chỉ là loại thủy quái mà thôi, chàng lại là kẻ sức mạnh hơn người, thủy tánh lại tinh thông hà tất lại sợ nó, trong tay lại có sẵn một lưỡi dao gâm sắc bén, thật là cơ hội rất tốt để trừ khử vật ác giúp ích cho lê dân.
    Chủ ý đã quyết bèn chẳng thèm lội lên bờ, mặc cho đám thị vệ kêu réo.

  5. #65
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 69 Thân thế Nam Đế


    Chàng bình tỉnh lội ra giữa hồ, vừa lội ra độ bốn năm trượng, chợt nghe dưới chân bị giật mạnh một cái, tiếp theo đó hai cổ chân chàng bị một chiếc đuôi mọc đầy vẩy cứng quấn chặt lại và kéo mạnh xuống, thân hình của Đoàn Cẩm chìm lỉm xuống đáy hồ ngay .
    Sự nguy hiểm quá ư bất ngờ ấy, nếu gặp phải kẻ khác, tất cả quýnh quíu tay chân vùng vẫy loạn xạ, nhưng Đoàn Cẩm vẫn không chút bối rối, hít đầy một hơi khí trời vào phổi, lặn tuốt xuống nước. Ngọn dao găm liên tiếp vung ra bảy tám nhát đâm vào chiếc đuôi nhám xì đang quấn chặt hai chân chàng, máu từ đuôi quái vật phún ra đỏ hồng cả một khoảng nước hồ !
    Quái vật đau quá không chịu được liền nới lỏng chiếc đuôi ra, nhãy lồng lên khỏi mặt hồ.
    Bọn thị vệ đồng thanh hét xướng lên :
    - Cá to ! Cá to, con cá to quá cỡ !
    Thì ra chiếc đuôi mà con vật đã quấn chặt đôi chân của Đoàn Cẩm trơn tru chẳng có kỳ vi gì cả, tựa như chạch cũng không phải chạch, mà là một loài quái ngư to lớn từ đầu chí đuôi, dài độ ba trượng, to như cái thùng cây , đầu nhọn và dẹp, toàn thân sắc vàng óng ánh lại lốm đốm hoa đen. Cái nhãy phóng mạnh vừa rồi cao khỏi mặt nước một trượng ngoài, trên lưng vảy vàng long lanh chói mắt, rơi trở xuống đánh ầm một tiếng, sóng bủa cao như ngọn núi nhỏ, bọt nước sôi ùng ục, quậy cả chất bùn dưới đáy hồ lên đục ngầu cả một khóm nước xanh veo.
    Đoàn Cẩm thấy rõ toàn thân con vật lộ trên mặt nước, liền phóng người nhãy ào đến, ngọn dao găm trên tay nhắm ngay sườn con quái vật thích mạnh một mủi, rạch một đường dài trên lưng con quái vật gần hai tấc, máu phún ra như ngọn suối đỏ.
    Quái ngư vì đau quá nổi điên, chiếc đuôi quẫy mạnh uốn vòng từng đoạn, trong nháy mắt đã quấn khắp người Đoàn Cẩm trên bốn năm vòng siết chặt lại.
    Đoàn Cẩm trong lúc gấp rút, vung lưỡi dao găm nhắm ngay dưới ức con vật đâm nhầu, sức đâm vừa rồi quá mạnh nên ngọn dao gâm lút mất cái mủi lẫn cán vào họng con quái ngư !
    Tuy bị trúng ngay chỗ yếu nhưng vì thân hình quái ngư to tớn dị thường, sức chịu đựng rất bền, nên trong nhất thời không sao giết chết được nó.
    Quái vật càng đau ráng xiết chặt thân hình, đẩy vẩy vào thân hình Đoàn Cẩm khiến chàng đau nhức khắp châu thân, xương cốt cơ hồ như bị gảy ra.
    Quái vật còn ngoái đầu lại hả chiếc họng ngo ngoe hai cái râu kỳ dị hai bên mép ra, nhọn lêu lểu như hai chiếc sừng, định thọc vào yết hầu và Thái Dương huyệt của Đoàn Cẩm để giết chàng .
    Nào ngờ Đoàn Cẩm lanh lẹ mưu lược, rút mạnh hai tay ra khỏi vòng siết của quái vật ,chộp lấy chiếc râu bên mép của nghiệt súc, sử dụng thần lực trời ban của mình, cố sức chống đở với hai cọng râu mép kỳ dị kia.
    Đoàn Hoàng Gia nhìn thấy nơi phía dưới vị trí đầu và ức của quái ngư, có một chỗ da trắng như sữa không có vảy, trong cơn gấp liền sanh mẹo hay, hả họng táp đại chỗ da mỏng ấy, ngậm chặt cứng chẳng buông, hút mạnh chất máu trong cơ thể quái vật, định bụng cho quái vật mau kiệt sức mà chết.
    Chẳng ngờ chất máu ấy vào miệng, tức thì chàng cảm thấy mùi vị vô cùng ngọt mát, chảy xuống vào cuống họng, nghe tinh thần sảng khoái vô cùng, càng cố sức hút mạnh thêm, và lạ kỳ thật, chất máu của quái vật có một sự công hiệu phi thường, hút được một ngụm máu vào miệng, liền cảm thấy tinh thần phấn chấn, sức mạnh tăng thêm một phần, đến lúc uống no đầy bụng, thì thần lực của Đoàn Cẩm đã gia bội không biết bao nhiêu lần.
    Chàng bèn dùng sức bẻ mạnh một tiếng "rắc !" khô khan vang lên, hai chiếc râu mép cứng như sắt nguội của quái ngư dài gần hai thước, đã bị sức mạnh kinh hồn của Đoàn Cẩm nhổ nguyên cả cộng ra khỏi miệng quái vật.
    Quái ngư mất đi cặp râu, đau quá không chịu được cuốn cả Đoàn Cẩm nhãy dựng lên khỏi mặt hồ trên hai trượng cao rồi "đùng !" một tiếng cả người và vật rơi xuống trên bờ hồ, quái ngư vùng vẫy ưỡn lưng đập đuôi mấy cái, là chết tại trận.
    Bọn thị vệ từ nảy giờ nín thở nhìn cuộc chiến giữa người và vật không khỏi sợ hải la lên tru tréo.
    Đoàn Cẩm nhờ hút đầy một bụng máu của quái ngư, sức mạnh tăng tiến dị thường chẳng cần bọn thị vệ đến giải cứu đã từ dưới đất trở mình nhãy dựng dậy tuột khỏi vòng quấn của quái ngư, mình mẩy ướt đẩm như chuột lột.
    Đoàn Cẩm nhìn lại chiếc quần lót rách như sơ mướp của mình, rồi nhìn quái ngư đoạn vỗ tay cười khanh khách và nói :
    - Cái gì mà quái long, khủng long, đấy nguyên hình của quái long, bị ta giết chết, chẳng chút phí sức hà hà...
    Chàng đang nhãy nhót vui vẻ cười nói bô bô ra chiều đắc ý bỗng dưng ngã xỉu tại chỗ !
    Bọn thị vệ quýnh quíu tay chân, vội vực tỉnh Đoàn Cẩm dậy, khiêng thẳng về triều, để lại hai thị vệ canh chừng xác của quái ngư, và phái một chiếc xe trâu, đến chở xác quái ngư về thành Đại Lý.
    Tin ấy không mấy chốc loan đồn khắp dân gian trong Nam Chiến Quốc. Mọi người đều biết Thái tử trời sanh thần lực đánh chết quái long ở Phỉ Thúy hồ, thầm mừng cho Nam Chiến Quốc có phước được trời giáng sanh một vị chân mạng đế vương.
    Đoàn Cẩm sau khi được đưa vào nội cung, mê man bất tỉnh cho đến suốt đêm, rồi phát nóng như lửa đốt. Rờ vào da thịt chàng như chạm phải than hồng.
    Lão Hoàng Gia hết sức bối rối vội cho đòi ngự y đến chẩn mạch.
    Nhưng kể cũng lạ, các vị ngự y trong triều sau khi chẩn mạch xong, vị nào cũng lắc đầu không dám ra toa, vì đều cảm thấy Thái tử Đoàn Cẩm sáu mạch hòa bình, chẳng có một triệu chứng gì bệnh hoạn cả.
    Nhưng bảo là không bịnh làm sao Lão Hoàng Gia chịu tin. Nói một cách tóm tắt là Đoàn Cẩm mắc một chứng bịnh lạ, mà ngự y chỉ có thể trị những bịnh thông thường, chứ đối với chứng bịnh khác thường của Đoàn Cẩm thì đành bó tay !
    Lão Hoàng Gia càng nóng nảy triệu tất cả danh y trong thành Đại Lý đến cung vi, truyền lệnh bọn họ trị bịnh cho Thái tử, nhưng rốt cuộc các vị danh y này chẩn mạch xong cũng đều lắc đầu, không dám khai toa y như những vị ngự y trong triều.
    Lão Hoàng Gia càng nổi cơn lôi đình, một vị cận thần bèn tâu rằng :
    - Khải tâu Bệ hạ bịnh của Thái tử rất lạ kỳ , danh y thường không sao chữa được. Bệ hạ treo bảng trọng thưởng, triệu thỉnh vị nào có thể trị bịnh lạ cho Điện hạ, hoặc may có người tài chăng ?
    Lão Hoàng Gia vì lo lắng cho Thái Tử mất cả sáng suốt nghe cận thần tâu như thế rất đẹp ý rồng, lập tức cho treo bảng trước Hoàng môn, kể rõ căn do bịnh trạng của Thái tử, trọng thưởng cho kẻ nào trị lành được bịnh của Thái tử đương triều, một ngàn cân vàng ròng thêm phong ấp muôn bộ.
    Bảng treo lên không đầy nửa ngày thì phía thành Nam có người giựt bản xin vào triều kiến.
    Kẻ xin vào điều trị bịnh trạng cho Đoàn Cẩm, là một đạo sĩ áo tím.
    Vị quan viên canh chừng tấm bảng cả mừng đưa đạo sĩ vào chầu.
    Lão Hoàng Gia thấy vị đạo sĩ ấy râu dài năm chòm dung nghi thanh tuấn biết rõ là một đạo nhân đức độ, trong bụng mừng thầm, vừa định lên tiếng hỏi han, thì lão đạo sĩ đã cúi đầu thi lễ từ tốn nói :
    - Vô Lượng Thọ Phật, bần đạo là Ngọc Động Chân Nhân, nhà tại núi Thanh Thành tỉnh Tứ Xuyên, lấy cứu dân độ thế làm tôn chỉ, từ Tứ Xuyên vân du qua đây nghe đồn Thái Tử lâm bịnh lạ, mạo muội đến đây để xem bịnh tình của người.
    Lão Hoàng Gia cả mừng lập tức truyền chỉ cho thị vệ đưa Ngọc Động Chân Nhân vào cung Thái Tử để xem bịnh .
    Ngọc Động Chân Nhân vừa đưa tay tuần mạch cho Đoàn Cẩm liền "ủa !" một tiếng lớn và quay sang hỏi một tên thị vệ :
    - Quái ngư mà Điện hạ giết chết hôm nọ, hiện để ở đâu ? Hay là quăng rồi ?
    Gã thị vệ liền đáp :
    - Quái ngư ấy ư ? Không có quăng, để một đống sau hoa viên, tanh hôi lắm, Lão Hoàng Gia định ra lịnh đốt ra tro đấy !
    Ngọc Động Chân Nhân liền đứng dậy, nhờ tên thị vệ dẫn đường đưa mình đi xem xác con quái ngư.
    Gã thị vệ thấy lão đạo sĩ chẳng chịu trị bịnh cho Thái Tử, trái lại muốn đi xem chuyện không đâu, trong lỏng nghi hoặc chẳng hiểu nhưng không dám cãi lời đành đưa ông ta đến nơi ngự uyển.
    Ngọc Động Chân Nhân thấy con quái vật nằm cuộn lại một đống như hòn đồi non, mùi tanh tưởi xông lên lợm cả giọng, liền thò tay vào túi móc ra một lọ ngọc nhỏ, trút ra một chút thuốc bột bôi vào mũi, đoạn bước đến gần xác quái ngư, nhìn xem một hồi, trên gương mặt lộ sắc mừng, vòng tay rút ra một thanh kiếm sáng ngời, chém mạnh vào đầu quái ngư, dùng sức kéo mạnh một cái, khều ra một viên ngọc lớn bằng trứng bồ câu hào quang lấp lánh khắp cùng.
    Ngọc Động Chân Nhân bèn dùng khăn tay bao viên ngọc ấy lại mừng rỡ trở vào điện, vừa thấy mặt Lão Hoàng Gia đã nói ngay :
    - Kính mừng cho Bệ hạ, bịnh của Thái tử không những chẳng có gì đáng ngại, mà sau khi lành hẳn bịnh chắc chắn sẽ trở thành một vị đại anh hùng oanh liệt nhứt nhì trong thiên hạ làm rạng rỡ cho Nam Chiến quốc thật đáng mừng thay !
    Đoàn Lão Hoàng Gia đang cơn ưu sầu khắc khoải vì bịnh trạng của con. Nghe Ngọc Động Chân Nhân nói chẳng đầu chẳng đuôi gì cả, không khỏi ngạc nhiên ngở là lão đạo sĩ có bịnh khùng.
    Ngọc Động Chân Nhân bèn nghiêm sắc một nói tiếp :
    - Hoàng Gia nên hiểu, quái vật mà Điện hạ giết chết bên hồ Phỉ Thúy chính là một thiện ngư (con lươn) sống lâu năm, rất thông linh, tên gọi là Kim Thiên Vương.
    Tuy con lươn chỉ là một loại cá tôm tầm thường, song khi nó đã sống được ba trăm năm sấp lên sẽ trở thành một vật quí trong trời đất rất hiếm gặp được, thịt và máu của nó quí báu vô ngần, ăn được sẽ tăng thêm sinh lực sức mạnh.
    Điện hạ trong lúc cùng con Kim Thiên Vương cầm cự nhau dưới nước, vô tình cắn trúng cần cổ , hút được máu của nó, mà lại hút máu dưới cần cổ là một thứ máu tinh hoa của đơn huỳnh huyết, nến phải mê man ba ngày, chớ chẳng có gì đáng ngại cả. Bần đạo chỉ cần thi thố một chút thuật nhỏ mọn là Điện Hạ sẽ tỉnh ngay. Nhưng sau khi Điện hạ tỉnh dậy, sức mạnh sẽ vô cùng, trên châu thân trừ mặt mày ra, khắp da sẽ mọc lên lớp vảy dày như đe cứng, đạo thương đâm chẳng lủng. Bệ hạ thử nghĩ đấy có phải là phúc duyên của Điện hạ chăng ! Có gì mà bệ hạ phải lo rầu cho hao tổn mình rồng .
    Lão Hoàng Gia mới vỡ lẽ vì sao mà bao nhiêu danh y chẩn bịnh Đoàn Cẩm không ra nên không khỏi đổi buồn thành vui.
    Ngọc Động Chân Nhân liền đi đến bên giường Thái tử Đoàn Cẩm cởi tất cả quần áo trên người chàng ra, xoa hai tay cho thật nóng đoạn xoa bóp trên khắp châu thân của Đoàn Cẩm độ thời gian một buổi cơm, trong bụng Đoàn Cẩm có tiếng sôi lụp bụp.
    Chân Nhân liền lấy viên ngọc lươn trong chiếc khăn tay ra, dùng hai ngón tay nhón lấy viên ngọc, lăn qua lăn lại nơi trên ngực dưới phía vú của chàng, cứ lăn đi lăn lại như thế qua nửa giờ đồng hồ sau.
    Đoàn Cẩm bỗng cất tiếng rên to :
    - Ối cha !
    Đôi đồng tử chuyển động không ngừng rồi mở mắt tỉnh dậy ngay .
    Lão Hoàng Gia thương con rất mực vội tiến sát bên giường, ôn tồn hỏi :
    - Vương nhi, con cảm thấy thế nào ? Trong mình chẳng sao hả con ?
    Đoàn Cẩm mở mắt ra, nhớ lại lúc cùng con lươn chúa ác đấu nhau như thật như mơ, bèn ngơ ngác hỏi :
    - Phụ Vương ! Sao Thần nhi lại ở đây ? Còn con quái ngư lúc nãy đâu rồi ?
    Đoàn Lão Hoàng Gia thấy con mình còn ngơ ngơ ngẩn ngẩn chưa tỉnh hẳn, trong lòng chua xót muôn vàn bèn dịu dàng đáp :
    - Quái ngư ấy đã chết rồi ! Vương nhi, vị đạo trưởng này đã cứu mạng con đấy !
    Đoạn đem sự việc đã qua thuật sơ lại cho chàng hiểu rõ.
    Đoàn Cẩm rất mực thông minh, lập tức xuống khỏi ngọc sàng định cúi đầu tạ ơn, chẳng ngờ vừa cử động thân hình, cảm thấy tứ chi gân cốt khắp châu thân đau đớn như dần, không sao chỗi dậy nổi liền "ối chà !" một tiếng rồi nằm mẹp trên giường ngọc.
    Ngọc Động Chân Nhân đở lấy lưng chàng, trong đôi mắt tía ra những tia nhìn hết sức từ ái và nói :
    - Điện hạ không cần tạ ơn bần đạo, cũng đừng nói chuyện nhiều hãy nằm nghỉ yên cho lại sức.
    Nói xong bèn nhẹ nhàng đở Đoàn Cẩm nằm xuống, đoạn lấy mắt ra dấu Đoàn Lão Hoàng Gia rời khỏi tẩm điện.
    Đoàn Lão Hoàng Gia nghi ngại chẳng hiểu ra sao, cũng bước vội theo ra, và hỏi :
    - Thưa đạo trưởng, con tôi thế nào có chắc đã lành chưa ?
    Ngọc ĐộngChân Nhân chấp tay đáp :
    - Bịnh của Điện Hạ chẳng có gì đáng ngại nữa, bần đạo khai một toa thuốc cho Điện hạ uống trong vòng ba ngày là phục hồi như cũ, còn như điều kiện trên bảng vàng...
    Đoàn Lão Hoàng Gia liền hớt lời :
    - Một ngàn cân vàng chăng ? Tất nhiên là phải dâng kính cho đạo trưởng, xin đạo trưởng yên tâm, Cô Vương sẽ sai người đem đến ngay.
    Ngọc Động Chân Nhân vội lắc đầu từ chối :
    - Lão Hoàng Gia hiểu lầm rồi ! Bần đạo là một kẻ huyền môn tu hành tứ đại giai không, vô nhân vô ngã, còn lấy số vàng thưởng ấy làm gì ? Bần đạo chỉ có một điều thỉnh nguyện chẳng biết Đoàn Lão Hoàng Gia có thuận tình chăng ?
    Đoàn Lão Hoàng Gia vội nói tiếp :
    - Có lẽ đạo trưởng chê vàng hơi nặng nề chứ gì hay là đổi lấy châu ngọc vậy !
    Ngọc Động Chân Nhân tức cười, đáp :
    - Lão Hoàng Gia lại ngộ nhận nữa rồi, điều bần đạo thỉnh nguyện, chẳng phải châu báu bạc vàng, bần đạo có ý nói là những điều kiện trên bảng, bần đạo nhất nhất chẳng muốn, chỉ hy vọng được thu nhận Thái Tử làm môn hạ, để bần đạo dạy người trở thành một trang võ nghệ tuyệt luân, để cho võ lâm một đóa kỳ hoa sau này, Lão Hoàng Gia có chấp thuận lời yêu cầu ấy chăng ?
    Lão Hoàng Gia vỡ lẽ bèn đáp :
    - Hay lắm ! Đạo trưởng là một cái thế kỳ nhân. Tiểu nhi được hầu dưới gối đạo trưởng, thật là duyên tu mấy kiếp. Bắt đầu từ hôm nay lão đạo trưởng hãy lưu lại ở cung đình với cha con trẫm.
    Nói dứt lời, liền quay sang ra lịnh cho nội thần, dọn dẹp một gian cung điện u nhàn cho Ngọc Động Chân Nhân nghỉ ngơi.

  6. #66
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 70 Nam Đế trổ Thần Oai


    Bắt đầu từ hôm ấy, Ngọc Động Chân Nhân lưu lại trong cung điện của vua họ Đoàn, mỗi ngày lại một toa thuốc huợt huyết lưu khí cho Đoàn Cẩm uống. Quả nhiên, hôm sau là lành bịnh như thường.
    Sau khi phục hồi sức khoẽ, Đoàn Cẩm cảm thấy con người mình từ lúc uống được huyết con lươn chúa, trong cơ thể có hai hiện tượng lạ kỳ.
    Hiện tượng thứ nhất là sau khi rời khỏi giường bịnh, sức lực mạnh vô cùng, sức lực ở chân tay càng lợi hại hơn nữa .
    Trong buổi đầu rời khỏi ngọc sàng, cung nữ đến hầu hạ giúp chàng thay đổi xiêm y, Đoàn Cẩm y theo ngày thường dùng tay vịn lấy vai cung nữ.
    Nàng cung nữ ấy mặt hoa liền đổi sắc, "ối cha ! " lên một tiếng, rồi ngất xỉu ngay trên mặt đất.
    Đoàn Cẩm ngơ ngác chẳng hiểu chuyện chi, sau lại ngự y khám bịnh và nói rõ cung nữ ấy té chết giấc nguyên do vì Đoàn Cẩm vịn lên vai cung nữ ấy quá mạnh, khiến nàng trật cả khớp xương vai, quá đau nên ngất đi.
    Chàng không thể tin là mình lại có sức mạnh như thế, song khi chàng tự mình thử dùng tay ấn nhẹ lên bàn ghế vật dụng trong tẩm điện, hễ ấn tới đâu là những tiếng "rắc rắc !" vang lên đến đấy, liên tiếp ấn lún luôn mà híc ghế cây bằng danh mộc.
    Đoàn Cẩm mới hiểu rõ là kết quả kỳ lạ của sự uống huyết con Kim Thiện vương, giúp chàng trở thành một người có thần lực kinh hồn như thế, trong dạ nửa sợ nửa mừng.
    Hiện tượng thứ hai là sau khi bình phục vài ngày, cảm thấy da dẻ châu thân ngứa ngáy khó chịu vô cùng, không đầy nửa buổi trời, dưới lớp da mọc lên từng mụt đỏ bầm, những mụt màu đỏ ấy, ngứa xót phi thường. Chàng thử dùng tay khưới lên, nhưng vừa khượi phải, da chỗ ấy lập tức biến nên cứng rắn lạ lùng.
    Trước sau chẳng tới hai ngày, khắp châu thân mọc lên từng miếng da cứng như vẩy cá, chắc chắn vô cùng, thử dùng dao nhọn cắt đi, nhưng chẳng hề hấn, mường tượng như có một lớp giáp sắt bao bên ngoài vậy.
    Đoàn Cẩm mười phần lạ lùng chẳng biết vì sao ?
    Đoàn Lão Hoàng Gia thấy con mình đã lành hẳn bịnh, bèn lựa ngày huỳnh đạo kiết nhựt, dạy Đoàn Cẩm bái sư cùng Ngọc Động Chân Nhân, đổi cách xưng hô thành thầy trò.
    Lúc ấy Đoàn Cẩm chỉ mới mười bốn tuổi đầu.
    Ngọc Động Chân Nhân chờ Đoàn Cẩm lạy mình nhận làm thầy xong mới nói :
    - Đồ đệ vô tình giết được con Kim Thiện vương nơi hồ Phỉ Thúy, hút được linh huyết đơn huỳnh nơi cổ quái ngư. Không những tăng tiến thêm mấy ngàn cân thần lực, còn mọc lên một lớp da dày như hình vảy cá, đao thương chẳng phạm được. Đấy là phúc duyên trời ban riêng cho đồ đệ, song le đừng nên vì đó mà tự cao tự mãn, từ nay phải chuyên cần dụng công tập luyện võ nghệ mới đạt đến mức lực địch vạn nhân được !
    Đoàn Cẩm hết sức vui mừng, nhất nhất vâng dạ theo lời chỉ giáo của sư phụ.
    Ngọc Động Chân Nhân đầu tiên dạy chàng công phu bên ngoài, trong hoàng cung sắp năm cái lu lớn, mỗi lu chứa hơn phân nửa nước.
    Loại nước ấy không phải là nước là mà là một thứ nước thuốc sền sệt như chất keo, mỗi ngày bắt Đoàn Cẩm ngâm mình trong lu ấy, mỗi lu ngâm hai tiếng đồng hồ.
    Ròng rã ba tháng trời, Đoàn Cẩm phải ngâm mình trong lu thuốc như vậy.
    Lúc ấy tay chân gân cốt khắp người của Đoàn Cẩm đã trở nên cứng rắn lạ thường, dùng đao thương chém vào người chàng chỉ nghe những tiếng "coong coong" chứ chẳng chút suy suyển da thịt .
    Nhưng Ngọc Động Chân Nhân chưa cho đấy là thành công mà kêu Đoàn Cẩm đến trước mặt và nói :
    - Cẩm nhi, ngoại trạng công phu của con hiện giờ chỉ mới luyện ở bước đầu , thân thể con chỉ có thể chống cự với loại đao thương, côn bổng tầm thường, nhưng không có thể chống lại với sức nhọn bén của đao kiếm đâm phải.
    Ví như kẻ địch dùng bảo kiếm đâm vào ngực của con vẫn có thể đâm thấu qua suốt bên kia, như vậy con cần phải khổ luyện đến giai đoạn thứ hai nữa .
    Chân nhân bèn sai cắt tả hữu trong cung ra sau ngự viện trồng một giàn rào tre, cao độ ba trượng rộng bốn trượng, giữa giàn tre buộc hai sợi giây thành hình như một chiếc đu, bốn phía đu treo bảy tám bao cát lớn.
    Chân Nhân bảo Đoàn Cẩm ngồi trên chiếc đu, lại bắt tám tên cận thần giữ lấy đầu giây mỗi bao cát, hễ Chân Nhân hô một tiếng ra lịnh, là tám tên thị vệ lay động đầu giây, những bao cát ấy sẽ như cuồng phong bảo tố, bốn phương tám hướng tống, đẩy vào chỗ chiếc đu Đoàn Cẩm đang ngồi.
    Chân Nhân bắt buộc Đoàn Cẩm không được ngồi trơ một chỗ trên đu để mặc cho túi cát xông kích, mà phải nhào lên lộn xuống như một con vượn, lợi dụng sức mạnh của tay chân đánh vẹt túi cát từ hướng Đông bay vù đến, Đoàn Cẩm phải bay một chân lên đá túi cát bật trở lại, hay khi túi cát bên hướng Tây tông lại, Đoàn Cẩm phải đánh hất ra, nếu như ba bốn túi cát không cùng phương hướng nhưng đồng thời công ập đến, Đoàn Cẩm cũng phải đồng thời vận dụng sức của tay chân, đầu gối hoặc cánh chỏ đánh bật trở ra tất cả.
    Có lắm lúc tay chân không thể ứng phó kịp phải dùng cả đỉnh đầu để hất bao cát trở ra, lối luyện tập ấy không những huấn luyện cho tay chân và đôi mắt Đoàn Cẩm thêm linh lợi mà còn tăng cường thêm sức mạnh của chân tay chàng.
    Tập luyện như thế độ nửa năm, Ngọc Động Chân Nhân mới triệt bỏ túi cát và thay vào đấy một lối tập luyện khác.
    Lối tập luyện này dùng ba mươi sáu trái dao cầu bảy gai, mỗi trái dao cầu lớn bằng trái dưa hấu, đúc bằng sắt cứng, trên mỗi bề tròn của trái cầu ấy, có tra bảy mũi dao nhọn lểu như chiếc gai, mỗi trái cầu đều dùng sợi xích buộc vào sào tre, cao thấp, xa gần không đồng đều nhau.
    Đoàn Cẩm không ngồi trên đu như lúc trước mà đứng dưới giàn tre, đặc biệt trên người mặc bộ quần áo bằng da dày, tai mắt cũng được che bằng một lớp mặt nạ dày, hiệu lịnh vừa phát ra, tên thị vệ phụ trách lấy sợi dây lay động ba mươi sáu trái dao cầu liền ghì mạnh sợi giây. Tức thì những trái dao cầu như điện giăng sao xẹt bốn phương tám hướng bay ào đến tấn công Đoàn Cẩm.
    Vị Thái tử lúc ấy phải sử dụng tất cả sự khéo léo của võ công thượng thừa, chưởng quét chân đá, chảo hất tay đấm, đánh hất tất cả nhưng trái dao cầu công đến.
    Lúc đầu vì dao cầu quá khít khao, Đoàn Cẩm không sao đương cự kịp bị trái dao cầu đập trúng vào lớp áo da "soạt !" lên một tiếng, tức thì lớp áo da bị lủng một lỗ to, may là trên mình Đoàn Cẩm có một lớp da dày như vảy cá, lại nhờ lớp áo da bên ngoài án bớt sức bén của trái dao cầu, cho nên trên người không bị tổn thương.
    Nhưng dù vậy, sau buổi luyện tập xong, lớp áo da trên người đã rách bương chẳng thành hình.
    Ngày thứ hai cũng y theo cách thức như thế để luyện tập.
    Nói một cách khác là mỗi ngày phải phí một chiếc áo da để luyện công phu.
    Luyện như vậy hơn nửa năm trời , Ngọc Động Chân Nhân mới bảo Đoàn Cẩm bỏ lớp áo da, để mình trần trùn trục, nhãy nhót quay cuồng giữa những quả dao cầu loạn xạ ấy, mặc cho những mũi thương sắc nhọn đập lên người cũng chẳng tổn thương được chàng !
    Ngoại trạng công phu của Đoàn Cẩm nhờ đấy trở nên độc nhất vô nhị trong thiên hạ, lừng danh với ngoại hiệu Nam Đế đứng trong hàng Ngũ Bá Võ Lâm vậy !
    Thời gian thấm thoát, Đoàn Cẩm đã được hai mươi mốt tuổi thành niên rồi. Dưới sự chỉ giáo của Ngọc Động Chân Nhân người chàng không những cứng như sắt đá, sức mạnh vô cùng, mỗi cái nhấc tay nhấc chân của chàng, có thể giết chết một con trâu mộng như chơi, và hơn nữa đao thương đâm chẳng lủng, tên bắn chẳng hề hấn đến thân thể chàng .
    Ngọc Động Chân Nhân thấy công trình dạy dỗ đào luyện của mình đã thành quả được một phần, bèn cáo từ với Đoàn Lão Hoàng Gia để vân du nơi khác .
    Đoàn Lão Hoàng Gia hết lòng cầm cọng, nhưng Ngọc Động Chân Nhân khăng khăng một mực, chẳng thuận lời, chỉ hứa là ba năm sau sẽ trở lại thành Đại Lý, để thăm nom tài nghệ của đồ đệ mình thôi !
    Đoàn Lão Hoàng Gia đành thết tiệc lớn để tiễn biệt.
    Từ khi Ngọc Động Chân Nhân đi rồi, Đoàn Cẩm ở trong hoàng cung cảm thấy vắng vẻ vô cùng, ngày tối ủ rũ nhớ thầy chàng nguôi.
    Đoàn Lão gia thấy thế, nên một hôm hạ chỉ ra ngoài thành Đại Lý để săn bắn cho Đoàn Cầm giải khuây.
    Lão Hoàng Gia cho điều động hơn ba ngàn binh sĩ theo cuộc săn bắn của mình, đoàn người đi ra khỏi thành Đại Lý trực chỉ về khu rừng hướng Nam, một nơi rừng sâu u tịch, nằm bên cạnh một dãy núi trùng điệp xanh lơ, điểu thú ẩn mình nơi đây rất nhiều.
    Đoàn Lão Hoàng Gia hạ lịnh cho binh sĩ bao vây khắp một khoảng rừng núi, giăng lưới giương bẫy, mười bước có một tiểu đội cung thủ hờm sẵn cung tên.
    Mọi việc bố trí xong xuôi, một tiếng hô lớn ra lịnh, thì bốn phương tám hướng, tiếng tù và xen lẫn tiếng còi, cùng tiếng reo hò tở mở của ba ngàn quân sĩ chấn động khắp rừng núi thâm u.
    Những loài điểu thú sơn cầm ẩn mình trong hang sâu bụi rậm nghe tiếng động rền vang như trời long đất lở, ùn ùn rời khỏi ổ hang chạy trốn.
    Nào nai hưu thỏ cáo sói dử heo rừng, từng đàn từng lũ kéo nhau chạy ra ngoài.
    Binh sĩ đã hờm săn cung huyền, mặc sức buông tên giựt lưới.
    Đoàn Cẩm thấy thú rừng chạy nhãy khắp nơi chân tay cảm thấy không chịu được bèn hú lên một tiếng như rồng gầm, ném cả cung tên, tay không nhãy vào vòng vây, vừa lúc từ trên núi có ba con heo rừng dử dằn hộc tốc chạy nhầu xuống.
    Đoàn Cẩm chẳng chút đắn đo, tiến ra trước đón đầu ba con heo rừng ấy lại.
    Đám binh sĩ thấy thế đều cả kinh thét lên, vì theo kinh nghiệm của con nhà săn thì heo rừng còn hung dử hơn cả cọp beo. Không những da heo thật dày, đao thương khó hại được nó mà đáng sợ nhứt là lúc heo rừng đang gặp cơn nguy hiểm, tánh càng trở nên hung hăng hơn bình thường bá bội, lồng lộn như điên, nhe hai chiếc răng nanh chơm chởm trước mỏ ra xông ào tới kẻ địch, bất luận là một tráng đinh sức lực mạnh bạo cỡ nào, chỉ cần bị chiểc răng nanh ấy vít phải, là đổ phèo lòi ruột ra chết trong khoảng khắc.
    Nói tóm tắt, heo rừng là một loại dã thú liều mạng không sợ chết, những kẻ đi săn tay mơ không thể nào đương cự nổi nó.
    Đoàn Cẩm lại một mình tay không chận lại một lượt cả ba con heo rừng, mà con nào cũng to bằng một con trâu nghé, hung hăng hộc lên từng hồi chiếc răng nanh, lêu lểu như hai thanh kiếm sắc, bốn móng cứng như thép nguội bương trên mặt đất, nhãy ào vào người Đoàn Cẩm.
    Quân sĩ tả hữu không khỏi vì chàng mà gạt mồ hôi lạnh.
    Nhưng Đoàn Cẩm cậy mình tài cao gan lớn, chẳng chút bối rối, thấy bầy heo rừng hồng hộc xông đến, chàng soạt chân xuống tấn đứng chờ, con heo thứ nhất như một ngọn núi bay ào đến, chiếc nanh dài hất lên định vít mạnh vào đùi kẻ thù.
    Đoàn Cẩm lanh như cắt giơ tay chộp lấy chiếc nanh nhọn lểu trắng hếu ấy, dùng sức bẻ mạnh một cái "cách !cách !" vang lên hai tiếng thật dòn như bánh tráng gãy, đôi nanh rắn chắc của con heo rừng gảy lìa theo tay chàng một cách dễ dàng, thân hình nặng nề của con heo cũng bị chàng nhấc bổng lên khỏi mặt đất. Con heo rừng thứ hai cũng vừa vặn lao tới như sấm sét đến nơi.
    Đoàn Cẩm gầm lên một tiếng cực lớn, ném mạnh con heo rừng thứ nhất vào con heo thứ hai, "bộp ! bộp !" hai tiếng nặng nề, hai con heo đùn cụt nhau một đống trên mặt đất.
    Con heo rừng mà Đoàn Cẩm vừa quăng ra, bị hai chếc nanh bén của đồng bọn cắm sâu vào da bụng chết chẳng kịp kêu !
    Và con heo rừng thứ hai bị thân hình của đồng bọn đập mạnh lên đầu, cũng chống cẳng quay lơ chết giấc một chỗ.
    Đoàn Hoàng Gia chẳng chút bỏ lỡ cơ hội lướt mình tới trước nhấc chân trái lên đạp mạnh vào xương bụng con heo, sức đạp ấy nặng ước có ngàn cân, khiến nội phủ ruột gan của con thú bị nhừ nát chết chẳng kịp dãy dụa !
    Đoàn Cẩm liên tiếp đánh chết hai con dã trư khổng lồ, chỉ với một cái giơ tay nhấc chân nhẹ nhàng như trò chơi, con heo rừng thứ ba cũng kịp thời vừa lướt đến hả chiếc mỏ tàng hoạt như máu ra táp nhầu vào phía bụng của kẻ địch.
    Khen thay cho sự lanh lẹ biến ứng của Đoàn Cẩm, chàng hơi rùn người xuống, vung tả chưởng nặng như chiếc búa sắt ra, nhắm ngay đầu dã trư đảo mạnh một thoi như trời giáng, ngọn quyền ấy vô cùng lợi hại khiến cho hai chiếc răng nanh bén ngót của mãnh thú, bể thành từng mảnh vụn.
    Dã trư quá đau nổi tánh điên lên, hộc to một tiếng dựng thẳng hai vó trước lên bổ ập tới tấn công đối phương.
    Đoàn Cẩm hai tay quẫy tròn một vòng, tay trái nắm lấy gáy mãnh thú, tay phải đở lấy dưới bụng nó, quát một tiếng cực lớn tung mạnh đôi tay lên.
    Con heo rừng tựa như một viên đạn bật khỏi đường cung, lộn tròn lên cao sáu, bảy thước văng ra xa ba bốn thước "ạch !" một tiếng thật to như bức tường sập xuống, bốn vó sãi lại nằm im trên mặt đất.
    Thì ra con vật lãnh trọn một quyền của Đoàn Cẩm vừa rồi đã bị chấn bể nát hết sườn, nên chết trước khi bị ném xuống đất.
    Tả hữu binh sĩ thấy vị tiểu Hoàng gia của mình thần dũng như thế ấy đều hoan hô reo hò như sấm động.
    Đoàn Cẩm đang lúc dương dương đắc ý, chẳng ngờ nơi một góc vòng vây, có tiếng người hốt hoảng la to :
    - Ôi ! Trời ơi, không xong ! Quái thú Quái thú !
    Đoàn Cẩm nghe tiếng "quái thú", giật nẩy cả người, vội quay đầu lại nhìn, thì thấy một số binh sĩ đang ôm đầu lủi chạy, phía sau lưng đám binh sĩ độ vài mươi trượng có một mãnh thú chạy tuôn như vũ bảo.
    Mãnh thú ấy, trên gáy lông dài sù sụ như bờm sư tử, đầu lại lớn như đầu trâu, cổ dài như cổ ngựa, trên mình rần rặc sắc vàng đen như da cọp, bốn móng cứng rắn như móng hưu dê, thật là một loại thú kỳ dị chưa hề thấy qua bao giờ.
    Con mãnh thú ấy cứ nhắm vào đám binh sĩ mà rượt nà tới, tuy có vô số binh sĩ buông tên rào như mưa vào mình mảnh thú, mà những binh sĩ đi theo cuộc săn này có thể nói là những ấy thiện xạ bách phát bách trúng, những mũi tên bắn ra đều trúng phong phóc lên mình quái thú ấy, nhưng kể cũng lạ, bên ngoài thân hình của quái thú mọc lên những cọng lông vàng li ti thưa thớt ấy, thế mà mỗi khi mủi tên vừa chạm vào những sợi lông vàng kia chưa kịp phạm đến da thịt của thú, liền tự dưng dội ra và rơi xuống đất.
    Con mãnh thú ấy gầm lên những tiếng quái lạ liên hồi, ầm ỉ như tiếng trâu rống, chỉ còn cách cho Đoàn Cẩm đứng không tới hai mươi trượng.
    Bỗng từ bên nên vòng vây "vù" một tiếng ba không, một múi phiêu trượng theo tiếng gió vi vút vào, có lẽ là một cao thủ nào trong đám binh sĩ phóng tới, nên sức đi rất kình mãnh, lao vút vào chiếc miệng rộng đỏ như máu của quái vật.
    Mãnh thú ấy liền hả chiếc mõm rộng ra, táp lấy mũi thương nọ, chiếc lưỡi đỏ loét cuốn một cái, đả cắn gảy cán thương rơi xuống đất rồi nhai lên rào rạo nghe ê cả răng.
    Thì ra quái thú này lại có thể ăn cả vàng sắt như ăn cỏ non.
    Quái thú nuốt xong mũi thương sắt, liền sửng lộng lên "ngoạm !" một tiếng kỳ dị, nửa như tiếng mèo kêu, nửa như trâu rống, bốn móng chụm lại một cái, lao tới chỗ Đoàn Cẩm đứng như một mủi tên xẹt.
    Đoàn Cẩm thấy quái thú bổ nhào đến, chẳng chút đắn đo vung tay một quyền đấm vào óc quái vật "bình ! bình !" hai tiếng, quyền trước quyền sau đều trúng phong phóc, không hề sai lệch, nhưng tựa như đánh lên mặt trống chầu, con quái thú chắng hề hấn gì cả.
    Quái thú thừa cơ le chiếc lưỡi đỏ ra, liếm vào chiếc khóa giây nịch của Đoàn Cẩm, cho đến ngọn dao gâm bên lưng cũng liếm nốt !
    Thì ra quái vật không hề hại người mà chỉ ăn ngũ kim: vàng, đồng, bạc, sắt, kẻm, trên mình người ta thôi.
    Đoàn Cẩm bừng bừng nổi giận, hai chân liên tiếp bay ra hai ngọn liên hoàn cước vào dưới bụng của mãnh thú.
    Sức lực của chân tay Đoàn Cẩm hùng mạnh mười phần. Nặng nề to lớn như con heo rừng mà chỉ một cái đạp nhẹ nhàng của chàng đã nát tan gan ruột mà chết.
    Nhưng con quái thú này trúng luôn hai ngọn cước của chàng chỉ thối lui có hai bước và có lẻ bị đau nên nổi tánh hung lên rống "ngoạp !" một tiếng, hả miệng ra táp đại đối phương.
    Đoàn Cẩm liền vung tít hai đầu quyền như hai trái chùy sắt ra chống cự với quái vật, tả một chưởng, hữu một quyền, hai tay như hai chiếc dùi trống nện liên tiếp vào mình quái vật kêu lên "bình ! bình !" như trống thúc quân, thế mà quái thú chẳng chút nao núng, hả rộng chiếc miệng máu táp liên miên vào người Đoàn cẩm, có lúc lại bay hai vó trước lên đá phịch phịch !" vào người chàng, nhưng Đoàn Cẩm cũng y nhiên chẳng hề hấn gì.
    Nói tóm tắt là cả người lẫn thú đều được trời sanh cho một thể cách kỳ đạc, tuyệt chẳng biết sợ đao thương quyền cước. Hai bên quần nhau ngót cả buổi vẫn cầm cự nhau bất phân thắng bại.
    Đoàn Cẩm hết sức bồn chồn trong lòng, thầm nghĩ :
    - Loại thú gì mà kỳ lạ khó đấu quá thế kìa !
    Lúc nãy ba con heo rừng, hung hăng cỡ nào mà còn bị một quyền một cước của ta chết chẳng kịp ngáp, mà sao con nghiệt súc này trúng liên tiếp mấy mươi ngọn quyền của ta, chỉ như gãi ngứa nó thôi, kỳ thật !
    Đang khi chàng phân vân tính thầm, con quái thú bỗng gầm đầu xuống, cụng mạnh vào người chàng.
    Đoàn Cẩm sực nghĩ được một ý hay, vươn tay ra ôm lấy cần cổ quái vật bẻ mạnh một cái, định bụng vặn gảy cổ quái vật, như cách thức giết con heo rừng thứ nhất lúc nãy.
    Chẳng ngờ, chàng mới ôm được cổ quái thú, liền cảm thấy da lông của quái thú trơn lùi như như mỡ, vòng tay trợt lớt ra phía ngoài, không những chẳng ôm được quái thú, trái lại bị quái thú hất té ngữa dưới đất, lộn mèo luôn hai tuông.
    Đoàn Cẩm nổi giận đùng đùng, chưa kịp phản ứng, thì nghiệt thú thừa khi Đoàn Cẩm lăn tròn dưới đất , liền hung hản cất hai vó trước bổ xuống ngay bụng chàng nguy hiểm vô cùng.
    Thân pháp Đoàn Cẩm không kém lanh lẹ, lăn tròn dưới đất lòn trở lại dưới bụng của quái vật tránh khỏi tiếp theo đấy nhãy phóc người dậy theo thế Lý Ngư phiên Thân (cá chép trở mình) với tay chộp lấy cái đuôi dài của quái vật kéo mạnh trở ra sau rồi nhấc bổng lên cao.
    Đoàn Cẩm trời sanh thần lực, nên nhấc cao quái thú lên khỏi mặt đất một cách nhẹ nhàng, đoạn quăng mạnh trở xuống, quái thú bị ném
    lăn cù dưới đất, binh sĩ bên ngoài không ngớt reo hò hoan hô ầm ĩ.

  7. #67
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 71 Tiếng Tranh trong cốc vắng


    Đoàn Cẩm trong vô tình phát giác được phương pháp ấy để trị quái vật, tinh thần phấn khởi vô cùng, lúc luyện võ cùng sư phụ, Ngọc Động Chân Nhân đã dạy cho chàng một pho quyền pháp gọi là Bát Long Thiên Chưởng.
    Pho chưởng pháp ấy đi theo thức bát môn "bát quái" , bề ngoài nhìn vào, chỉ thấy nhãy cao rùn thấp phiêu phiêu bất định nhưng kỳ thật tấn thối đều y theo bộ pháp bát quái để công kích đối phương tràn qua lộn lại, khiến đối phương rối loạn tâm trí chẳng biết đâu mà đón đở, vừa thấy trước mặt thoắt cái đã biến ra sau lưng, lợi hại phi thường.
    Đoàn Cẩm đem pho Bát Quái Phiên Long Chưởng ra sử dụng, lấy phía dưới của quái vật làm mục phiêu tấn công, thỉnh thoảng thối lui, khi Đông lúc Tây, thoắt tả thoắt hữu, chụp được giây trống trải, là lập tức giơ tay chộp lấy đuôi quái vật, dùng sức vung mạnh, quăng ngay mãnh thú té nhào mèo xuống đất.
    Và quả nhiên có hiệu nghiệm ngay, quái thú tuy da cứng như đá, dao thường chẳng lủng, nhưng vì thân hình lo lớn, mà phàm những thú vật thân to lớn, sự nhậm lẹ tránh né không được linh biến lắm.
    Đoàn Cẩm cứ thỉnh thoảng nhấc nó lên cao và quật mạnh xuống đất.
    Quái thú liên tiếp bị quật lộn mèo năm sáu phen, cảm thấy châu thân rêm nhức khắp cùng thì tánh hung hăng càng bộc phát, hả chiếc họng lớn như máu, gầm lên rùng rợn chụp nhầu đến đối phương bất kể chết sống.
    Đoàn Cẩm mắt lanh tay lẹ, thoăn thoắt theo bộ pháp Bát Quái Liên Phong Chưởng, trước sau chẳng hề cùng quái thú ngay mặt đấu nhau, mà cứ lòn ra phía sau đuôi của nghiệt súc để tấn công.
    Tránh né nhau hơn ba bốn mươi bận, chàng chợt thấy phía bụng dưới của quái vật nơi vị trí "hạ âm" có một khoảng da trắng hếu bằng miệng chén lớn chẳng có lông lá gì cả.
    Chàng là một người tuyệt đỉnh thông minh liền biết ngay nơi khoảng da trắng ấy là một chỗ yếu hại duy nhất trong châu thân của quái vật, trong đầu chàng bỗng loé lên một tia sáng, lập tức thâu nhanh thế quyền nhãy dứ đến trước mặt quái thú, hoa quyền đánh vút vào đầu nó.
    Quái thú liên tiếp xoay vòng bao nhiêu lượt không sao cản được địch thủ, thú tánh đang nổi điên.
    Vừa thấy bóng kẻ thù trước mặt đâu dễ bỏ qua, sừng lông gầm đầu cụng mạnh vào phía đối thủ .
    Đoàn Cẩm lần này chẳng thèm tránh né bị quái thú cụng mình té ngửa trên mặt đất đánh "đụi !" một tiếng, chờ cho quái thú cất cao hai vó trước định bổ xuống người chàng.
    Đoàn Cẩm lẹ làng lăn tròn một vòng dụng ngay thân pháp Diệp Để Tạng Hoa (dưới lá dấu hoa) rụt người lại rồi thoắt cái nhãy chồm dậy, bất thình lình giương hai cánh tay sắt nguội ra, chộp lấy cần cổ của quái thú.
    Quái thú ngỡ Đoàn Cẩm dùng sức mạnh của đôi tay để siết cổ mình, không khỏi sợ hãi, vội bương chân thối lui ra sau, nào ngờ thế vừa rồi chỉ là một thế đánh dứ, hai tay chàng nhanh nhẹn biến chiêu, đập mạnh lên mặt đất, thân hình bay vụt trở lên, song cước đồng tung lên một lượt đá bùng vào khoảng da trắng nơi hạ âm của mãnh thú chẳng chút sai lệch, quái thú liền rống lên một tiếng như xé rách cả rừng cây dãy dụa mấy cái dưới đất bốn vó chỏng ngược lên trời và tắt thở luôn, miếng da bụng cũng bị đá phủng một lỗ lớn máu ri rỉ chảy ra, nhuộm đỏ cả một khoảng cỏ xanh non.
    Bọn binh sĩ Nam Chiến Quốc thấy vị Tiểu vương gia của mình giết chết được quái thú ấy, mừng rỡ nhãy nhót tung hô vạn tuế dậy cả núi rừng.
    Đoàn Lão Hoàng Gia gạt mồ hôi lạnh trên trán, thở phào một hồi dài khoan khoái, vì từ nãy giờ ông lo lắng cho sinh mạng đứa con yêu duy nhất suýt muốn nín thở đứng tim.
    Đoàn Cẩm sau khi giết chết được mảnh thú, mặt chẳng đổi sắc tinh thần vẫn ung dung trở về đoàn người thỉnh an với phụ vương của mình. Đoàn Lão Hoàng Gia lo lắng hỏi thăm.
    Đoàn Cẩm cúi đầu cung kính thưa :
    - Tâu phụ vương, Thần nhi không thấy mệt mà chỉ cảm thấy thống khoái vì được đấu một trận sướng tay thôi !
    Mọi người nghe nói đều chắc lưỡi suýt soa khen lấy thần lực của Thái tử thành Đại Lý.
    Đoàn Lão Hoàng Gia liền bãi cuộc đi săn, truyền lịnh binh sĩ khiêng quái thú trở về thành, bá quan văn võ không một ai biết tên thú ấy gọi là chi.
    Cuối cùng có một vị học giả cao niên biết được tên thú ấy gọi là Mạc, một trong những loại kỳ lân, sức lực không những rất hung mãnh mà còn có thể nhai cả ngũ kim làm vật nuôi thân, bất luận là tay săn nhà nghề thế nào, gặp nó là vong mạng không còn.
    Loại thú ấy ngoài sự nuốt nhai sắt vàng ra còn một đặc điểm lạ kỳ là trời sanh một lớp lông nhung có thể cự đương bất kỳ loài binh khí sắc bén gì, nước lửa không xâm phạm được lớp da ấy là một vật kỳ bửu khó gặp trong thế gian.
    Đoàn Lão Hoàng Gia thầm mừng cho sự may mắn của quốc gia, liền dặn dò thợ khéo cẩn thận lột da thú chế tạo thành vào bộ khôi giáp làm vật báu trấn quốc .
    Đoàn Cẩm liền xin lớp da mềm trên bụng của thú để may chiếc áo lót làm vật kỹ niệm kỳ công đầu tiên của mình.
    Sau lần giết được quái thú ấy, oai danh của Đoàn Cẩm rúng động khắp cõi Nam hoang, biên dân mấy tỉnh Tây Nam mỗi lần đề cập đến Đoàn Cẩm đều sợ hãi kính phục như vị thần linh của mình.
    Nhưng chí hướng của Đoàn Cẩm khác với người thường, cảm thấy tay mình được danh thần dũng khắp miền Tây Nam, chưa ai xứng là địch thủ, nhưng rốt cuộc vẫn chưa thực sự chường mặt giữa giang hồ võ lâm, cũng chưa chính thức giao tay với kẻ địch nào, đâu có xứng danh liệt vào hạng anh hùng nhứt thế .
    Do đấy chàng đã tỏ ý viễn du Trung Thổ một phen làm một vài chuyện oanh liệt kinh thiên động địa để dương danh vạn cổ. Nhưng khổ nỗi thể chế của Nam Chiến rất khác biệt dị đời, phàm là một Thế tử của Quốc vương thật quyết không thể ra khỏi thành Đại Lý ngoài trăm dặm, nếu ai tự ý bỏ đi là kể như bất kính với thần linh trời đất tất bị họa bất trắc lâm thân.
    Cho nên Đoàn Cẩm có hùng khí giao du Trung Nguyên nhưng vì luật quy của hoàng tộc không thể mở miệng ra lời, đành tạm thời chôn chặt vào tim, chỉ mong sao Ngọc Động Chân Nhân, đúng thời gian ba năm trở lại, sẽ cậy nhờ sư phụ đề nghị lời thỉnh nguyện ấy với phụ vương, chuẩn y cho chàng theo sư phụ ngoạn du khắp núi rộng sông dài để lịch lãm thêm phần kiến thức.
    Thấm thoát thời gian, ba năm trôi nhanh như nước chảy qua cầu nhưng vẫn chưa thấy sư phụ Ngọc Động Chân Nhân trở bước vân du về miền Đại Lý.
    Đoàn Cẩm ngày đêm khắc khoải chờ trông.
    Giữa một đêm trăng tròn nọ, Đoàn Cẩm một mình ngồi hóng mát dưới giàn hoa nơi trước điện, nhìn bóng nguyệt lung linh muôn sao vằng vặc lòng buồn mênh mông, đang lúc ngẩn ngơ xuất thần, chợt nghe ngói trên mái điện có tiếng động thật khẽ, rồi một bóng người như oan hồn lăn rơi trở xuống.
    Đoàn Cẩm trong lúc thất thần giật thót mình, đến lúc định thần nhìn kỹ, từ cuống họng bỗng buột miệng kêu lên một tiếng "ối cha !" kinh ngạc !
    Vì người vừa lăn xuống không ai khác là vị ân sư Ngọc Động Chân Nhân đã cách biệt ba năm dài.
    Nhưng vị Ngọc Động Chân Nhân sau ba năm cách này không còn là vị đạo trưởng nghi dung phong tuấn phiêu phưởng như thần tiên giáng phàm, mà là một lão nhân mình mẩy dơ dáy, áo quần rách bươm, tóc tai rối bời, nói hơi nặng lời một chút thì thật chẳng khác một lão ăn mày bao nhiêu.
    Ngoài ra sắc mặt của ông trắng bệch như tờ giấy, hai mắt mất thần, trên tay còn lẩy bẩy một thanh kiếm báu. Ông vừa từ trên mái ngói buông mình xuống đất, thân hình lảo đảo chệnh choạng hai lượt, rồi không gượng được "bộp !" một tiếng té ngồi trên mặt đất, thanh bảo kiếm chỏi mạnh xuống gạch rắn kêu "cong !" một tiếng, sao lửa bắn tung toé bốn phía.
    Đoàn Cẩm cả kinh, vội tung mình nhãy ra trước, một tay đở xốc Ngọc Động Chân Nhân dậy, hỏi dồn dập :
    - Lão sư, làm sao lại đến nỗi này ?
    Ngọc Động Chân Nhân rên lên một tiếng và nói :
    - Đồ nhi, bồng... bồng thầy... đem vào trong !..
    Đoàn Cẩm liền bồng xốc ông lên, định lên tiếng gọi thị vệ.
    Ngọc Động Chân Nhân lắc đầu lia lịa như ra dấu bảo chàng đừng thanh trương cho ai hay.
    Đoàn Cẩm đành vâng theo lời bồng thầy vào biệt điện.
    Ngọc Động Chân Nhân vừa đặt lưng lên giường hai mắt đã nhắm nghiền lại, sắc mặt lộ vẽ đau đớn cực cùng nói lắp bắp chẳng thành lời :
    - Con.. vạch tay áo bên phải thầy lên, dùng dao chích lấy máu độc trên miệng vết thương... máu bầm dùm thầy... khéo coi chừng... đừng đụng... đụng vào chất độc... mau đi...
    Đoàn Cẩm không thể ngờ vị sư phụ ba năm trời không gặp mặt, lại trở về cung điện tiều tụy dở sống dở chết như thế, trong lòng nghi hoặc chẳng cùng nhưng vì cứu mạng người là tối cần nên chẳng thì giờ đâu để hỏi han.
    Trước tiên liền xé rách tay áo bên phải của Chân Nhân, thấy phía sau vai của sư phụ nổi lên một khoảng thịt sưng phù lớn bằng miệng cốc, nơi chính giữa vết thương có hai lỗ thương tích nhỏ như hạt gạo nước vàng không ngớt rịn ra ngoài.
    Đoàn Cẩm ngầm than thở trong lòng , rõ ràng là vết thương do rắn, rết độc cắn phải.
    Ngọc Động Chân Nhân là người tinh thông võ thuật tại sao lại để cho rắn rết cắn phải được ?
    Chàng dùng lưỡi dao găm cắt lấy một mảnh vải trên vạt áo mình, vò lại cho mềm, đè lấy vòng ngoài khoảng sưng sau đấy cẩn thận rạch nhè nhẹ chỗ miệng vết thương, máu đen từ bên trong phún ra đen ngòm như mực tanh hôi nặc nồng.
    Chàng dùng giẻ sạch lau lấy chất máu độc, một miếng giẻ không đủ, chàng lại cắt thêm một chéo áo khác, chậm liên tiếp mấy lần, hai miếng giẻ đều thấm ướt cả máu đen, nơi cứng bầm mới thấy xệp xuống chảy ra chất máu đỏ hồng.
    Trong lúc lau chất máu độc, Đoàn Cẩm hết sức cẩn thận kỹ lưỡng, không cho đầu ngón tay mình dính phải chất máu độc, tuy vậy sau khi quăng xong hai mảnh vải nọ, đầu ngón tay và hổ khẩu của chàng cũng cảm thấy hơi ngứa tê như bị kiến cắn.
    Tinh thần của Ngọc Động Chân Nhân khi ấy mới có phần khôi phục lại nhưng giọng nói vẫn còn mệt nhọc nặng nề, phều phào bảo chàng :
    - Con móc túi áo trắng của thầy lấy chiếc lọ con bằng ngọc ra, một nửa rắc lên vết thương, một nửa hòa với linh dương nhũ giác, chất ấy chỉ ở trong hoàng cung của con mới có thôi, quậy cho đều đem đến cho thầy uống, mới mong giải được tính mạng già này.
    Đoàn Cẩm nhất nhất y theo, thét thị vệ vào Thái y thất đem "linh dương nhũ giác" đến lập tức, đoạn hòa vào chất thuốc trong lọ ngọc, hai tay dâng lên cho Ngọc Động Chân Nhân uống.
    Độ một buổi sau, vẻ đau đớn trên mặt Chân Nhân mới giảm phần nào, ông thở phào một hơi dài và than :
    - Nguy hiểm vô cùng ! Thiếu chút nữa là bỏ mạng trên Mãng Thương Sơn chẳng còn !
    Đoàn Cẩm nghe ba tiếng "Mãng Thương Sơn" , trong đầu lùng bùng như tiếng sấm, ngạc nhiên vô cùng vì Mãng Thương Sơn ở trung bộ tỉnh Vân
    Nam, cách xa thành Đại Lý trên sáu trăm dặm, chẳng lẽ sư phụ chạy một hơi trên sáu trăm dặm từ Mãng Thương Sơn đến đây hay sao ?
    Chẳng dằn không được lòng thắc mắc bèn hỏi :
    - Sư phụ ngộ hiểm trên Mãng Thương Sơn lận ư ? Nhưng sao phải chạy đến đây ?
    Ngọc Động Chân Nhân lại thở phào và đáp :
    - Còn tại sao, nếu chẳng vì nghiệp chướng của ngươi ! Chuyện dài dòng lắm !
    Đoạn bèn đem sự ngộ hiểm của mình, thuật sơ lược cho Đoàn Cẩm hiểu.
    Thì ra Ngọc Động Chân Nhân cùng Đại sư huynh là Ngọc Hư Tử và Nhị sư huynh là Ngọc Tiêu Tiên đều là nhân vật chưởng môn của Nhạn Môn Phái, một số người quen miệng gọi ba vị là Nhạn Môn Tam Ngọc.
    Ngọc Hư Tử luyện trên núi Kê Công sơn, Ngọc Tiêu Tiên thì ngao du khắp sông hồ, tông tích bất định. Chỉ có Ngọc Động Chân Nhân thường qua lại trên miền Tây Nam, thường nhúng tay hành hiệp lấy cứu dân độ thế làm tôn chỉ. Là một vị đạo cao đức dày, đời sống đạm bạc không hề dính dấp đến chuyện oán thù trong võ lâm.
    Lần này thu nhận Đoàn Cẩm làm môn hạ, chẳng qua vì thấy chàng là một bậc kỳ tài, căn cốt thiên phú, nên mới có ý định luyện cho Đoàn Cẩm trở nên một hòn ngọc quí chốn võ lâm.
    Sau bảy năm trời lưu lại truyền thụ ngoại công phu cho Đoàn Cẩm, bèn tự cáo biệt Đoàn Lão Hoàng Gia vân du khắp miền Trung Thổ, định ba năm sau sẽ trở lại thành Đại Lý xem tài nghệ của Đoàn Cẩm thành tựu ra sao, rồi sẽ truyền thụ thêm môn công phu tuyệt kỹ cho chàng.
    Gần đến ngày hạn cũ, Ngọc Động Chân nhân từ Thanh Thành Sơn khởi trình định bụng một tháng sau sẽ đến thành Đại Lý, khi đi ngang qua giữa miền Vân Nam, đến khu vực Mãng Thương Sơn thì trời đã xế bóng về Tây, khói chiều cũng sắp tắt trên mấy nếp nhà tranh ven gành núi vắng.

  8. #68
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 72 Thâm cốc giấu Bửu Kinh


    Ngọc Động Chân Nhân lầm lủi băng qua một đoạn u cốc hoang vu, bỗng nghe từ xa vọng lại trong hơi gió có tiếng nhạc ai tấu "tình tang !".
    Chân Nhân là người sành âm điệu, nghe tiếng nhạc vẳng đưa biết rõ có người đang tấu đàn tranh, mà loại tranh cầm là một trong những nhạc khí thời cổ khó học hơn cả tì bà, nếu chẳng phải là bậc tài hoa khó mà học cho tinh thuần nhạc vận .
    Ngọc Động Chân Nhân thầm nghĩ nơi Mãng Thiên Sơn tuyệt địa này chẳng một kẻ nào dám bén mãng đến , ông đã băng đèo vượt núi hơn hai ngày trời, chẳng gặp một bóng người, cho đến dân Mèo Mán cũng không có nốt, tại sao lại có vị cao nhân nào ở giữa chốn nước độc này gảy đàn tranh một cách ung dung đến thế ?
    Lòng hiếu kỳ thúc giục, muốn xem cho rõ tận tường, ông bèn lắng tai nhận định tiếng đàn, phát giác được giọng tranh xuất phát từ dưới đáy cốc, giữa một khoảng rừng rậm rì kia .
    Ngọc Động Chân Nhân vì muốn tránh khỏi quấy rầy tinh thần của người gẩy đàn, phá mất nhã hứng của đối phương, nên rón rén bước chân xuyên thẳng vào rừng, quanh co theo tàn cây bụi rậm hơn mười trượng xa, chợt cảm thấy phía trước mặt quang đảng, sáng sủa lạ thường.
    Té ra nơi đây là một khoảng đất trống trải độ vài mẫu vuông, chính giữa khoảng đất trống có một tấm bàn thạch, rộng độ mười trượng.
    Có một vị đang ngồi xếp bằng trên tấm bàn thạch ấy, hình dáng kỳ lạ vô cùng, mình mặc một chiếc áo nửa tăng nửa tục, tóc trên đầu quấn tròn thành một cục to xù, xem bộ dáng thì trán vồ mũi quập, hai mắt sâu hóm vào trong, râu rồng tua tủa bõ quanh hàm, da dẻ màu đồng cổ, hai chân để trên ngồi theo lối tĩnh tọa, trong lòng ôm một chiếc đàn tranh bằng sắt, tay hữu uyển chuyển, buông bắt giây tơ, vang lên những tiếng tình tang, dưới tấm bàn thạch lúc nhúc vô số giống vật lẫn lộn nửa xám nửa xanh .
    Ngọc Động Chân Nhân định nhãn nhìn kỷ, không khỏi râu tóc đều dựng đứng lên.
    Té ra dưới phiến đá chỗ quái nhân ngồi kia, lúc nhúc hàng trăm con rắn độc dài ngắn không đều, kỳ hình quái trạng, đủ các màu sắc.
    Đám rắn độc ấy con nào cũng khoanh tròn mình lại đầu ngóc lên cao nghệu, hướng vào chỗ quái nhân ngồi.
    Giọng thanh tưng lên một tiếng, bầy rắn cũng lắc lư một cái, lại có mấy con rắn to đầu bạnh ra, dẹp lép như cái mặt trăng, chiếc bụng dán xuống mặt đất như cọng lát khô, say sưa theo tiếng đàn tranh lắc lư, múa máy vặn vẹo mình mẩy trông rất buồn cười.
    Trừ mấy trăm con rắn to ấy ra, từ trong các bụi rậm bải hoang giữa rừng, bốn hướng tám phương kéo ra không biết cơ man nào là độc xà đủ cả màu sắc, hình trạng ngoằn ngoèo bò đến bên tấm bàn thạch khoanh tròn từng cục, cử chỉ không khác bầy rắn trước .
    Ngọc Động Chân Nhân thấy thế, trong lòng ngầm suýt xoa khen phục, vì theo sự nghe thấy của ông, trên đời không thiếu gì kẻ có tài dậy rắn, bao năm qua lại biên cảnh Tây Nam mấy tỉnh, cũng từng phen du lịch qua bên Miến Điện, thấy những vị tăng nhân khổ hạnh miền Tây Trúc dùng một ống tiêu để lên miệng thổi, khiến cho một con mãng xà và trăn nữa, lắc lư, nhãy múa theo nhịp tiêu, vặn vẹo uốn khúc theo ý sai khiến.
    Song công cụ để huấn luyện của họ, phải là một ống tiêu và hơn nữa chỉ cẩn thận sai khiến được những con rắn đã được dạy dỗ thuần thục mà thôi.
    Còn vị trung niên quái nhân này, phương pháp khiển rắn thật là khác biệt .
    Với một cây đàn tranh bằng sắt đơn giản lại có thể dẫn dụ hàng trăm, hàng ngàn con rắn ở khắp kẹt rừng xó núi, đều kéo ra ngoài, bản lãnh khiển rắn của hắn thật là thế gian hãn hữu.
    Vị quái khách trung niên ấy tấu một hơi mấy khúc nhạc tranh, bao nhiêu rắn lớn nhỏ trong rừng đều lủ lượt kéo ra theo hướng tiếng đàn.
    Trong khoảnh khắc nơi chỗ phiến đá hắn ngồi, trước sau phải trái, bốn bên tám phía, sau chỗ ngồi lấy ra hai chiếc giỏ tre để trên phiến đá, rồi thình lình năm ngón tay thoăn thoắt búng lên cung đàn, tiếng tranh lại tính tình tang tang vang lên gấp rút như thác đổ mưa dồn, mười phần khích động, mường tượng như tiếng sát phạt ngựa hí người reo rập rờn chết chóc.
    Bầy rắn đang uốn éo múa may bỗng ùn ùn bò lên, ngẫng đầu cụp đuôi bò gần đến nơi giỏ tre của quái nhân.
    Ngọc Động Chân nhân lúc ấy mới để mắt nhìn kỷ, thấy rõ đám độc xà ấy, con nào hai miệng cũng phùng lên, mường tượng như trong miệng có ngậm vật gì vậy.
    Bọn chúng bò đến nơi chiếc giỏ tre liền há miệng nhả ra từng vật tròn tròn vào giỏ.
    Ngọc Động Chân Nhân khi ấy mới vỡ lẽ, vật tròn mà bầy rắn phun trong miệng ra chính là những trứng của chúng.
    Gã trung niên quái khách này dùng tiếng tranh để dụ bầy rắn với dụng ý thu gom trứng rắn đem về ?
    Vốn trứng rắn không phải là vật hiếm có, mỗi năm giữa mùa xuân hạ, nơi rừng sâu, núi hiểm hay trong đám cỏ hang đất đều vẫn thường gặp cả ổ lớn hàng chục trứng trở lên .
    Nhưng vị trung niên quái khách này không nệ công khó dùng tiếng đàn để mê hoặc bầy rắn hàng ngàn con, bắt chúng tự động nhả trứng ra thật là chuyện lạ trong đời, nếu không thấy tận mắt khó mà tin được, chẳng hiểu hắn làm thế với dụng ý gì ?
    Hắn ta tuy mặt mày có vẽ nho nhã, nhưng trên người phảng phất một khí phái tà đạo bàng môn, với kiến thức quảng bác của ông chưa hề nghe ai nhắc nhở đến nhân vật hành động kỳ quặc đến thế.
    Trong khi Ngọc Động Chân Nhân miệt mài trong sự trầm tư, thì bên kia động tác nhả trứng của bầy rắn cũng cực kỳ nhanh chóng.
    Một con vừa nhả xong được trứng rắn của mình, dường như trút đi một trọng trách, luồn qua bên người quái khách quăng mình bỏ đi như bay vào rừng, con này vừa xong, con kia liền nối tiếp theo đuôi, chờ đến phiên mình cũng như đồng loại đi trước.
    Không đầy một giờ đồng hồ, trong giỏ tre đã đầy ăm ắp đủ loại trứng rắn, hàng ngàn con rắn lúc nãy cũng bò đi sạch bách chẳng còn.
    Quái khách nhìn thấy chiếc giỏ tre của mình đã vun đầy trứng rắn, mới ngừng ngay tiếng đàn, ngẫng đầu lên trời cười ha hả đắc ý.
    Ngọc Động Chân Nhân không dằn được, bèn từ sau bụi cây hiện ra.
    Gã trung niên quái khách thấy có người lạ, ban đầu thần sắc hơi ngạc
    nhiên, khoảnh khắc đổi sang vẻ nham hiểm, cất giọng nói chát chúa khó nghe như tiếng cú kêu, hỏi lớn :
    - Đạo hữu phương nào, quá bước ngang nơi đây, bèo mây gặp gỡ, sao
    chẳng bước đến đàm đạo đôi câu cho phỉ dạ kẻ hào khách vậy.
    Lời nói nghe qua hòa ái đơn giản, kỳ thật nội ý thâm hiểm cơ mưu.
    Quái khách nọ đã dùng phương pháp nội gia trường âm công phu, do từ dưới đan điền phát ra ngoài, hai câu đầu tiếng nhỏ và trong, uyển chuyển như tơ trời lất phất khoảng không, khi rõ khi không, hai câu nói giữa cao dần và xa dần tựa như người từ trên mây nói vọng xuống, câu nói sau cùng, âm ba sang sảng như tiếng chuông, lại mường tượng như sấm trời bạo phát, làm cho màng nhĩ của Ngọc Động Chân Nhân bị chấn động suýt lủng đi vậy.
    Ngọc Động Chân Nhân biết rõ quái khách định thị oai với mình. Nhưng
    Chân Nhân là một vị đạo gia đức độ, tu hạnh cao thâm, nên không chấp nhất đến thái độ xấc xược của đối phương vừa rồi, lại còn chắp tay thi lễ và nói :
    - Vô Lượng Thọ Phật, đạo danh của bần đạo là Ngọc Động, vì có chuyện đến phương Nam, qua ngang chốn này, ngẫu nhiên nghe được nhạc khúc thanh trong, ngờ là có cao nhân qui ẩn sơn lâm, nào ngờ tình cờ gặp được các hạ trổ tuyệt kỹ khiển dụ bầy độc xà, để thu nhặt trứng rắn trong vô ý kinh động đến các hạ mong các hạ bỏ qua cho.
    Lời của Ngọc Động Chân Nhân mười phần hòa hạ, có thể nói là không
    khêu không chọc, cũng chẳng hài tội người ta.
    Nào ngờ quái khách không ai khác lạ, mà chính là một ma đầu danh lừng Tây Vực, không những tánh tình quái dị mà độ lượng rất hẹp hòi, nghe hai câu sau cùng của Ngọc Động Chân Nhân liền khẽ biến sắc mặt .
    Vì rằng ban đầu Ngọc Động Chân Nhân bảo là nghe tiếng đàn tranh
    tưởng là nơi đây có ẩn cao nhân đạo hạnh nên có ý đến bái kiến, chẳng ngờ sau lúc thấy mặt hoàn toàn chẳng phải và theo lời nói ấy chẳng lẽ mình chẳng là cao nhân sao ? Gã quái khách này từ miền Tây Vực đến đây, lòng đầy cao ngạo, danh tiếng Nhạn Môn Tam Ngọc vang lừng miền Trung Thổ, gã không những chẳng biết đến bao giờ mà trái lại còn lầm tưởng đối phương chẳng coi mình vào đâu, khóe miệng khẽ nhếch nụ cười ngạo mạn và nói :
    - Đạo trưởng rất tán thưởng diệu kỹ khiển rắn của tôi chăng ? Cam thất lễ đấy chẳng qua là thuật mọn tổ truyền để dạy trùng mối của Bạch Đà Sơn chúng tôi.
    Ngọc Động Chân Nhân nghe ba tiếng Bạch Đà Sơn không khỏi giật thót mình. Ông chợt nhớ lại mấy năm về trước, Ngọc Hư sư huynh của mình có nhắc nhở là nơi Bạch Đà Sơn ở miền Tây Vực, biên giới Tân Cương, từ bao năm nay, ẩn cư một ma đầu lợi hại họ Âu Dương tánh tình cổ quái võ công tự lập thành một phái, trong núi sâu xây cất cung thất tráng lệ huy hoàng, thâu nạp vô số nam nữ tì nô, tích tụ không thiếu ngọc ngà vàng bạc nơi hoang cốc hưởng đủ mọi khoái lạc của thế nhân vua chúa.
    Gã ma đầu họ Âu Dương này rất thiện nghề nuôi dạy độc xà ác mãng, từ trên thân thể của độc xà, lãnh ngộ không ít võ công kỳ độc, chế luyện nọc độc của bách xà, chế tạo vô số ám khí tuyệt độc.
    Chẳng ngờ y lại có thể đến Vân Nam, thật là một chuyện lạ lùng !
    Ngọc Động Chân Nhân liền chắp tay ôn tồn nói :
    - Té ra các hạ là Bạch Đà Sơn Chủ Âu Dương Liệt ở Tây Vực, cam thất kính !
    Quái khách cười nhạt đáp :
    - Nói quá lời, Âu Dương Liệt là gia huynh, còn tại hạ Âu Dương Phong. Gia huynh tạ thế đã hai năm nay chức Sơn Chủ truyền lại cho tại hạ chưởng quản.
    Nguyên lai, cha của anh em Âu Dương Liệt là một tội phạm của Tống
    triều, bị đày đến Tân Cương sung quân, lấy vợ người Hồi sanh ra hai anh em Âu Dương Phong, nên tuy hai người thuộc về giòng Hán nhưng phân nửa có máu huyết của người Hồi.
    Anh em Âu Dương Phong lớn lên vì tánh tình quen thói cường hung,
    không chịu nổi nếp sống thanh khổ mới gia nhập vào giới hướng mạ
    thảo khấu, chuyên việc cướp của đốt nhà.
    Trong một lần đi ăn hàng, anh em Âu Dương Liệt vô tình cướp đoạt nhầm một số lễ vật gả công chúa của vua Hồi. Hồi Vương cả giận liền phái đại đội binh mã đến tiểu trừ.
    Anh em Âu Dương Liệt phải dắt nhau vào núi sâu để trốn tránh sự truy tầm của quan quân.
    Chẳng ngờ qua cơn biến thì lạc cả lối về.
    Hai anh em cố sức tìm kiếm phương hướng nhưng ròng rả bảy tám ngày trời, lương thực bên mình đã cạn mà vẫn chưa tìm thấy lối cũ.
    Hai anh em phải ăn cây, củ cỏ, cùng săn bắn chim muông để đở dạ.
    Nhưng khổ nỗi lúc ấy vào tiết cuối thu mà Thiên Sơn là một dãy núi
    trùng điệp, ngoằn ngoèo trên ba ngàn dặm, mõm núi lúp xúp, mút tầm như biển cả, quanh năm tuyết phủ trắng xóa, huống hồ cuối thu tiết trời trở lạnh, tuyết rơi lác đác, khí lạnh thấu xương, cỏ cây bị che lấp dưới sâu, cho đến điểu thú cũng vào hang ẩn tích, chẳng thấy tăm hơi.
    Hai anh em Âu Dương Liệt chẳng còn gì để mong đở lòng, thật chẳng khác nào hảm vào nơi tuyệt địa, hai người núp trong một động đá hoang tịch vừa đói, trơ mắt mà nhìn cái chết từ từ kéo đến.
    Âu Dương Liệt là người có huyết tính can đảm, bèn bảo em :
    - Này Phong đệ, tuổi anh lớn hơn em mười tuổi, sống hơn em trên thế gian đã nhiều, chết không còn ức hiếp gì nữa. Em còn trẻ sức mạnh, hà cớ phải chết một lượt với anh quá vô lối như thế.
    Hay là em cởi áo da trên người anh mặc thêm vào người, lấy tất cả lương thực còn lại của phần anh, bò ra khỏi sơn động tìm đường đào sanh vậy !
    Âu Dương Phong chưa kịp đáp lời thì từ cửa động có tiếng xào xạc liên tiếp, rồi từ bên ngoài bò vào một vật dài trắng long lanh như tuyết.
    Âu Dương Phong vội quay lại nhìn, mừng rỡ buột miệng kêu lên :
    - Đại ca, bạch xà, bạch xà kìa ! Chúng ta có vật đở lòng rồi.
    Vật vừa bò vào quả đúng là một con rắn trắng như bạc dài độ tám tấc, lớn cỡ ngón tay.
    Vốn ra trong động giá tuyết, trong núi bao nhiêu rắn rết, côn trùng đều tìm chỗ ẩn mình để đánh một giấc đông miên. Con rắn trắng này lại có thể hoạt động trong giữa tiết đông. Kể ra cũng là một chuyện lạ kỳ.
    Âu Dương Liệt liền bảo :
    - Phong đệ, mặc là rắn trắng hay rắn đen, tóm cho được nó để ăn, cố kéo dài sinh mạng.
    Âu Dương Phong gật đầu tán đồng, rút ngọn dao bén nơi lưng ra, đập
    mạnh sống dao vào mình quái vật. Đấy là một sự khôn ngoan của gã, vì gã biết rõ loài rắn chịu đựng rất bền, nếu dùng lưỡi dao chặt ra làm đôi, nó có thể với hai khúc mình bị chặt đứt bõ trốn đi hai nơi, một chút chẳng khéo còn có thể bị nó cắn phản trở lại chết mà không kịp trối.
    Nên Âu Dương Phong cố tình dùng sống dao đập lên mình rắn. Nó sẽ nổi điên mà phải mình cất cổ lên để mổ, Âu Dương Phong chỉ đợi có thế, lẹ làng buông rơi thanh đao, tay trái lẹ như chớp quảy tròn một cái phía dưới mang con rắn. Đồng thời gót chân cũng lẹ làng đạp lấy phía dưới đuôi rắn, và như vậy con bạch xà đành trơ mình vận cứng xương sống mà chịu, không sao vùng vẫy hay cắn mổ gì được nữa, chỉ kêu khè khè lè chiếc lưỡi nhọn đỏ như máu trông rất dễ sợ.
    Anh em Âu Dương Phong thấy con bạch xà ấy, mình trắng như tuyết, chỉ nơi phía dưới bụng từ đầu chí đuôi có năm lằn sọc đỏ như sợi tơ máu .
    Âu Dương Liệt thất thanh kêu lên :
    - Úy chao ! Quả là con Thiên Sơn Bạch Long đấy.
    Thì ra loài rắn Bạch Long là danh sản quý giá của núi Thiên Sơn, kỳ thật chỉ là một loài rắn có màu trắng khác thường hơn đồng loại, mật của nó gọi là Bạch Long Đảm quý giá vô ngần, dùng vào y dược có thể cải tử hồi sinh, các vua chúa cõi Trung Nguyên trước nay thường bắt buộc chư hầu miền Tây Vực hằng năm cung hiến Bạch Long Đảm, đủ thấy nó là một vật quí báu hiếm hoi vô cùng !
    Song vì Bạch Long không phải dễ tìm như loại rắn tầm thường. Sự hoạt động của nó cũng khác hẳn đồng loại, vì những giống rắn thông thường đến mùa đông đều chui rúc trong các hang hốc kín đáo để ngủ giấc đông miên, còn Bạch Long ở Thiên Sơn thì trái lại tới mùa đông tuyết giá mới ra khỏi ổ tìm thực vật. Thử nghĩ trừ những kẽ tham lợi liều mạng ra còn ai chịu mạo hiểm tính mạng, lặn lội trong mưa tuyết cắt da để vào tuyệt địa Thiên Sơn tìm Bạch Long bao giờ ?
    Hai anh em họ Âu trong lúc thúc thủ chờ chết chẳng ngờ vô tình bắt được một con Bạch Long xà, kể ra phúc quả còn dài.
    Âu Dương Liệt liền bảo Âu Dương Phong :
    - Phong đệ, anh em ta số mạng còn dài nên gặp con Bạch Long xà này, chúng ta mau mổ mật của nó ra, có thể đở đói trừ lạnh, sau đấy ta ăn thịt và huyết nó thì không còn sợ khí trời lạnh lẻo nữa, đấy là trời thương tình ban cho anh em ta đó, em mau ra tay đi.
    Âu Dương Phong nhờ lời nói của anh thức tỉnh ngay, lập tức một tay nắm chặt lấy cổ rắn, tay kia móc thanh dao găm sắc bén bên người ra nhắm ngay bụng rắn vạch một đường dài, nơi chỗ da rách liền lòi quả mật rắn ra, mỗi người nuốt một nửa.
    Sau đấy cắt đôi thân rắn ra, mỗi người chia nhau nửa phần vừa mút lấy máu, vừa nhai ngấu nghiến thịt sống của rắn rất ngon lành.
    Hai anh em họ Âu ăn xong con Bạch Long Xà, độ một thời gian sau bữa cơm cảm thấy từ đan điền xông lên một luồng khí nóng, chạy luồn khắp châu thân, tinh thần bỗng chốc phát triển lạ thường, chân tay ấm áp trở lại , bên ngoài động gió tuyết ngất trời cũng chẳng biết lạnh là gì.
    Âu Dương Phong cả mừng nói :
    - Đại ca, chúng ta có cơ hội sống sót rồi, mau ra khỏi động tìm đường trở về.
    Hai người đội tuyết băng ra khỏi sơn động, thẳng về phía trước , lúc ấy bọn họ không còn cảm thấy lạnh bao nhiêu, mặc cho gió tuyết quật vào da mặt, trong cơ thể vẫn ấm áp như đang ở bên cạnh lò sưởi đỏ, đi suốt một ngày một đêm vẫn không thấy đói.
    Trong mưa tuyết lờ mờ, Âu Dương Phong phát giác phía trước mặt có một cốc núi thâm u.
    Phàm những thâm cốc trong núi đều là nơi tránh gió rét mưa tuyết rất tốt.
    Hai anh em bèn rảo chân về phía thâm cốc, quả nhiên không ngoài ý
    liệu hai người vừa vào được thâm cốc, cảm thấy khí lạnh, gió tuyết đã giảm đi phần nào.
    Dưới gốc cây, cỏ vẫn còn rậm rì xanh um khác hẳn với bên ngoài cốc.
    Âu Dương Phong mừng rỡ nói :
    - Đại ca, chúng ta sắp đến chỗ có người ở rồi !
    Âu Dương Liệt liền đảo mắt nhìn khắp đáy cốc, thấy nơi phía dưới đèo núi xa xa, hiện ra hai mái nhà tranh, hai anh em đều mừng rỡ, hướng về phía có nhà ở lầm lủi đi tới.
    Tới nơi thấy nhà không đèn đóm gì cả, tối mù mù như căn nhà hoang, hai cánh cửa tre khép hờ chứ không đóng chặt.
    Âu Dương Liệt tánh khí hung bạo, chẳng chút nể nang, lấy tay đẩy mạnh cửa phên tre, "bùng !" một tiếng, từ bên trong phên cửa ào ra một luồng âm phong, chạm với khí trời bên ngoài, nhẹ lên một tiếng, khí
    lạnh xói buốt vào da thịt, khiến hai người đều nổi da gà lên cùng mình.
    Hai anh em họ Âu Dương giật mình kinh hãi vội nhãy tót sang hai phía, rút đao cầm tay để phòng có vật gì quái dị từ trong nhà ra chăng ?
    Nhưng qua một hồi, bên trong nhà vẫn tối mù vắng hoe, chẳng nghe động tĩnh gì khác.
    Âu Dương Phong bạo gan, lấy đá lửa bùi nhùi ra, bật lửa đốt lên soi rõ mọi vật trong nhà, hai anh em Âu Dương Phong mặc dù gan dạ bằng trời, cũng không khỏi kinh sợ đến tóc râu dựng ngược lên.
    Bên trong gian lều tranh ấy có để một chiếc bàn vuông vức, trên bàn
    chất đầy từng đống sách da dê, bụi bậm bám đầy, phía sau chiếc bàn là một chiếc giường củ, trên giường có một đạo nhân ốm khổ khắc đang ngồi xếp bằng tĩnh tọa, tựa như một tượng người phơi khô, chẳng phải là người, mắt thụt vào bên trong, dường như bị móc đi cặp mắt nhãn, giống như cái sọ người bọc da bên ngoài, nửa người nửa quỷ.
    Âu Dương Liệt cố lấy hết can đảm hỏi :
    - Tên đạo nhân rừng rú kia ở đâu thế ! Làm gì ẩn núp trong lều tranh
    này, ngươi đi ra đây ngay hoặc may đại gia còn châm chế cho phần nào, bằng không thì máu ông sẽ chảy lập tức .
    Réo gọi luôn hai ba hiệp, đạo nhân kia vẫn ngồi yên bất động.
    Âu Dương Phong liền lượm một viên đá, nhắm ngay giường cỏ chọi liền,
    "bộp !" một tiếng khô khan, viên đá trúng phóc ngay giường, thế mà gã đạo sĩ vẫn trơ trơ không chút phản ứng.
    Khi ấy Âu Dương Phong la lên :
    - Đại ca gã đạo nhân ấy chết cứng rồi mà !
    Âu Dương Liệt nhãy tuốt vào trong, thấy đạo nhân ấy quả đã chết từ lâu
    rồi, mình mẩy khô rắn lại như đá, mọi đồ vật trong nhà đều hư mục cả.
    Theo đó mà đoán thì đạo nhân ấy chết chẳng biết là bao lâu rồi nhưng không hiểu vì sao, thi hài không thúi rửa lại khô rắn như một tượng đá ?
    Lương khô bên giường đã ẩm ướt mục hư vừa đụng tay vào đã nát lên thành bụi vụn, đồ đạc dụng cụ cũng mục rệu, trừ đống giấy da trên là còn khá một chút.
    Âu Dương Liệt thuận tay cầm lấy một tấm sách da dê lên xem, thấy trên da dê viết đầy chữ Hán, bèn kêu em :
    - Phong đệ, em xem coi là sách gì đây đọc cho ngu huynh nghe thử !
    Âu Dương Phong bẻ vài thanh tre trên vách, làm thành một cây đuốc, cầm tấm da dê đến bên ngọn lửa, xem thấy thanh thứ nhất đề bốn chữ khái tự : "Ngũ Độc Kỳ Kinh".
    Bên trong cuốn sách toàn là phương pháp và khẩu quyết luyện công, lít nhít dày đặc có chữ, có cả đồ hình lăng nhăng rối mắt, sau cùng có một trang riêng biệt kẹp vào qua quyển vở nội dung như sau :
    - Bần đạo là Ngũ Độc Chân Nhân Khương Thái Hư sanh tại phía hữu sông Triết, bình sanh ngưỡng mộ học thuyết của Huỳnh Thạch Công, Lão Tử, nghe đồn Bạch Đà Sơn miền Tây Vực có chân tiên nên không ngại vạn dậm lộ trình đến đây, nào ngờ tới nơi chẳng thấy một người , ban sơ ngở là tiên nhân lánh mặt chẳng chịu gặp nên cố lưu lại nơi cùng cốc này lấy lương khô nước suối qua ngày, tình cờ trong thạch huyệt khám phá được Ngũ Độc Kỳ Kinh này, mở ra đọc thử, mừng rỡ như điên, quên ăn mất ngủ, dốc sức nghiên cứu hơn ba năm trời mới nghiền ngẫm thông suốt, hạ sơn nhiễu thế, giết người vô số , đến tuổi về gìa, mấy năm gần đây, trong mộng thường thấy năm quỉ vô thường tóc xõa máu me đầy người khóc than đòi mạng.
    Ô hô ! Một chút nghĩ lầm, gây thành sai lớn , muốn vứt bõ Ngũ Độc Kỳ Kinh nhưng chưa được, muốn hủy bõ độc kinh dạ lại chẳng đành, nên uống mật công rừng tự tận, hậu thế ngẫu gặp thi hài kẻ bạc số, xin hỏa táng tấm xác tan lẫn kinh độc, đừng để lại di hại thế nhân, công đức thật là vô lượng !
    Thái Hư tuyệt bút !
    Âu Dương Liệt rị mọ từng chữ đọc hết tấm huyết thư, mới rõ được đôi chút.
    Vị đạo trưởng chết trên giường kia là Khuơng Thái Hư, uống mật công hủy mình, căn lều tranh này dựng lên giữa nơi cùng âm khí bế, do đấy mà thi hài qua mấy mươi năm vẫn không rữa nát.
    Âu Dương Phong cầm lấy quyển Ngũ Độc Kỳ Kinh lật qua mấy trang, bất thần vỗ bàn la lên :
    - Này đại ca ! Bổn chân kinh này có chỗ dụng lớn lắm đấy, nói không chừng...
    Câu sau cùng chưa nói hết, bỗng "rắc rắc !" mấy tiếng vang lên, chiếc bàn rệu mục kia bị sức cái đập tay của Âu Dương Phong liền sập ngay xuống đất, gảy ba gảy năm từng miếng, những tấm sách da dê rơi đầy trên mặt đất, vừa vặn từ bên ngoài phên cửa một cơn gió trốt thổi lên, hốt hơn mấy mươi trang da dê bay ra khỏi cửa.
    Âu Dương Liệt tru tréo lên to :
    - Không xong gió trốt kỳ kinh bay đi rồi chạy theo lượm lại mau.
    Hai anh em tuôn ra khỏi cửa vừa chạy vừa bò bốn chân tám tay quýnh
    thu nhặt những tấm da dê rơi vãi trên mặt tuyết trắng, nhưng vì gió núi quá mạnh, hai anh em đã nhặt được bảy trang trở về còn năm trang nữa bị gió cuốn bay mất tung luôn.
    Anh em Âu Dương Liệt dậm chân tiếc rẻ chắc lưỡi liên hồi, chính vì thế mà Tây Độc Âu Dương Phong tuy liệt danh trong hàng Ngũ Bá, nhưng là kẻ yếu nhất trong năm người, chỉ cậy vào những xà độc xà trùng, bàng môn ngoại thuật để chống đở với tài nghệ chân chính của Tứ bá thôi. Trận gió thổi năm tấm da dê ấy rất có quan hệ cho nhân vật trong Ngũ Bá sau này.
    Hai anh em họ Âu sau khi nhặt nhanh xong các tấm da dê còn sót lại bèn đóng kín cửa phên, sau đó đem từng trang da dê kia lại thành một quyển, trừ năm tấm bị gió cuốn thiếu đi, bảy trang còn lại cũng tạm gọi là đầy đủ một bộ Ngũ Độc Kỳ Kinh.
    Hai người thay phiên nhau đọc suốt từ đầu đến cuối quyển Kỳ Kinh một lượt, cảm thấy khá nhiều hứng thú, vì nội dung quyển kinh bao la vạn thuật công phu, từ luyện công đến luyện quyết, đủ cả nội gia ngoại trạng, phương thức tập luyện chỉ dẫn rất rành rẽ từng chi tiết, lại còn có cả cách thức nuôi rắn độc, huấn luyện mãng xà, cùng những pháp chế luyện độc dược, thậm chí những mật phương lạc thú giữa nam nữ nơi phòng the tẩm bổ hút tinh v.v. cũng đều ghi chú hết sức tận tường.
    Hai anh em họ Âu như gặp được kỳ dị bảo trân, bắt đầu từ hôm đó, lưu lại luôn ở Bạch Đà sơn cốc để luyện môn độc công.
    Đầu tiên hai người đem thi hài Ngũ Độc chân nhân hỏa táng sau núi, sau đấy rảo quanh khắp sơn cốc một lượt thấy nơi đây đất đai phì nhiêu, hoa trái thạch mậu, thú rừng dẫy đầy khả thể nuôi sống được hai người.
    Âu Dương Liệt và Âu Dương Phong an lòng tạm trú trong lều tranh một mặt săn bắn trồng tỉa qua ngày, một mặt chuyên cần, nghiên cứu độc kinh, hai anh em vốn có căn bản võ thuật, thiên tánh sẵn độc như sài lang, luyện môn công phu bàng môn tả đạo ấy rất hợp với cơ bản, nên tấn bộ nhanh hơn người thường thập phần, trong vòng mười năm đã trở nên hai tay tuyệt kỹ kinh người.
    Cách đấy vài năm sau, một vùng Tây Bắc bỗng xuất hiện hai tên đại đạo vô hình, lúc ẩn lúc hiện giữa vùng sa mạc Oa Bích giết người đoạt vật , còn hung tàn hơn cả bọn sơn lâm hướng mã, lúc đến như khi đi, hành tung bí mật khó lường, những lương dân bị giết hại cho đến thi hài cũng biệt tích luôn.
    Đồng thời nơi Bạch Đà sơn cốc hoang liêu bỗng xuất hiện mấy tòa cung điện nguy nga như hoàng cung vua chúa, trong cung điện vô số nam nữ tì từ các nơi mua về cho đến những cô tóc vàng mắt xanh da trắng như ngọc từ xứ Âu Châu đem về bán cũng có, các sắc các giống mỹ nữ khắp xứ
    gần như đủ cả trong tòa cung điện ấy.
    Theo lời thương khách buôn bán trong Bạch Đà Sơn về thuật lại thì
    chủ nhân của cung điện ấy xa hoa sung sướng còn hơn các bậc vương hầu, trân châu bảo thạch còn nhiều hơn cả sao trên trời, vàng bạc đầy dẫy kho phòng như núi, dường như không phải là cảnh giới của nhân gian mà đó là động đào thiên giới, còn Âu Dương Liệt vì sao mà chết và do đâu mà Âu Dương Phong lại lên kế vị chức Bạch Đà Sơn Chủ thì Ngọc Động Chân Nhân không sao hiểu nổi.
    Ngọc Động Chân Nhân sau khi nghe Âu Dương Phong thổ lộ tên tuổi ra, biết hắn là một ma đầu trứ danh ở Tây Vực . Chân Nhân vốn chẳng muốn giao du với tà đạo nhưng lỡ cùng y gặp mặt chuyện trò khó thối thoát được, đành phải ngồi xuống cùng y qua loa vài lời cho khỏi mích lòng.
    Hai người cùng ngồi đối diện nhau trên phiến đá cách xa nhau một
    trượng.
    Âu Dương Phong bèn lên tiếng :
    - Ngu hạ lần này không ngại ngàn dặm xa xôi đến đất Miêu Cương, trừ sự thu nhặt trứng rắn đem về Bạch Đà Sơn ấp dưỡng ra còn muốn kết giao một số dị nhân ẩn tích mai danh nơi thâm sơn tuyệt lãnh, đạo trưởng xả thân đạo sĩ, đối với công phu thổ nạp hẳn là tinh thông lắm vậy.
    Ngọc Động Chân Nhân rúng động trong lòng, cúi đầu chắp tay chậm
    rãi đáp :
    - Nào có như thế, bần đạo cũng chẳng qua được biết một vài phép thô thiển vỡ lòng thôi !
    Âu Dương Phong bèn nói tiếp :
    - Đạo trưởng không nên khiêm tốn, tại hạ đối với thuật nội công có ít nhiều nghiên cứu, chỉ hiềm thiếu cao nhân chỉ điểm, Hội Đốc hai mạch làm thế nào mới có thể tương thông với Khí Hải nơi đan điền, mong đạo trưởng ban lời chỉ giáo.
    Hai câu nói bình thường thuận miệng thốt lời y, khiến Ngọc Động Chân Nhân không khỏi giật mình đánh thót, vì phàm luyện võ công phải biết luật nội ngoại ngũ hành.
    Nội ngũ hành: tâm, can, tì, phế, thận .
    Ngoại ngũ hành là : thân, tay, đầu, mắt, chân.
    Nếu một người luyện tới mức nội, ngoại hành câu thông nhau thì bản lãnh có thể đổ ngã núi non, mỗi cái nhấc tay đở chân, hoặc cái chỉ cái xỉa của ngón tay cũng có thể giết người trong khoảnh khắc.
    Âu Dương Phong lại hỏi cách câu thông hai mạch Hội Đốc với Khí Hải
    ở Đan Điền, chính là câu thông với thận và bao tử hai tạng. Mà trong ngũ tạng thì Tì tạng thuộc Kim, Thận thuộc Thủy.
    Trong hai hành Kim và Thủy có một lối câu vô hình của trời đất, là một chướng ngại khó câu thông nhất của các nội gia vận khí nội công.
    Nếu như thông được cây cầu trời đất ấy, bản lãnh kể như đã tuyệt đỉnh cao thâm.
    Hội chính là Hội Âm, Đốc là Đốc mạch, hai nơi huyệt đạo đó, đều ở thân người nơi cuối đường xương sống dưới mông. Hai huyệt đạo ấy nếu có thể câu thông với Khí Hải nơi phần bụng, bằng như là đem được chân khí chân kình nửa phần phía dưới thân thể vận tất cả vào hai cánh tay, chuyền ra bàn tay và mấy ngón thì những công phu nội gia như Mãng Ngưu Khí, Hỗn Nguyên Công cùng Kim Cang Chỉ hay Nhất Thiền Chỉ rất dễ luyện thành.
    Ngọc Động Chân Nhân thành quả của nội công đã đạt được đến mức Lư Hỏa Thuần Thanh, đối với điểm võ học trọng yếu ấy làm gì chẳng thông suốt, nhưng vì thấy Âu Dương Phong cử chỉ lạ thường, lời ăn tiếng nói xấc xược, ngạo mạn không phải là người trong chính phái võ lâm.
    Hơn nữa hai người bất quá chỉ mới gặp mặt lần đầu, đâu có thể đem
    khẫu quyết nội công liên quan đến tính mạng võ gia mà tùy tiện cho người biết một cách bừa bãi được, nên Ngọc Đông Chân Nhân khẽ lắc đầu từ chối nói :
    - Thật không phải với Âu Dương Sơn Chủ, vì nội công của bần đạo rất thô thiển, đâu đáng khoe tài chỉ dạy ai, cái gì gọi là Hội Đốc câu thông Đan Điền, bần đạo quả tù mù chẳng hiểu, mong Âu Dương Sơn Chủ chỉ giáo thêm cho bần đạo.
    Âu Dương Phong hết sức bất mản, dùng giọng mũi "hừ !" một tiếng, tay áo trái phất trở ngoài mường tượng như dùng tay áo phủi bụi trên một phiến đá, kỳ thật đã kẹp theo một luồng cương khí hùng mạnh đẩy ập vào kẻ đối diện.
    Nếu Ngọc Động Chân Nhân chẳng vận khí kình chống đở tất phải rớt
    khói tấm thạch bàn. Ông vội trầm khí đan điền xuống hạ bàn thân, dùng phép Thiên Cân Trụy định thân hình vững như đá núi.
    Chưởng lực của Âu Dương Phong đẩy tới toàn thân Ngọc Động Chân Nhân vẫn y nhiên bất động.
    Âu Dương Phong bèn cười lên ha hả nói :
    - Đạo hữu quả đúng là kẻ đại trí giả ngu, tài cao vờ ra dốt, song Âu Dương Phong này nhất ý cầu học nghề hay, do lòng chí thành chứ không ngoại ý, nếu đạo hữu chẳng tin lời, ngu hạ có một chút lễ vật gọi là...
    Nói đến đây, bèn từ ở trong túi lôi ra một xâu minh châu màu sắc lung linh, quả là loài dạ minh châu giá đáng liên thành rực rỡ hào quang, xâu ngọc ước độ hai mươi viên , mỗi viên lớn bằng trái nhãn, chỉ cần được một viên, suốt đời cũng sung sướng ấm no .
    Âu Dương Phong giơ cao xâu chuỗi ngọc và nói tiếp :
    - Nếu đạo trưởng bằng lòng chỉ dạy Âu Dương Phong thì xâu minh châu này xin kính dưng đạo trưởng gọi là lễ tương kiến, còn mời đạo trưởng đến tận Bạch Đà Sơn Cốc cùng chung hưởng tiêu diêu lạc thú của nhân gian, đạo trưởng có thể cỡi bỏ lớp phong trần để thưởng thức thế giới thiên đàng của tệ xá.
    Ngọc Động Chân Nhân thấy y ngang nhiên đem vật ngọc ngà trần tục để lung lạc mê hoặc mình, liền biến ngay sắc mặt, phủi áo đứng dậy nói :
    - Lời của Sơn Chủ sai rồi, bần đạo là kẻ xuất gia cầu đạo, tuyệt bỏ lợi danh tham dục. Âu Dương Sơn Chủ lại dùng vật ô uế này để dẫn dụ kẻ xuất gia chẳng lẽ định phá hoại giới hạnh thanh tu của tôi sao ? Đạo chẳng đồng chẳng nên giao kiến, bần đạo xin tạ từ nơi đây !
    Ngọc Động Chân Nhân nhìn thấy Âu Dương Phong là người hạ tiện vô cùng, lòng dạ lại lang độc hiểm ác, nên chẳng muốn lôi thôi buộc ràng với y thêm làm gì, bèn đứng dậy cáo biệt.
    Âu Dương Phong thấy Ngọc Động Chân Nhân không bị mình lung lạc
    được, bèn cười lên gian hiểm, xách cây đàn tranh đứng dậy, cất cười âm trầm nói :
    - Đạo trưởng, rượu kính không uống đòi uống rượu phạt chăng ?
    Ngọc Động Chân Nhân chưa kịp đáp lời, thì Âu Dương Phong, bỗng ngầm vận nội kình, bứt đứt giây vàng xỏ ngang chuỗi minh châu, vung tay rải một cái, hai mươi viên ngọc quí, thẳng băng một đường tựa như một chuỗi sao xẹt, lửa hoa bay vút ra, mỗi viên ngọc đều nhắm chuẩn yếu huyệt trên châu thân Ngọc Động Chân Nhân lao nhanh tới.
    Chân Nhân tay trái đang phe phẩy, chợt thấy Âu Dương Phong đem ngọc quí thế cho thiết đạn bắn vào người mình theo tuyệt kỹ Mãn Thiên Sái Kim Tiền, trong lòng không khỏi nổi giận, tay áo cuốn lên một cái, phất trần bên tay phải đảo vung loang loáng, vù vù lên mấy tiếng, hai mươi mấy viên ngọc nhanh mạnh như những hòn đạn sắt kia đều bị ngọn phất trần của Chân Nhân cuốn gọn lại vận sức rũ một cái, từng viên ngọc quí rơi trên nặt đất vang lên những tiếng kêu nho nhỏ và nát biến như bột vụn.
    Âu Dương Phong biết rõ công phu dùng phất trần để đánh bể những viên ngọc quí vừa rồi, Ngọc Động Chân Nhân vừa sử dụng tên là Ưng Lạc Quần Nha (ưng rơi giữa bầy quạ) là tuyệt kỹ tinh hoa trong Kim Cang nội gia công, tức thì đổi ngay sắc mặt tươi cười, vòng tay nói :
    - Cam thất lễ , tại hạ nhất thời lóa mắt, không biết đạo trưởng là vị cao nhân, bụng đầy tuyệt kỹ nên múa rìu qua mắt thợ, thật hổ thẹn vô cùng, mong được tha thứ.
    Ngọc Động Chân Nhân thấy y đã nói thế, không nỡ làm mất mặt đối phương, nên cũng ôn tồn cúi đầu đáp :
    - Vô lượng thọ phật , Âu Dương Sơn Chủ quá lời thôi ! Xin tái kiến.
    Ông vừa quay người bước đi, thình lình sau lưng nghe "vù !" một tiếng, rồi có một vật binh khí xé gió kẹp theo cả tiếng giây đồng ù ù rất lạ tai, nhắm ngay lưng mình quét xả tới.
    Thật là một sự đột kích vừa nhanh vừa mạnh không thể lường trước được.
    Ngọc Động Chân Nhân chẳng ngờ nổi Âu Dương Phong sâu hiểm độc ác đến thế, lửa giận ông bốc cao lên đầu, không còn vị nể gì được nữa. Ông lại biết rõ khí giới của Âu Dương Phong đang dùng đột kích mình chính là cây đàn tranh quái dị nọ, mà cây đàn tranh của y dùng thép ròng đúc
    thành, giây huyền làm bằng gân nai thật già, có thể thay thế khí giới tấn công kẻ địch, ông dù muốn tránh cũng chẳng kịp nào.
    Ngọc Động Chân Nhân chỉ còn cách quay phắt người lại, cánh tay phải gạt mạnh trở ra. Chân Nhân định bụng dùng nội lực Kim Cang Kình, lấy sống bàn tay bẻ cây thiết tranh của Âu Dương Phong, sau đấy trả lễ lại một đòn sát thủ, để y nếm mùi lợi hại.
    Ngờ đâu cây thiết tranh của Âu Dương Phong lại tầm phỗng bên trong, đầu tranh có lưỡi gà, đầu lưỡi gà có gắn hai con rắn giả đúc bằng chất nhuyễn cang, thoa lên lớp sơn đen, in hệt như rắn thiệt, miệng rắn lại có hai chiếc nanh thép sắc bén tẩm luyện trong nọc rắn độc, có thể tự động nhả ra táp, y như rắn thật cắn phải vậy.
    Ngọc Động Chân Nhân chẳng dè cây đàn tranh ấy lại dấu thứ ám khí độc giết người kia, cánh tay trái vừa chạm phải cây đàn, tức thì "vút ! vút !" hai tiếng xé rít không khí, từ trong cây đàn bỗng bắn ra hai vật lạ giống như đầu rắn chích vào phía sau bả vai một cái đau nhói, liền khi cảm thấy nơi chỗ bị chích vừa ngứa vừa tê.
    Chân Nhân lập tức biết ngay là một phút vô ý bị trúng phải ám khí của tên ma đầu, lửa giận càng xung tim quát lên như sấm :
    - Quân vô sỉ, bần đạo cùng mi liều mạng mới được !
    Miệng quát tay đã vù ra chưởng quét tréo vào người Âu Dương Phong.
    Âu Dương Phong thấy mình được thế, đắc ý cười lên như điên, nhãy lùi ra sau, nhanh như một cơn gió băng mình qua gộp đá chạy lủi vào rừng sâu.
    Ngọc Động Chân Nhân căm hận cực cùng, tay phải vung mạnh đuôi phất trần quay ngược như mũi phiêu thương lao vun vút vào phía lưng của gã ma đầu .
    Âu Dương Phong lẹ như cắt lủi tuốt vào rừng tràn về một phía, đuôi phất trần lao chẳng trúng, ghim sọc vào một thân cây rừng, cán phất trần lút sâu vào thân cây trên nửa thước .
    Âu Dương Phong lỏn sâu vào rừng, cất cao giọng nói vọng lại :
    - Lão thầy chùa mũi trâu còn định ăn thua với ta nữa sao, chỉ một giờ sau là mi mà mạng rồi đấy, liệu mà tìm chỗ chôn thây đi !
    Ngọc Động Chân Nhân sực nghĩ lại cũng phải, mình đã trúng ám khí của đối phương nếu còn đuổi theo giao đấu dùng sức chạy nhãy thì lại càng mau chết. Vì nếu cùng đối phương giao tay, huyết mạch càng gia tốc để lưu chuyển khắp châu thân, độc khí vào tim phổi công phạt càng mau hơn, một giờ đồng hồ sau là ngã chết chẳng phương cứu chữa.
    Ngọc Động Chân Nhân nghĩ thế bèn lớn tiếng quát mắng :
    - Tặc tử, bần đạo cùng mi người dưng kẻ lạ, chẳng oán chẳng thù
    người lại đang tâm hạ độc thủ ta như thế này, còn mặt mũi nào mà tự xưng tông sư miền Tây Vực, thật là quân tồi bại sài lang.
    Âu Dương Phong từ bên trong rừng, cười lên khách khách nghe rất quái dị và nói :
    - Tuy ta hạ độc thủ hại mi, nhưng trên người ta vẫn có thuốc chữa, nếu mi muốn còn mạng cũng dễ chỉ cần đưa ra yếu quyết, nội công thế nào để câu thông thận tì hai tạng, khai xuyên cây cầu Thiên Địa của bản thể, ta sẽ lập tức chữa ngươi hết độc ngay , còn có thể hóa địch thành bạn, chết sống hai lòng tự ý ngươi chọn lấy ! Khè...Khè !
    Y càng cười, Ngọc Động Chân Nhân nghe lửa giận càng xông cao, cảm thấy nơi bộ phận ngứa ngáy của vết thương dần dần lan rộng ra xung quanh, sau bả vai nhức người như bị trăm ngàn con ong độc đang đốt cắn phải.
    Ngọc Động Chân Nhân giọng căm hận nói :
    - Âu Dương Phong, mi tưởng dùng thủ đoạn đê tiện hèn hạ ấy có thể bức bách ta phải khai yếu quyết nội công cho mi học sao ? Bần đạo dù chết chí vẫn không sờn, thà bỏ mạng chứ không thể chỉ dạy tên học trò đê tiện và vô sỉ như mi, hơn nữa ta vẫn có thuốc để giải độc được, mi đừng lầm.
    Nói đoạn, quay người dùng thuật lục địa phi hành chạy vun vút ra khỏi sơn cốc, ròng rã một đêm hai ngày mới vào đến địa phận thành Đại Lý. Nhưng vì sức đã cùng lực kiệt để tranh thủ với độc tố đang lan dần trong cơ thể.
    Tới bờ tường hoàng thành thì thần trí đã mê man dở hôn dở tỉnh, nên vừa gắng sức thoát khỏi rào tường đã từ trên mái ngói lăn rớt xuống đất, nhưng vẫn còn cố định được trí nhớ nhờ Đoàn Cẩm giúp mình chạy chữa vết thương.
    Đoàn Cẩm sau khi nghe xong, giận đến tóc tai dựng ngược, hận không được tức thời đến Mãng Thương Sơn tìm Âu Dương Phong để trả hận.

  9. #69
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 73 Theo thầy vân du


    Bắt đầu từ ngày ấy Ngọc Động Chân Nhân lưu lại Đại Lý thành để dưỡng thương, ba tháng sau mới phục hồi công lực như cũ.
    Một hôm Đoàn Hoàng Gia bèn hỏi Chân Nhân :
    - Con tôi từ lúc được đạo tăng đào luyện võ nghệ thấm thoắt đã mười năm dư, chẳng hay bản lãnh của tiểu vương như thế nào ?
    Ngọc Động Chân Nhân lắc đầu nói :
    - Môn võ thuật thật là vô biên bất cùng. Sống đến già, học đến già cũng chưa biết đâu là đủ, điều tối cần phải tăng gia lịch lảm, vi hành đến mọi nơi để thu thập kinh nghiệm, mới có thể cùng người so kém hơn thua, hầu rút tỉa tinh hoa của võ thuật .
    Nếu bệ hạ muốn cho điện hạ thành kẽ địch vạn nhân, ít nhất phải cùng bần đạo xông xáo giang hồ du lịch đôi ba năm mới được.
    Chẳng hay Lão Hoàng Gia có thuận tình chăng ?
    Đoàn Lão Hoàng Gia nghe xong mấy lời của Ngọc Động Chân Nhân, không khỏi lộ vẽ khó nghĩ, vì như đã nói trước , quy chế của vương triều họ Đoàn, từ quốc vương cho đến quý tộc không được ra khỏi khu vực Đại Lý thành ngoài trăm dặm, cho nên lời đề nghị của Ngọc Động Chân Nhân khiến Đoàn Lão Hoàng Gia ậm ừ cho qua chuyện chứ không đáp lời.
    Ngọc Động Chân Nhân cũng hiểu rõ sự khổ tâm của ông ta nên không đề cập thêm nữa.
    Nhưng bất ngờ đêm ấy, trong khi Chân Nhân dạy Đoàn Cẩm phương thức thổ nạp công phu.
    Đoàn Cẩm thình lình tỏ ý với thầy :
    - Bạch sư phụ, khi sáng sư phụ có xin với phụ hoàng định đưa con đi ngao du khắp nơi, để thu thập kinh nghiệm võ thuật trên giang hồ phải không ?
    Ngọc Động Chân Nhân buồn rầu gật đầu.
    Đoàn Cẩm lại nói tiếp :
    - Sư phụ cũng hiểu rõ quy chế khắt khe của vương quốc họ Đoàn chẳng cho người trong tộc rời khỏi đế kinh quá bảy ngày, dù rằng cha đệ tử làm Hoàng đế trên ngôi chí tôn, cũng không sao phá lệ được mà dầu cho Phụ vương con thuận lời đi nữa các đại thần trong triều cũng lên tiếng phản đối ngay.
    Ngọc Động Chân Nhân trầm ngâm giây lát rồi đáp :
    - Nếu như lời đồ đệ nói, thì dù cho con học thêm hai mươi năm công phu nữa, thành quả cũng là bao.
    Đoàn Cẩm nhìn quanh bốn phía khắp lượt đoạn kề miệng vào tai Ngọc Động nói nhỏ :
    - Nếu vậy, con có thể lén trốn khỏi hoàng thành để cùng đi với sư phụ .
    Ngọc Động Chân Nhân ngạc nhiên, nói :
    - Con định cùng sư phụ trốn đi ư ? làm sao được, Phụ hoàng con chẳng trách phiền con sao ?
    Đoàn Cẩm cười nói :
    - Sao lại không được ? Phụ vương con chỉ có mình con là con duy nhất chẳng lẽ lại giết con sao. Vương chế triều đình không cho rời thành Đại Lý một cách minh bạch, chớ đâu có qui định chẳng cho đi lén bao giờ ?
    Ngọc Động Chân Nhân không khỏi tức cười trước lời nói cưỡng lý trở trái làm mặt của tên đồ đệ mẩn tiệp thông minh .
    Hai thầy trò phụ nhĩ xầm xì một lúc khá lâu, Đoàn Cẩm cứ gật đầu vâng dạ lia lịa.
    Đoạn cả hai thầy trò Ngọc Động Chân Nhân mất tích một cách bí mật.
    Rạng hôm sau, Đoàn Lão Hoàng Gia sau buổi lâm triều trở về nội điện, bỗng một thị thần hơ hãi chạy đến vập đầu tâu lia :
    - Tâu bệ hạ,không xong rồi ! Thế tử đã tự ý trốn đi, chúng tôi tìm khắp hoàng cung cũng chẳng thấy .
    Lão Hoàng Gia nghe con mất tích kinh hãi cực cùng, vội chạy vào tẩm điện, thì con mình đã đâu mất mà Ngọc Động Chân Nhân cũng biệt tăm, trong cung mọi vật niêm phong bất động, chỉ thiếu một số quần áo tùy thân cùng chút ít bạc vàng tế nhuyễn.
    Đoàn lão Hoàng Gia dậm chân than :
    - Khổ thật ! Vương nhi muốn cùng sư phụ con dấn bước giang hồ để luyện thêm tài nghệ cũng được đi, sao lại phải trốn . Thật là thiển kiến của con nít !
    Một tên thị vệ quỳ xuống tâu :
    - Muôn tâu thánh thượng, Điện hạ có để lại một bức thư nơi ngọc án.
    Đoàn Lão Hoàng Gia vội bóc ra xem, nội dung như sau :
    Phụ vương thọ giám !
    Thần nhi theo sư phụ chen chân hải hồ, bốn biển là nhà giường đất, màn sương , kỳ hạn trở lại cố hương đúng ba mươi sáu lượt trăng tròn, đi không thỉnh cáo, thần nhi tự biết tội nghiệt, chỉ vì vương chế khắc khe , buộc lòng làm thế, cúi lạy Phụ vương bảo trọng mình rồng.
    Thần nhi Đoàn Cẩm phục bút !
    Đoàn Lão Hoàng Gia đọc xong, nước mắt rưng rưng, thở dài một tràng ảo nảo và lẩm bẩm như nói với mình :
    - Con ơi ! Dại sao là dại, nếu muốn đi du lịch viễn phương hà tất phải làm thế, con cứ theo chí hướng bẩm rõ với cha, tất nhiên cha có cách an bài cho con, tội vạ gì phải lén lút trốn đi như thế !
    Nói đoạn quay sang dặn dò thị vệ tả hữu :
    - Các người không được đem chuyện Thế tử tự ý trốn đi khỏi hoàng thành, diện lộ ra người ngoài mà cứ nói là Thế tử mắc chứng bệnh lạ, cần phải ở riêng biệt cung ba năm, không cho ai vào thăm viếng cả. Nghe rõ chưa ?Nếu như tên nào thổ lộ ra ngoài xem chừng chiếc đầu trên cổ.
    Nhưng lần ra đi này thời gian tuy kỳ hạn trong thư là ba năm, song vì Đoàn Cẩm mãi vui say theo chân thầy trên bước đường lữ thứ sông hồ, thấm thoắt xuân đi thu lại, sáu năm dài dằng dặc nhẹ như lá rơi song cửa.
    Sau đó Đoàn Cẩm khắc khoải nhớ quê Nam, mới từ biệt thầy một mình một bóng trở về đất Tổ.
    Cương giới của Nam Chiến Quốc gần như bao quát gần hết tây hộ Vân Nam luôn cả một góc phía Nam tỉnh Tứ Xuyên nên khi Đoàn Cẩm vào biên cảnh quê nhà, còn cách thành Đại Lý ba, bốn ngày đường, vì nóng lòng muốn biết tình hình vua cha sau thời gian cách biệt hơn sáu năm trời, liền tìm một lương dân hỏi thăm.
    Đoàn Cẩm vì bình thường ít khi rời khỏi kinh thành, hơn nữa lại xa quê hương quá lâu, dung mạo đã biến đổi đi phần nào, đừng nói chi bình dân bá tánh mà cho đến cận thần trong triều đình cũng chưa chắc đã nhận ra chàng.
    Do đấy gã dân quê ấy không làm sao nhận biết kẻ đối thoại trước mặt là Thế tử đương triều, bèn đem mọi tình hình biến cố trong Đại Lý thành thuật sơ lược cho chàng nghe.
    Chẳng ngờ Đoàn Cẩm sau khi nghe xong, giật nẩy mình kinh sợ đến tay chân rụng rời, mồ hôi toát ra như tắm.
    Thì ra Đoàn Cẩm từ khi trốn theo Ngọc Động Chân Nhân rời khỏi hoàng cung, Đoàn Lão Hoàng Gia bưng bít tin tức không cho các đại thần biết, chỉ phao tin con mình bị bịnh, không dè qua năm sau, tin Thái tử trốn đi bị thấu ra ngoài triều.
    Các đại thần hội nhau vào cung thất chất vấn sự kiện Thái tử Đoàn Cẩm tự ý rời cung, yêu cầu Đoàn Lão Hoàng Gia phải gấp chiếu thị toàn quốc phế trừ Thái tử để lập người khác.
    Vua họ Đoàn hết sức khổ lòng, cùng đại thần tranh luận một buổi, mới tạm thời gác lại chuyện phế lập đợi ba năm sau, nếu Đoàn Cẩm trở về vẫn còn thân phận chức vị Đông Cung, nhược bằng quá ba năm mà không về thì lúc ấy sẽ lập Thế Tử khác.
    Đoàn Lão Hoàng Gia hết sức khó khăn khuyên lơn sự phẫn uất của các đại thần, dùng kế hoãn binh, hy vọng ba năm sau thế nào con mình cũng sẽ trở về, bao nhiêu việc rắc rối xảy ra sẽ giải quyết một cách êm đẹp.
    Những buồn thay, ngày tháng thoi đưa ba năm thời gian loáng cái mắt đã qua rồi mà Đoàn Cẩm vẫn biệt vô âm tín, một số đại thần xôn xao bàn tán không ngớt, phần đông đều tưởng Thái tử không trở về theo thơ kỳ hẹn, có lẽ đã chết dọc đường. Chức vị Thế Tử không thể để trống vì Đoàn Lão Hoàng Gia tuổi hạc đã cao, vạn nhất giá băng về trời, thì ngôi lớn lấy ai kế tiếp ! Và Nam Chiến Quốc sẽ sa vào cảnh nổi loạn còn gì ?
    Đoàn Lão Hoàng Gia không thể cưỡng lại ý kiến của triều thần, đành phải hạ chỉ phế bỏ Đoàn Cẩm, nhưng lại gặp phải một sự khó khăn khác vì Đoàn Lão Hoàng Gia trừ Đoàn Cẩm ra là con, không có hoàng tử nào khác thì lập ai làm kẻ thừa hành ngôi báu đây ?
    Suốt ba tháng trời cân phân triều nghị, Đoàn Lão Hoàng Gia mới quyết định chọn con trai của em mình là Đoàn Chiêu làm Thái tử.
    Cha của Đoàn Chiêu là Đoàn Tấn với Đoàn Lão Hoàng Gia là anh em ruột một cha khác mẹ, sớm đã có tham vọng cho con mình kế vị ngôi vua, giờ đây được Lão Hoàng Gia chọn con trai làm Thế Tử, thật là cơ hội tốt cho y biết mấy.
    Đoàn Tấn là một người có dã tâm tham tàn lăm le lũng đoạn triều chính, thu tóm quyền hành vào một tay để đạt đến chức vụ Thái Thượng Hoàng mà từ bao lâu nay y khao khát.
    Cho nên một năm sau, một năm con y được lập làm Thế Tử, Đoàn Tấn mượn danh can dự chánh sự.
    Lần lượt tìm cách phế thải các vị đại thần trong triều, cất nhắc tâm phúc mình lên.
    Ban đầu dùng kế hoạch thanh trừng từng người một, sau đấy sẽ tiến hành đến mưu lược soán vị kế ngôi.
    Qua năm thứ hai, Đoàn Tấn chẳng biết từ đâu chiêu dụ được một gã tăng nhân cùng một tên đạo sĩ đến thành Đại Lý, rồi chẳng cần sự đồng ý của Đoàn Lão Hoàng Gia hay chăng tùy tiện phong cho gã hòa thượng chức Hộ Quốc Thiền Sư và tên đạo sĩ là Tử Quang chân nhân.
    Gã hòa thượng ấy pháp danh là Ngộ Ứng là một tay khí công có hạng, thịt cứng như sắt đao thương chẳng phạm vào người, tự mình đặt cho cái hoa hiệu là Thạch La Hán.
    Còn gã đạo sĩ tục tánh là Tốt, đạo hiệu là Diệu Chân, thiện dụng một cây phất trần bằng sắt, giang hồ quen gọi y là Thiết Phất Đạo Nhân .
    Đoàn Tấn được thêm hai tên kiện tướng ấy như hổ thêm vây, triều thần còn vị nào dám chỉ trích hay dèm siểm Hoàng thúc Đoàn Tấn vài lời thì không tới ba ngày sau nhất định là chiếc sọ dừa trên cổ họ bị cắt mất một cách bí mật.
    Một số người đồn đải là Thạch La hán và Thiết Phất Đạo Nhân, hai gã yêu đạo tay chân đắc lực của Đoàn Tấn kia đều có biệt tài phi thiềm tẩu bích lúc đến lúc đi không một tiếng động, cứ đến mỗi đêm là thi hành công phu dạ hành đến các tư dinh của triều thần lớn nhỏ để thám thính, hành thích, về phúc trình lại với hoàng thúc Đoàn Tấn.

  10. #70
    Status : thuanhuynh_alpha đang ẩn
    Tham gia ngày : Aug 2011
    Bài gửi : 2.014

    Re: Võ Lâm Ngũ Bá

    Hồi 74 Hoàng Thành dậy sóng


    Do đó, nhất cử nhất động của quan viên lớn nhỏ trong triều, Đoàn Tấn đều hiểu rõ như chỉ trên bàn tay. Những người nào có ý chống đối với Đoàn Tấn tất thế nào cũng chết vì hai tên yêu đạo ấy.
    Do đấy Đại thần trong triều người nào cũng sợ hãi khiếp oai, thủ khẫu như bình, chẳng dám hó hé phạm đến Hoàng thúc nửa lời.
    Đoàn Lão Hoàng Gia vô hình trung biến thành là một tượng phỗng bù nhìn, tha hồ cho Đoàn Tấn tác quái. Không những triều chánh bị bàn tay y lũng đoạn lộng quyền mà cho đến mọi sự trong cung vi cũng bị y xâm dự đến.
    Có một lần y uống rượu say, trêu chọc một cung nữ, ả cung nữ ấy liền mách lại với Hoàng Hậu, qua ngày sau, ả cung nữ ấy bỗng biến mất tích một cách bí mật.
    Độ ba hôm sau, thi thể của nàng nằm lõa lồ ngoài thành Đại Lý, nơi hạ thể máu me đầm đìa, chứng tỏ là bị hung thủ luân phiên nhau hảm hiếp đến chết.
    Đại thần trong triều giả điếc, chẳng dám hó hé nửa tiếng.
    Đoàn Lão Hoàng Gia thấy em mình mỗi chuyện mỗi đè ép mình quá mức, lúc ấy mới hối hận việc mình phế lập Thái tử thì đã muộn rồi.
    Đoàn Lão Hoàng Gia phần vì buồn rầu các triều thần nhu nhược, khoanh tay mà nhìn non nước ngữa nghiêng, phần vì thương nhớ con mình, lần lần biến thành một chứng tâm bịnh, tinh thần hay hốt hoảng vô cớ.
    Đoàn Tấn mới mượn cớ phao ngôn là Đoàn Lão Hoàng Gia long thể bất an, cần phải tịnh tâm nghỉ ngơi, mà Thái tử mới lập, tuổi hãy còn thơ, rồi tự mình kiêm lấy chức Nhiếp Chánh, thực hành mộng Hoàng Đế của mình.
    Nam Chiến Quốc vốn ra rất phú cường, nhưng từ khi Đoàn Tấn đoạt vị lên ngôi không đầy hai năm, muôn dân than oán khốn khó nghèo nàn, dân chúng lưu ly khổ sở, nhưng bé cổ kêu chẳng thấu trời.
    Đoàn Cẩm nghe xong tin tức ấy thật như sét đánh bên mày, đầu óc lùng bùng một lúc khá lâu mới định tỉnh tinh thần. Chẳng ngờ mình vừa rời quê hương sáu năm trời, Nam Chiến Quốc biến ra nông nỗi như thế !
    Chàng cám ơn gã nông phu ấy xong, lòng sầu như lửa nung, đi suốt đêm ngày để mau về đến thành Đại Lý.
    Không đầy hai ngày là đã đến bờ thành bên ngoài rồi.
    Đoàn Cẩm định vào thẳng trong thành. Sực nghĩ lại một chuyện, thầm trách lấy mình :
    - Ta ngốc thật ! Hoàng thúc sau khi độc chiếm triều chánh thế nào cũng chẳng đề phòng ngày trở lại của ta. Nếu thấy ta thì đâu dễ bỏ qua mà còn sai tâm phúc theo sát hại nữa là khác, ta đường hoàng vào thành Đại Lý thế này, có phải là tự đút đầu vào rọ chăng ? Bậy thật !
    Nghĩ đoạn chàng chẳng vào mà quay trở lại hướng thành Tây, lên núi Điểm Thương sơn để tạm tránh tai mắt của Đoàn Tấn.
    Phía Tây Đại Lý cảnh sắc đẹp như Đào Nguyên trên trần thế khí hậu bốn mùa êm mát tự xuân.
    Đoàn Cẩm về đến Đại Lý thành vào tiết cuối xuân tháng ba, núi Điểm Thương khói sương liền giải, phản chiếu ánh hoàng hôn.
    Như một giải lụa năm màu lửng lơ quanh sườn núi biếc, muôn hoa rực rỡ đủ màu, trà mi , đỗ quyên, hoa đào đỏ vàng chen sắc trắng, ô hợp thành một bức thảm linh động cả sắc lẫn hương.
    Đoàn Cẩm mải mê nhìn cảnh vật, khắc khoải với tâm sự oằn nặng của mình, chợt nghe phía sau lưng có người sang sảng ngâm nga :
    Cố quốc tam thiên lý
    Thâm cung nhị thập niên
    Nhứt thanh Hà mãn tử
    Song lệ lạc quân tiền.
    (Cổ quốc ba ngàn dặm
    Cung sầu hai mươi năm
    Một tiếng kêu con út
    Lệ rơi nước mắt chàng).
    Đấy là bài Đường thi mà Đoàn Cẩm thời nhỏ thường ngâm nga, chàng không khỏi giật thót mình, vội quay ra nhìn xem người vừa ngâm bài thi kia chính là một thư sinh áo vàng, ăn mặc theo lối nho sĩ, trán cao tai lớn mắt sao, tuổi không dưới ba mươi, phong nghi tuấn nhã, phong thái khác phàm.
    Đoàn Cẩm vừa thấy mặt khách là trong lòng muốn kết giao ngay bèn tiến tới vòng tay thi lễ và nói :
    - Nhân huynh nhã hứng lâng lâng, nên một mình thơ thẩn giữa hoang sơn, để ngâm thi định cảnh, giọng thơ sang sảng hào hùng khiến tiểu đệ khâm phục vô cùng.
    Vị thư sinh áo vàng khẽ mỉm cười tự nhiên không đáp lại lời nói của Đoàn Cẩm, trái lại nói một cách bâng quơ :
    - Đạo làm người tức là tâm, tâm tức là đạo, linh đài hễ thanh khiết, thị phi chẳng bợn lòng, còn gì dục niệm công danh phú quý nữa ?
    Thế nhân cứ mải mê tranh quyết đoạt lợi, kỳ thật nháy mắt phồn hoa chỉ là Nam Kha giấc mộng, nếu biết trước được lẽ ấy có thể ngộ thành đại đạo rồi vậy.
    Đoàn Cẩm thấy vị nho sinh áo vàng nói một cách lảng xẹt không đầu không đuôi như thế, không khỏi cười thầm trong bụng, hỏi thăm lai lịch tánh danh của chàng, thì chàng ta thình lình chỉ tay và nói :
    - Tôn huynh nhìn kìa, bên kia phải chăng có người đang đi đến !
    Đoàn Cẩm vội quay đầu về phía đường đi nhưng nào thấy bóng ai, chàng liền xoay lại định hỏi chàng thư sinh kia, thì lạ quá ! Trong khoảnh khắc nháy mắt ấy, chàng thư sinh nọ bỗng biến đâu mất.
    Đoàn Cẩm hết sức kinh ngạc, vội dụi mắt mấy cái, mút mắt chỉ là núi đồi chập chùng, nào thấy bóng dáng chàng thư sinh đâu cả, nếu nói chàng thừa cơ bỏ đi, thì sao mới đó đã chẳng thấy ?
    Nếu nói chàng có phép tàng hình lại càng vô lý hơn nữa !
    Chẳng lẽ thư sinh nọ là ma quỷ hiện lên để trêu ghẹo mình sao ?
    Đoàn Cẩm nghe mọc ốc cả thân thể , vội tung người chạy một hơi mấy dặm đường mới dừng bước lại .
    Trời lúc ấy cũng đã tối dần, Đoàn Cẩm chờ cho màn đêm bao trùm khắp vũ trụ mới vào nội thành.
    Nơi cửa thành quả nhiên có quân lính đứng gác, tra xét người đi đường.
    Đoàn Cẩm thừa lúc tranh tối tranh sáng, quân canh đổi phiên nhau, trà trộn theo bá tánh vào thành, trời cũng vừa mới trở canh hai.
    Đoàn Cẩm núp vào một xó tối, đợi đến sang canh ba mới ló mình ra, phi thân nhãy vụt lên nóc nhà dùng thuật phi hành đi thẳng đến hướng hoàng cung.
    Chàng từ nhỏ đến lớn sinh trưởng trong hoàng cung, tất nhiên thông thuộc đường lối khắp nơi nên chỉ loáng mắt là đã đến đầu ngoài tường cung điện.
    Khom người nhìn vào thấy không có ai, bèn tung mình nhãy vào một lùm hoa, nương theo đường mòn dùng thuật xà hành trườn tới, chợt thấy ánh đèn lấp loé, trên hành lang hiện ra một ngọn đèn lồng, người xách đèn là một cung nữ.
    Đoàn Cẩm liền nhận ra ngay diện mạo của nàng cung nữ ấy, chờ cho cô ả đi đến gần, Đoàn Cẩm liền từ trong bụi hoa nhãy vụt ra đón lại và trầm tiếng quát :
    - Đỗ Quyên , nhớ mặt ta chăng ? Định đi đâu đó ?
    Ả cung nữ tên Đỗ Quyên nọ là một cung phi phục thị trong cung Hoàng hậu nên Đoàn Cẩm rất quen y.
    Nàng chợt thấy từ trong lùm cây bỗng hiện ra một người, sợ đến hồn vía lên mây, đến lúc định thần nhìn kỹ càng hãi khiếp hơn nữa, run lẩy bẩy cơ hồ muốn buông rơi cả cây đèn xuống đất thất thanh kêu lên :
    - Điện hạ ! Điện hạ về rồi, Điện hạ là quỉ hay là người .
    Đoàn Cẩm tiến ra trước hai bước, nghiêm sắc mặt nói :
    - Ta bất quá theo sư phụ du lịch xứ xa để tăng gia kiến thức vậy thôi chớ nào có chết đâu sao mi lại tưởng ta là quỷ ? Phụ vương ta đâu rồi ? Nói mau !
    Đổ Quyên nghe xong mới yên tâm phần nào , nàng đưa mắt nhìn quanh bốn phía rồi mới đáp :
    - Điện hạ về quá trễ rồi, Hoàng thượng từ ba năm trước...
    Đoàn Cẩm nạt ngang :
    - Mi khỏi nói ta cũng biết rồi, Phụ vương ta đã bị Hoàng thúc giam giữ một nơi kín đáo, vậy người ở nơi đâu mau đưa ta đi.
    Đổ Quyên chậm rất đáp :
    - Vâng ! Vâng ! Xin Điện hạ theo tiện nô !
    Nàng bèn xách lồng đèn, dắt đi quanh qua quẹo lại hết mấy dãy hành lang, đến trước cử một tịnh thất, cung nữ ấy liền dừng bước và thình lình lớn tiếng :
    - Điện hạ, Hoàng thượng ở bên trong, Điện hạ gặp người cần tĩnh tâm, đừng nói chuyện lớn kẻo người ngoài hay được, sẽ nguy cho Điện hạ và Hoàng thượng lắm đấy !
    Đoàn Cẩm biết rõ tịnh xá này trước kia là Phật đường cũng là nơi Phụ vương chàng dùng để an trí mấy cung nữ gìa nua, chẳng ngờ ông lại phải giam mình vào nơi đây.
    Chàng không khỏi chua xót trong lòng, vội khoát tay ra dấu bảo cung nữ :
    - Ta biết rồi, mi đứng bên ngoài trông chừng giúp ta một chút, nghe chưa ?
    Từ bên trong tịnh xá bỗng vang lên một giọng nói gìa nua :
    - Ai ở bên ngoài nói chuyện gì thế ?
    Đoàn Cẩm nghe rõ là tiếng của Phụ vương mình, không khỏi tim nhãy lên thình thịch, cảm động đến ứa nước mắt, tung mình nhãy tuốt ra song cửa, miệng hét lên nho nhỏ :
    - Phụ vương, thần nhi bất hiếu hôm nay mới trở về thăm Phụ vương.
    Chân chàng vừa chấm đất, chợt thấy trước mắt ánh sáng hoa lên, thì ra Phụ vương chàng đang cầm ngọn bạch lạp giơ trước mặt.
    Dưới ánh sáng cây đèn sáp, chàng thấy khuôn mặt hiện giờ của Đoàn Lão Hoàng Gia, tuy đã sáu năm cách mặt nhưng cảm như đã gìa trên hai mươi năm, trán đầy vết nhăn, tóc đã trắng hết nửa mái đầu, thân hình ốm yếu hơn lúc trước nhiều.
    Đoàn Cẩm hết sức đau đớn, vội quỳ xuống trước mặt Đoàn Lão Hoàng Gia, níu cứng vạt áo long bào của ông và không dằn được, khóc ồ lên.
    Lão Hoàng Gia nước mắt cũng tầm tả , gượng gạt nước mắt nghẹn ngào bảo :
    - Cẩm nhi, hiện giờ không phải là lúc cho phép cha con ta khóc nhau, thúc thúc của con độc chiếm vương quyền, trong triều đều là gian đảng cả, cho đến trong thâm cung cũng đều đầy dẫy tâm phúc của chúng, nếu bọn chúng hay con vào đây nhất định sẽ gia hại con, con nên tìm cách trốn đi.
    Đoàn Cẩm vụt đứng phắt dậy, nghiến răng đáp :
    - Tâu Phụ hoàng, không thể được, Phụ vương gặp phải cảnh hôm nay, đều tại thần nhi gây ra cả, thần nhi quyết sẽ tẩy sạch hận thù cho Phụ vương, con đi tìm Hoàng thúc ngay bây giờ !
    Đoàn Lão Hoàng Gia vừa định lên tiếng can ngăn, bỗng ngoài tịnh thất có tiếng thét hốt hoảng "ối cha !"
    Đúng là tiếng thét của ả cung nữ Đỗ Quyên, tiếp theo đấy là giọng ồ ồ của một người khác :
    - Đỗ Quyên ! Canh ba nửa đêm, mi lấm lét đứng đây để làm gì ? Nói mau !
    Đúng là tiếng nói của võ sĩ trong cung.
    Lão Hoàng Gia sợ hãi đến tái trắng mặt, đẩy Đoàn Cẩm một cái.
    Đoàn Cẩm nhìn quanh bốn phía thấy nơi giữa tẩm thất có treo một bức trướng, chàng lập tức thoắt người một cái lẹ như con hồ ly ẩn mình sau bức trướng.
    Lúc ấy bên ngoài có tiếng Đỗ Quyên lập cập trả lời :
    - Không có ! Tôi tôi... nghe Hoàng thượng đòi ăn sâm thang nên gọi tôi đến trú phòng thông báo đấy thôi !
    - Mẹ kiếp nhà nó, nửa đêm gà gáy còn đòi uống sâm thang, ai tin lời quỷ quái của mi, mau cút đi không ?
    Đỗ Quyên riu ríu dạ lên nho nhỏ rồi đi ngay.
    Chẳng bao lâu sau, chiếc rèm tịnh thất được dở lên rồi có hai người võ sĩ khôi giáp đàng hoàng đi vào.
    Hai tên võ sĩ ấy là giống người Nô Di, mày đậm mắt rô, lưng mang trường đao, hai gã tên là Kim Long và Hắc Hổ là hai tên giáp sĩ tâm phúc của Đoàn Tấn.
    Kim Long tay bưng tráp thực phẩm Hắc Hổ cầm bình rượu vàng.
    Lão Hoàng Gia thấy mặt bọn chúng như gặp phải hung thần, run lẩy bẩy hỏi :
    - Bọn bây nửa đêm nửa hôm vào đây có chuyện gì ?
    Kim Long cười nham hiểm tâu :
    - Tâu Hoàng thượng, Hoàng thúc nghe nói Hoàng thượng suốt đêm tâm hồn ưu tư, không thể an giấc nên đặc sai tiểu thần đem một hồ bích Lục Tửu đến để Hoàng thượng giải sầu.
    Hoàng thượng uống rượu này xong tâm thần sẽ êm ái lại thường chẳng còn nghĩ vơ vẩn nữa.
    Lão Hoàng Gia biết ngay đó là bình độc tửu.
    Không thể ngờ được em mình tàn nhẫn độc ác đến thế, đã tiếm lấy đại quyền lại còn muốn bức tử mình, kinh sợ đến mặt xám như tro chết nói lia lịa :
    - Đâu có thể như thế ? Đâu có thể như thế ? Ngươi, ngươi mau kêu Hoàng thúc đến đây cho trẫm.
    Hắc Hổ nói :
    - Hoàng thượng, Hoàng thúc quyết là không thể đến rồi, Bệ hạ nên ngoan ngoãn uống đi để hoặc may bảo toàn được thi hài, bằng không hì hì...
    Lão Hoàng Gia bỗng hét to :
    - Cẩm nhi, hãy cứu Phụ vương !
    Kim Long cười ha hả nói :
    - Tâu Hoàng thượng, Điện Hạ đã chết lâu rồi, còn đâu mà gọi cho tốn công.
    Y chưa kịp dứt lời bỗng nghe "vút !" một tiếng gió rít, lại cảm thấy sau gáy mình như bị một chiếc kềm sắt kẹp phải, hai tiếng "ối cha !" chưa kịp thoát ra lỗ miệng thì trên lưng bị đánh một quyền nghe "bình" một tiếng, như búa sắt đập lên mạnh mẽ dị thường, tuy có lớp áo sắt che chở bên ngoài nhưng cũng bị sức quyền xuyên vào trong đập mạnh lên sống lưng, khớp xương gảy lọi cho đến tim phổi cũng bị chấn nát.
    Kim Long rống lên một tiếng đau đớn rồi nhào xuống chết tốt .
    Thì ra Đoàn Cẩm thấy Hoàng thúc phái người đến bức tử cha mình, tình cha con thấm thiết đâu dễ làm ngơ, bèn từ sau bức trướng soạt bước nhãy vút tới dùng Đại Lực Ưng Chảo chộp lấy gáy Kim Long, tiếp theo đấy nện mạnh vào lưng y một ngọn Kim Cang Quyền, mà Kim Cang Quyền của Đoàn Cẩm có thể lở núi nát đá, thì da thịt của Kim Long làm sao chịu cho kham !
    Hắc Hổ giật nẩy mình kinh hãi, vội xoay người lại rút thanh bội đao ra, nhưng động tác của Đoàn Cẩm nhanh hơn y nhiều, chân trái đã bay lên đá văng bình rượu bên tay trái y, chân phải tiếp theo với thế liên hườn thế pháp một tiếng bốp thật lớn, ngọn cước của Đoàn Cẩm đã xuyên lớp giáp hộ tâm, khiến y ngã ngược ra sau.
    Song ly Hắc Hổ là một dũng sĩ hữu danh trong cung, tuy bị một cước nơi lồng ngực, vẫn còn nhịn được đau, phản kích lại một ngọn đao chém trả lại.
    Đoàn Cẩm liền vung cánh tay sắt của mình ra gạt lưỡi đao trở ra, nhanh nhẹn lật tay chộp lấy sóng đao, dùng sức mạnh gạt một cái đã đoạt ngọn khí giới vào tay.
    Hắc Hổ vừa bị tước khí giới, lập tức nhoài người theo thế Yến Tử Phiên Thân (chim én trở mình), tay trái vươn ra tức thì "soạt ! soạt !" từ tay trái bay ra ba mũi tụ tiễn, xẹt vút vào đối phương.
    Đoàn Cẩm đâu xem trò trẻ con ấy ra gì, tay hữu khẽ nhấc lên, đã nắm gọn ba mủi tụ tiễn vào tay, tiếp theo đấy là một thế Ngũ Hổ Bảo Đầu (cọp đói ôm đầu) , rướn mình nhãy vù tới, quyền bên trái bay lên "bụp ! bụp !" hai tiếng, chiếc sọ dừa của Hắc Hổ nát ngướu thành một đống đậu hũ lầy nhầy, người y ngã vật ra đất.
    Đoàn Lão Hoàng Gia thấy con mình cùng hai tên dũng sĩ hùm beo kia, quây quần nhau kịch liệt, người ông run rẩy như đang ở ngoài cơn gió tuyết, đến lúc thấy Đoàn Cẩm thần dũng vô song một quyền hai cước đã giết chết hai tên tâm phúc thị vệ của nghịch thần một cách dễ dàng không khỏi lòng gìa hớn hở.
    Lão Hoàng Gia quên hẳn mình đang trong chỗ lãnh cung, lớn tiếng khen ngợi :
    - Chết đáng lắm !
    Đoàn Cẩm một chân lại bay lên đá hết hai xác chết vào một xó, vừa định lớn tiếng trả lời với Phụ vương, chợt nghe bên ngoài có tiếng chân bước lên gạch sỏi rào rào, từ xa đến gần.
    Đoàn Cẩm liền hiểu ngay là lúc nãy mình triệt hạ hai tên thị vệ, vì tiếng vọng quá to đã náo động đến đám thị vệ bên ngoài.
    Chàng liền quay lại nói với phụ vương :
    - Phụ hoàng yên tâm ! Thần nhi bảo hộ phụ hoàng xông ra khỏi cấm cung.
    Đoàn Lão Hoàng Gia run phát rét đáp :
    - Vương nhi, làm sao được bây giờ trong cung cấm có trên mấy ngàn Ngự Lâm Quân đều là tâm phúc của Hoàng thúc con cả.
    Đoàn Cẩm nghiến răng đáp :
    - Mặc kệ mấy ngàn người, cha con ta chạy được tới đâu hay tới đó, ở đây cũng chết mà thôi !
    Nói chưa dứt lời bên ngoài cửa tịnh cũng có tiếng gọi to :
    - Lão Long, lão Hổ đâu rồi ! Công việc xong xuôi chưa, giết chết được lão gìa đáng ghét ấy chăng ?
    Đoàn Cẩm lặng lẽ thổi phụt ngọn đèn trong cung, tay trái kẹp lấy cha gìa tay phải dựng hai xác chết dậy.
    Vù vù hai chưởng, hai xác chết tựa như mọc chân, lao vút ra ngoài song cửa.
    Bọn thị vệ bên ngoài xao động, hét tướng lên :
    - Úy sao hai người đều chết cả rồi ! Bên trong có gian tế ! Anh em đâu, vào bắt gian tế cho mau !
    Đoàn Cẩm quơ lấy một ghế bằng cây giáng thương, nhắm ngay nơi có tiếng nói thẳng tay vụt mạnh ra cửa sổ, tức thì "bộp ! bộp !" liên tiếp hai tiếng, hai thị vệ trong bọn bị trúng phải té ngữa trên đất, bọn thị vệ còn lại la hét náo động vang dậy cả lên.
    Đoàn Cẩm cười lên một tràng dài, rồi cõng xốc Lão Hoàng Gia phi thân ra ngoài.
    Chàng vừa xông ra khỏi tịnh cung liền thấy mười mấy tên võ sĩ tay lăm lăm khí giới từ phía cửa chạy ùa vào, bọn chúng nhìn thấy Thái tử Đoàn Cẩm đều không khỏi sững người ngạc nhiên vô cùng.
    Đoàn Cẩm bình tĩnh đặt cha gìa xuống đất, đoạn hét lên một tiếng cực lớn và dùng chiến pháp Không Thủ Nhập Bách Nhẫn (tay không vào trăm đao) xông vào đám đông, chỉ không đầy ba, bốn hiệp đã đoạt được hai món khí giới cầm trên tay tới lui ngang dọc, chém phải tạt trái đánh thôi bọn võ sĩ ngã lăn chiêng lăn cù, kêu khổ liên miên, mạnh tên nào tên nấy ôm đầu lủi như chuột, về báo với đầu lảnh Ngự Lâm Quân của chúng.
    Đoàn Cẩm thấy đám võ sĩ thua chạy vắt giò lên cổ, đắc ý cười vang ha hả.
    Đoàn Lão Hoàng Gia không ngờ con mình lại thần dũng hơn người như thế, mừng lo lẫn lộn, không khỏi bừng lên hy vọng sống còn, cất giọng run run hỏi :
    - Cẩm nhi, con nhắm có thể thoát ra ngoài không !
    Đoàn Cẩm ứng tiếng đáp :
    - Tâu Phụ vương, có gì chẳng được, bọn võ sĩ này đối với con chỉ là đồ bị thịt mà thôi.
    Tuy bên ngoài chàng nói cứng như thế để an ủi cha già, chớ thật sự trong lòng lo âu khôn cùng, vì Đoàn Cẩm dư hiểu trong cũng có trên mấy ngàn Ngự Lâm Quân và vệ sĩ, một mình tất nhiên là không sợ, nhưng còn phải bảo vệ cả Phụ vương, đánh giết để thoát ra khỏi hang hùm, thật là đáng ngại vô cùng.
    Nếu đối phương dùng cung tên loạn xạ, thì tánh mạng của cha gìa kể như kết liễu chẳng còn.
    Chàng vừa kẹp Lão Hoàng Gia chạy được vài bước thì bốn phía sáng rỡ như ban ngày.
    Bọn Ngự Lâm Quân và võ sĩ đã ùn ùn kéo đến, hét hò vang trời :
    - Đừng để thích khách trốn khỏi !
    Đoàn Cẩm thấy tình thế như vậy biết khó mà đột phá khỏi vòng vây, tầm mắt chàng chợt nhìn thấy, nơi xa xa về phía trái độ vài trượng ngoài, sừng sững một tòa Vọng Tinh Đài.
    Tòa đài vọng sao ấy xây bằng đá cẩm thạch, trên đài có một sân đá rộng độ hai thước vuông, châu vi có một hàng lan can ước hai thước cao, sơn đỏ, đài cao độ hai trượng, chỉ có một hàng bực thềm bằng đá duy nhất thông lên trên đỉnh đài, nóc đài trống trải lộ thiên, bên trên để ba bốn chục đỉnh bằng đồng nặng ba bốn trăm cân gì đó, là nơi để quan Khâm Thiên Giám quan sát tinh tú, hầu đoán vận mệnh nước nhà. Đoàn Cẩm nhìn thấy tòa vọng sao xây bằng đá nọ, liền nảy sinh một chủ định. Chàng kẹp Đoàn Lão Hoàng Gia vào người, chạy bay đến dưới chân đài, tung mình nhãy phóc lên đỉnh đài nhẹ như tàu lá rơi.
    Lúc ấy đó có vài mươi tên Ngự Lâm Quân xông vào vườn hoa rồi, chúng nhìn thấy một gã thiếu niên, kẹp nách Hoàng Đế nhãy vụt lên đài vọng tinh, liền thét vang lên, cử động binh khí ùn ùn kéo đến dưới đài, định theo bực thềm đá xông lên.
    Nào ngờ Đoàn Cẩm đã sẵn định ý, lựa một chiếc đỉnh lớn nhất đỉnh đài, vận thần lực bê gần đến bên lan can, nhầm ngay bậc đá đẩy mạnh xuống, tức thì "ầm ! ầm !" như tiếng nói lở, mười mấy tên võ sĩ xông lên trước nhất, không kịp trở xuống, hứng trọn chiếc đỉnh như ngọn núi Thôi Sơn từ trên lăn ào xuống, tông vào người đè phải ruột bể bụng, chết lểnh nghểnh trên mặt đất.
    Phương pháp xô đỉnh đè người của chàng quả nhiên có hiệu nghiệm, bao nhiêu Ngự Lâm Quân còn lại nhãy cỡn lên, không tên nào dám bén mãng tới gần nữa.
    Đoàn Cẩm lại bê chiếc đỉnh thứ hai để bên lan can, đoạn lớn tiếng gọi :
    - Bọn chúng bây nghe đây, ta là Thế tử Đoàn Cẩm, vì Hoàng thúc chuyên quyền khiến triều đình đầy tràn gian thần tặc đảng, sanh linh đồ thán khôn cùng, nên ta phụng lệnh ân sư Ngọc Động Chân Nhân trở về thăm viếng Phụ hoàng, cùng giải cứu bá tánh Nam Chiến Quốc khỏi cảnh điêu linh, bọn ngươi sao chẳng hiểu lẽ trời còn giúp kẻ gian làm quấy thế !
    Lúc ấy bọn vệ sĩ trong cung đã nhìn thấy rõ mặt mày của Đoàn Cẩm, tên nào cũng ngần ngại chẳng dám tiến lên, vì thần dũng của Đoàn Cẩm đã vang đồn khắp toàn quốc đều biết, nội sự nhấc bổng chiếc đỉnh nặng ba bốn trăm cân thảy trở xuống một cách nhẹ nhàng vừa rồi cũng đủ chứng minh lời đồn đại từ bao lâu nay rồi. Tuy bọn chúng kéo đến đông nghẹt đến mấy trăm tên nhưng chỉ đứng nhìn chứ chẳng có tên nào dám đối thủ nữa.
    Trong lúc đó thì Đoàn Tấn cũng tiếp được tin của vệ sĩ trong cung báo cáo Thái tử Đoàn Cẩm đã trở về, y giật bắn cả mình mẩy vội kéo Thế tử Đoàn Chiêu cùng hơn một ngàn tên Ngự Lâm Quân, ngoài ra còn có trên ba trăm tay cung thủ, kéo vội đến Vọng Tinh Đài.
    Đầu tiên y ra lệnh cho đoàn Ngự Lâm Quân và đội cung thủ bao vây cẩn mật xung quanh đài, đoạn vênh váo đi đến bên Vọng Tinh Đài lớn tiếng gọi :
    - Ai là điệt nhi Đoàn Cẩm, hãy ra đây nói chuyện.
    Đoàn Lão Hoàng Gia nghe tiếng Đoàn Tấn giận đến răng nghiến ken két , vội gọi con :
    - Cẩm nhi, thằng gian thần ấy đó đến rồi kia !
    Đoàn Cẩm an ủi cha gìa :
    - Phụ vương đừng vội , Phụ vương hãy núp kín sau chiếc đỉnh đồng, để con ra đối chất với tên gian tặc
    Nói đoạn chàng từ phía sau lan can đứng dậy.
    Vừa mới lú mặt ra ngoài thì có tiếng xé gió "vút vút !" một loạt tên từ phía dưới loạn xạ vào hướng trước mặt.
    Đoàn Cẩm không chút sợ, ngang nhiên đứng sững trên đài, hai mươi mấy mũi tên rít trong không khí lao đến vun vút tha hồ trúng vào mặt vào người hay tứ chi.
    Đoàn Cẩm như chẳng hay biết, bao nhiêu mũi tên vừa chạm đến thân thể chàng đều tự dưng rơi lả tả xuống đất, dường như bắn trúng vào bức tường bằng đá hay sắt vậy.
    Đoàn Cẩm vẫn vô sự như không, bọn cung thủ không khỏi kinh hỏi sững sốt quên cả buông cung.
    Khi ấy, Đoàn Cẩm mới quát mắng oai nghiêm chỉ ngay Đoàn Tấn và quát lớn :
    - Ngươi như vậy mà xứng đáng làm chú ta sao, mở miệng kêu ta bằng cháu mà chẳng thẹn ư ? Ta chẳng qua theo sư phụ vân du giang hồ thế thôi, ngươi lại nỡ đem Phụ vương ta giam vào lãnh cung, đêm nay lại còn sai người đem độc tửu đến thuốc chết phụ thân ta ! Ngươi quả là một tên táng tận cả thiên lương !
    Đoàn Tấn bừng bừng nổi giận, nạt lại :
    - Ta sai người đến thuốc chết cha mi hồi nào ? Rõ ràng là ngậm máu phun người, mi đi suốt bảy tám năm trời chẳng trở về, nước nhà không thể một ngày vô chủ, tất nhiên phải lập Thế tử khác, mi khuya khoắt nửa đêm trà trộn vào cung ép bức
    Thánh thượng tội ác tày trời, bay đâu, túm cổ tên súc sinh ấy cho ta !
    Đoàn Tấn vừa ra lệnh, mấy trăm tên Ngự Lâm Quân và vệ sĩ trong cung, đồng cử động đao thương ồ ạt tiến lên Vọng Tinh Đài.
    Nhưng vì Vọng Tinh Đài cao trên hai trượng, mà trong bọn chẳng có tên nào biết thuật khinh công, chỉ nương theo bậc gạch mà tiến lên xung sát.
    Đoàn Cẩm gầm lên một tiếng cực lớn phi thân nhãy qua khỏi lan can, đáp nhẹ trên nửa đoạn bậc thang lên đài.
    Hai tên Ngự Lâm Quân xông tới, Đoàn Cẩm đã nện cho mỗi gã một thoi, đánh rơi lông lốc trở xuống như trái dừa khô.
    Bốn tên khác lại ào một lượt leo lên tấn công.
    Đoàn Cẩm dùng Tảo Đường Thối một quét một móc, cả bốn tên cùng một lượt nhào trở xuống như đá bưng núi lở, liên tiếp mấy loạt xung quanh phòng của đoàn quân Ngự Lâm Quân tấn công lên đều bị Đoàn Cẩm trổ thần uy, chân quét tay đấm hoặc chộp gảy quăng nhầu.
    Trong khoảnh khắc trên bảy tám mươi tên vệ sĩ đều bị chàng khi đấm, khi ném nhào trở xuống, té thôi gảy chân lọi tay bể đầu dập mặt rên khóc như ri.
    Kỳ dư bao nhiêu vệ sĩ còn lại, thấy trên bực đá, nằm ngổn ngang những đồng bọn bị thương lăn lộn rên la, không khỏi ruột gan lạnh ngắt, chỉ đứng xa xa hò hét để hư trương thanh thế chứ chẳng dám tiến lên nữa.
    Đoàn Tấn không ngờ Đoàn Cẩm sức mạnh như thế, mà Vọng Tinh Đài toàn bằng đá, muốn phóng hỏa cũng không được, bọn vệ sĩ lại không phải là đối thủ của Đoàn Cẩm.
    Đang lúc giận chỉ hét như sấm, thì Thế tử Đoàn Chiêu bỗng nghĩ được một quỷ kế liền kề tai nói nhỏ với cha.
    Đoàn Tấn đổi giận làm vui mừng gật đầu lia lịa, lập tức quay sang dặn dò mấy tên vệ sĩ bên cạnh đến Chiêu Dương cung cứ y theo kế hoạch mà thi hành.
    Đoạn ngẫng đầu lên gọi lớn Đoàn Cẩm.
    - Súc sinh, hãy bớt hung hăng, ta đã sai người đi bắt mẫu hậu của mi, trói trước đài nếu mi chẳng bó tay chịu trói, ta sẽ giết mẹ của mi trước làm gương.
    Thủ đoạn bức chế ấy thật vô cùng lang độc.
    Đoàn Cẩm vừa nghe không khỏi giật mình, mồ hôi ướt đẫm cả vầng trán.
    Đoàn Lão Hoàng Gia núp sau chiếc đỉnh đồng cũng lạc giọng kêu lên :
    - Chết mất con ơi ! Tên gian tặc định hại mẫu hậu của con nữa đấy .
    Đoàn Cẩm lòng như lửa đốt, ruột gan rối bời, chàng chợt nhìn thấy con của Đoàn Tấn là Đoàn Chiêu đang đứng ở phía hữu của Vọng Tinh Đài, cách chỗ chàng đứng không đầy mười trượng.
    Đoàn Cẩm sực nghĩ được một kế, chàng bèn nhãy vút trở lên đài, nhấc bổng chiếc đỉnh đồng ba bốn trăm cân kia lên, rồi cả người lẫn đỉnh, tung mình từ trên bực đá nhãy xẹt vào giữa đám đông, hét lên một tiếng rúng động cả cung điện, hai tay vung mạnh lao mạnh chiếc đỉnh nặng nề vào giữa đoàn Ngự Lâm Quân.
    Bọn binh sĩ thấy chiếc đỉnh hơn bốn thước bề cao từ trên không úp chụp trở xuống đầu, bọn chúng sợ đến phân tiểu xón cả trong quần, kêu thét hải hùng chạy tán loạn khắp bốn phía.
    Đoàn Cẩm thừa lúc bọn chúng thi nhau lủi đầu chạy như bầy chuột, đột nhiên, dùng thân tháp Thanh Đình Sao Thủy (chuồn chuồn xớt nước) lướt tới trước mặt Đoàn Chiêu.
    Đoàn Chiêu trong lúc dương dương đắc ý đứng bên cạnh mấy tên giáp sĩ của mình, không ngờ Đoàn Cẩm dùng kế thanh Đông kích Tây nhãy đến trước mặt mình không khỏi tay chân luống cuống, chưa kịp mở miệng la lên thỡ lẹ như chớp đó cảm thấy cánh tay của mình bị Đoàn Cẩm khóa chặt. Vừa muốn vùng vẫy kêu cứu, Đoàn Cẩm đã sức mạnh như cọp xoay mình gọn gàng, nhấc thân hình Đoàn Chiêu giơ cao lên và hét vang :
    - Tên nào muốn chết thì cứ việc tiến lên !
    Bọn vố sĩ đều hốt hoảng vẹt sang hai phía.
    Đoàn Cẩm cười nhạt một tiếng, kẹp Đoàn Chiêu vào nách rồi ngang nhiên lớn bước đi thẳng trở lại Vọng Tinh Đài.
    Đoàn Tấn không sao ngờ được Đoàn Cẩm bắt cóc Đoàn Chiêu để khống chế mình, vừa thẹn vừa giận, hy vọng bắt Tiêu Hoàng hậu đem ra để làm cái bung xung buộc Đoàn Cẩm phải bó tay đầu hàng chẳng dè con mình quá khù khờ để cho Đoàn Cẩm túm cổ một cách dễ dàng, hai bên đều trở thành trong thế kẹt, ném chuột sợ vỡ đồ.
    Đoàn Tấn tức tối như thể lửa nung gan phổi , đang lúc dậm chân chắt lưỡi hít hà, thì vệ sĩ đã đưa Tiêu Hoàng Hậu đến nơi.
    Hoàng Hậu áo quần xốc xếch, tóc tai rối bời, gọi lên liền miệng :
    - Con ta đâu rồi ? Con ta đâu rồi ?
    Đoàn Tấn thấy bộ dạng Tiêu Hoàng Hậu tiều tụy như thế, trong đầu liền loé lên một tia sáng lớn tiếng gọi :
    - Súc sinh, mi đừng tưởng bắt được con ta là dọa nạt được ta đâu. Ta có tất cả bảy người con, dù cho mi có giết chết Chiêu nhi, ta cũng còn lại sáu đứa, mà mi thì chỉ có một người mẹ duy nhất. Ta giết mẹ mi chết, mi sẽ ân hận suốt đời, mi thử nghĩ xem ai lời hơn ai ?
    Đoàn Cẩm bắt Đoàn Chiêu lên Vọng Tinh Đài, trói quặt hai tay ra sau, để nằm dưới đất nhưng khi nhìn thấy một từ mẫu sau sáu năm trời cách biệt, hình dung vàng võ tiều tụy, bị mấy mươi tên vệ sĩ hùng hổ như lang sói giữ chặt và dẫn đến bên đài.
    Đoàn Cẩm không khỏi vùng lên thiên tính mẫu tử thâm tình, chàng ngẫng đầu lên trời than dài .
    - Thôi rồi, thôi rồi, ta làm liên lụy cả mẹ hiền của ta .
    Than chưa dứt lời từ trong Ngự Lâm Quân vừa kéo đến. Nhảy vút ra hai cái bóng người một tăng một đạo, chính là hai gã Thạch La Hán và Thiết Phất Đạo Nhân, hai tên hộ trợ ở đắc lực nhất của Hoàng thúc Đoàn Tấn.
    Một trong hai người cất tiếng hét vang :
    - Bọn vô tài vô dụng này, có mau cút ngay không để cho anh em ta túm cổ thẳng tiểu tử kia xem nó có bao nhiêu bản lãnh, xứng đáng đối phó với thủ đoạn của Hộ Quốc Thiền sư ta cùng Tử Quang đạo hữu chăng ?
    Nói đoạn Thạch La Hán gầm lên một tiếng để thị uy rồi hươi cây Thiết Thiền Trượng xông thẳng lên đài tấn công.
    Thiết Phất Đạo Nhân cũng vũ lộng phất trần theo sát chân gã thầy chùa tiến lên.
    Đoàn Cẩm thấy bộ pháp hai người như bay, biết rõ là hai tên kình địch, mẹ của chàng hiện giờ lọt vào tay gian thần khó thể tùy tiện làm hại con y là Đoàn Chiêu được.
    Chàng chẳng chút chậm trễ nhấc bổng chiếc đỉnh thứ ba trên Vọng Tinh Đài đứng áng ngay bực đá.
    Thạch La Hán dẫn đầu nhãy vút lên múa tít cây thiền trượng theo thế Thanh Long Bái Vĩ (rồng xanh quẫy đuôi), quét vút vào hạ tam bộ của đối phương.
    Đoàn Cẩm vội dựng chiếc đỉnh đồng hất trở lại, "cong !" một tiếng chát chúa, hai món binh khí nặng chạm nhau, sao lửa văng đầy trời.
    Thạch La Hán cảm thấy hai tay tê rần.
    Đoàn Cẩm cũng không tránh khỏi hổ khẩu tay đau buốt như kim châm.
    Đoàn Cẩm nổi xung quát to một tiếng hai tay nắm chặt hai chân đỉnh, chàng dựng chiếc đỉnh đồng mấy trăm cân kia sử dụng như tấm thuẫn bài, tấn công đối phương theo thế Vân Đoạn Tọa Sơn (mây vút núi nằm) trong pho Bát Quái Hỗn Nguyên Bài, quét mạnh ngang hông đối phương.
    Thạch La Hán thấy chàng tuổi còn nhỏ nhưng mà vũ lộng chiếc đỉnh như gió thì không khỏi kinh hồn.
    Cây thiết thiền trượng hất trở lên theo chiêu Tiềm Long Xuyên Tháp (rồng lặng qua tháp) gõ mạnh vào bụng đỉnh đồng đón lại , "kinh" "coong" hai tiếng ngân lên chát cả màng tai, thiền trượng và đỉnh đồng lại tông thẳng vào nhau, lửa sao lại bắn tung toé khắp bốn phía.
    Đoàn Cẩm càng đánh càng hăng, vung chiếc đỉnh đồng nghe vù vù trong không khí, bổ thẳng xuống đỉnh đầu kẻ địch.
    Thạch La Hán hai lần đở chiếc đỉnh, hai tay đã chấn động đến tê rần không sao dám đở nữa, nên vội dùng chân pháp Dao Từ Phân Thân (chiếc diều lật mình), từ trên bực đá uốn lưng nhãy vút xuống dưới.
    Đoàn Cẩm đang định thừa thắng truy kích, thì Thiết Phất Đạo Nhân đã từ một gốc khác phi thân bay vút lên đài, hung hăng nhãy đến bên Đoàn Lão Hoàng Gia đang ẩn núp.
    Đoàn Cẩm cả kinh, sợ Thiết Phất Đạo Nhân làm hại cha mình, sốt ruột gầm lên một tiếng như cọp, cả người lẫn đỉnh quay phắt trở lại đứng che mình trước mặt Đoàn Lão Hoàng Gia.
    Thiết Phất Đạo Nhân định bụng dùng ngọn phất trần sắt đập bể sọ Đoàn Lão Hoàng Gia giúp Hoàng thúc Đoàn Tấn trừ trước hậu họa, sau đấy sẽ giúp tay Thạch La Hán vây đánh Đoàn Cẩm.
    Chẳng dè Đoàn Cẩm đánh thục mạng mấy thế đỉnh khiến Thạch La Hán phải thối lui trở xuống, rồi lẹ như chớp nhãy trở lại che chở cho cha.
    Thiết Phất Đạo Nhân thầm khiếp phục tài nghệ cao cường của đối phương, xỉa mạnh cây phất trần sắt ra trước quát lớn :
    - Tiểu tử muốn chết !
    Ngọn phất trần như một làn điện xẹt lao nhanh vào Kỳ Môn huyệt nơi trước ngực chàng.
    Đoàn Cẩm nghiêng người tránh qua một bên , chiếc đỉnh trên tay đồng thời quét mạnh trở ra phản kích lại.
    Nhưng chiêu số của cây phất trần trên tay Thiết Phất Đạo Nhân lanh lẹ quái dị vô cùng lại lẹ làng thoăn thoắt , thoạt tới thoạt lui, như cheo như vượn, ngọn phất trần trong khoảnh khắc tấn công ra bảy chiêu liên tiếp, điểm, chọt vào bảy nơi huyệt đạo ở trung và thượng bàn của Đoàn Cẩm.
    Đoàn Cẩm vì chiếc đỉnh quá nặng nên xoay trở có phần chậm chạp , so bì với loại khí giới điểm huyệt có phần thất thế hơn nên liền gầm lên một tiếng như cọp, ném ngay chiếc đỉnh đồng xuống đất đánh "sầm" một tiếng, dùng hai tay quyền để chống đở với ngọn phất trần lợi hại của địch thủ.
    Hai người nhãy tới tràn lui, lúc công lúc thủ loang loáng như điện chớp sao giăng, khoảnh khắc đã giao đấu nhau trên mười hiệp.
    Thạch La Hán trong khi ấy kéo rốc đại đội Ngự Lâm Quân xông lên đài Vọng Tinh .
    Đoàn Cẩm vì bận cầm cự với Thiết Phất Đạo Nhân vô phương bảo hộ cha già, chàng thầm than trong lòng :
    - Không xong ! Hết cả rồi !
    Trong lúc chàng định bó tay chịu hàng để khỏi liên hại đến cha mình, thì trên nửa chừng không vọng lại một tiếng hú lảnh lót vang rền, rồi một bóng vàng thoáng chẳng biết từ hướng nào đáp xuống.
    Một vị áo vàng chỉ vung tay một chiêu đã dở hỏng Thạch La Hán lên khỏi mặt đất, rồi ném cả người lẫn trượng bay tuốt xuống dưới đài
    Sự xuất hiện đột ngột ấy khiến mọi người kinh hãi không ít.
    Đoàn Cẩm định thần nhìn kỹ, trong bụng mừng thầm, té ra người áo vàng không ai khác hơn là vị thư sinh trung niên mà chàng đã gặp trên Điểm Thương Sơn lúc ban chiều, và chờ trong lúc chàng đang trong cảnh thập phần nguy hiểm đột ngột hiện ra trợ giúp.
    Đoàn Cẩm phấn khởi trong lòng, gọi lớn :
    - Nhơn huynh, mau giúp tiểu đệ bảo hộ gia nghiêm.
    Chưa kịp dứt lời thì vị thư sinh áo vàng ấy đã tóm thêm bảy tám tên thị vệ ném lăn quay xuống bực thềm đá, thủ pháp nhanh nhẹ , quả là một tay cao thủ tài nghệ tuyệt vời.
    Kỳ dư bao nhiêu vệ sĩ còn lại đều kinh hồn thất đảm ùn ùn vừa lăn vừa bõ chạy nhào trở xuống đất để thoát thân.
    Vị thư sinh áo vàng lúc ấy mới ngẫng đầu bảo Đoàn Cẩm :
    - Này ! Tên mũi trâu cầm phất trần sắt kia để tôi đối phó cho, các hạ yên tâm xuống đài làm cỏ đám phản loạn kia đi.
    Đoàn Cẩm gật đầu tràn mình về một phía.
    Thư sinh áo vàng với hai bàn tay không vun vút trái phải hai bên, không đầy ba bốn hiệp, Thiết Phất Đạo Nhân đã thối lui lia lịa ra sau.
    Đoàn Cẩm mừng rỡ trong lòng, biết mình đã may mắn được một tay trợ giúp đắc lực chuyển đổi cả thế cuộc, nên thừa cơ xuống đài cứu mẹ.
    Nghĩ rồi chàng nhấc bổng chiếc đỉnh đồng nhún chân nhãy xuống dưới đài, lần này chàng không còn e ngại gì nữa, tung mình lướt đến bên Đoàn Tấn xông sát.
    Đoàn Tấn hết sức kinh hãi.
    Thạch La Hán vội vung cây thiền trượng lướt tới đón lại nạt to :
    - Tiểu tử, mi muốn mẹ mi sống hay là chết ?
    Đoàn Cẩm gầm lên như điên, đáp :
    - Tên gian vương, nếu giết chết mẹ ta, Đoàn Cẩm này sẽ nghiền nát người nó ra trăm ngàn mảnh vụn để đền mạng cho mẹ ta, thằng giặc trọc chó chết nhà mi, dám trợ Trụ làm ác khó mà thoát khỏi cái chết.
    Tiếng nói vừa dứt, chiếc đỉnh đồng trên tay Đoàn Cẩm cũng bổ xuống chiếc đầu trọc phếu của y.
    Thạch La Hán tuy lúc nãy bị vị thư sinh áo vàng ném lộn mèo xuống đài nhưng vì y có tên là Thạch La Hán da thịt cứng như sắt nguội nên dù bị ném xuống rất mạnh cũng chẳng làm y bị thương được.
    Y gầm một tiếng thật lớn múa tít cây thiền trượng theo thế Phong Ma Trượng, bóng trượng chập chờn bốn phương tám hướng áp được vây chặt Đoàn Cẩm vào giữa.
    Đoàn Cẩm vẫn không nao núng, vung chiếc đỉnh đồng ba chân, rít gió nghe ào ào như cuồng phong bão tố, sử dụng một lối đánh lạ kỳ cả người lẫn đỉnh quyện thành một khối loanh quanh khi tới lúc lui như trò múa rối, xông bên Đông gạt bên Tây không đầy hai mươi thế đỉnh đã khiến Thạch La Hán từng bước, từng bước nhãy lui ra sau không kịp thở.
    Đang lúc đấu nhau mùi mẫn trên đài bổng có tiếng thét lên rùng rợn, rồi có một bóng người lao vụt xuống như mũi tên.
    Đoàn Cẩm trong cơn bất ngờ, giật nẩy mình vội hoành đỉnh đề phòng, đến lúc định thần nhìn kỹ, thì kẻ lao xuống chính là Thiết Phất Đạo Nhân, đỉnh đầu bị thủng một lỗ lớn, chất óc lẫn máu tươi phọt ra cả bên ngoài văng đầy cả mặt đất.
    Đoàn Cẩm càng cảm thấy tinh thần phấn chấn thập phần.
    Gã Thiết Phất Đạo Nhân vốn là một cao thủ trong phái Không Động. Ngọn phất trần, chiêu số biến hóa kỳ ảo dị thường có thể như Ngũ Hành Kiếm Thuật xung kích, lại có thể như phán quan bút đâm điểm tấn công vào các yếu huyệt đối phương, nếu luận về võ công thì y cao hơn Thạch La Hán gấp mấy lần, vốn ra không thể đại bại đến vong mạng một cách mau chóng như thế, nhưng vì hôm nay y gặp phải thư sinh áo vàng là một bậc kỳ nhân cái thế, bàn lãnh của chàng cao diệu không sao tưởng tượng nổi.
    Khi chàng vừa ra tay giao đấu với Thiết Phất Đạo Nhân đã sử dụng một pho chưởng pháp rất kỳ lạ, tà áo vàng thư sinh của chàng phất phới dịu dàng , người chàng như chẳng có xương cốt , mềm mại tựa bông gòn , luồn qua lộn lại, quay mòng mòng xung quanh Thiết Phất Đạo Nhân, hai chân bám chặt theo Cửu Cung Bát Quái thoăn thoắt bay tới đáp lui như hai cái chày máy giả gạo vậy .

    Pho quyền pháp của chàng nếu nói là Du Thân Bát Quái quyền thì không giống, mà liệt vào Cửu Cung Thần Hành chưởng cũng không phải nốt
    Thiết Phất Đạo Nhân cảm thấy trước mắt ảo loạn bóng người chập chờn sau trước, mường tượng như có trên mười bóng áo vàng quây tròn xung quanh mình như bánh xe gió, làm lão ta nhức đầu hoa mắt, đừng nói môn sở trường là Thiết Phất đả huyệt pháp không thể sử dụng ra được mà cho đến công phu gạt đở cũng chẳng có .
    Không đầy mười hiệp quần nhau, bả vai Thiết Phất Đạo Nhân đã liên tiếp trước sau lãnh trọn ba ngọn chưởng của đối phương.
    Nhờ công lực thâm hậu, nên nơi chỗ trúng chưởng chỉ cảm thấy đau buốt như đốt vậy thôi và nếu Thiết Phất Đạo Nhân biết rõ cơ tấn thối, lùi trở xuống đài thì hoặc may tánh mạng được bảo toàn.
    Chẳng ngờ lão ta bị phải mấy chưởng thẹn quá sinh khùng, một mặt vung tít ngọn phất trần bên tay hữu bảo vệ khắp châu thân, tay trái cũng loang loáng theo quyền thế Hắc Hổ của Không Động phái, chặt, chém, đở, gạt, phản kích với đối phương kịch liệt rồi bất thần, lảo đảo mạnh chiếc đuôi phất trần bắn ra một loạt kim vàng lóe mắt, bay vút vào đầu và mặt vị thư sinh áo vàng.
    Ám khí của Thiết Phất Đạo Nhân vừa sử dụng kia gọi là Kim Phong Thần Châm, mũi châm nhỏ như lông trâu dấu trong cán phất trần bên trong có lò xo, lúc dùng chỉ cần bấm nhẹ lưỡi gà đảo lẹ cán phất trần trở lại, ba mươi mủi thần châm sẽ đồng loạt bay ra, khít khao như mưa bất, bắn vút vào đầu mặt, cùng các huyệt đạo yếu hại của đối phương.
    Những mủi thần châm ấy được ngâm trong chất thuốc cực độc, mỗi khi trúng vào thân người lập tức ghim lút vào da thịt, mười hai giờ đồng hồ sau độc tố theo máu công lên quả tim, nạn nhân sẽ ngã ra chết không phương cứu chữa.
    Thản hoặc vừa trúng phải độc châm, kịp thời dùng nội công phong bế mạch đạo, ngoài ra uống thuốc giải độc, rồi dùng đá nam châm hút mủi kim độc ra thì may thoát chết nhưng cũng không tránh khỏi suốt đời tàn phế.
    Đấy là môn ám khí trấn sơn của phái Không Động, có danh là lang độc. Thiết Phất Đạo Nhân cũng ít khi dám khinh xuất đem ra dùng nhưng vì liên tiếp bị trúng phát mấy chưởng, khí vận bừng lên, bèn xuất kỳ bất ý bắn kim phong thần châm ra, định dồn đối phương vào tử địa để kết thúc trận đấu.
    Nào ngờ kiến thức của vị thư sinh áo vàng rất quảng bác, vừa thấy từ cán phất trần của đối phương vung lên, bay tản ra những làn ánh sáng lấp lánh, lập tức hiểu ngay đối phương sẽ dùng loại ám khí gì rồi, không khỏi nổi giận xung thiên chàng vội tung mình dùng thế Độc Hạc Xông Tiêu (chiếc hạ tung mây) nhấc người lên khỏi mặt đất trên hai trượng),
    tiếp theo đấy là một luồng chưởng phong cường mạnh đánh rơi tất cả những mủi độc châm rơi lả tả dưới đất, liền theo đấy, đạp chân vào khoảng không, uốn mình lượn thành nửa vòng tròn ở nửa lừng bay trở xuống, cánh tay trái bất thần vươn ra dài hơn một thước, chiếc bàn tay xòe ra như một thỏi sắt vỗ mạnh xuống đầu đối phương.
    Thiết Phất Đạo Nhân nhìn thấy thủ pháp và thân pháp của vị thư sinh áo vàng sực tỉnh ngộ thất thanh la ó :
    - Ôi cha ! Mi là môn hạ của Toàn Chân Giáo, đừng sử dụng Thôi Tâm chưởng pháp hai bần...
    Lời chưa kịp dứt liền "bụp !" một tiếng, đỉnh đầu đã trúng phải một chưởng của vị thư sinh áo vàng rồi.
    Thiết Phất Đạo Nhân cảm thấy khí huyết khắp châu thân, mường tượng như bị phải một luồng sức mạnh kỳ dị hút người trở lên đỉnh đầu đau đớn như dần, chưởng lực chưa trúng ngay mà sọ đầu đã nứt đôi, chất óc phọt ra ngoài, thét lên một tiếng hãi hùng rồi ngã vật xuống đất chết tốt.
    Vị thư sinh áo vàng chỉ khẽ cúi người đã chộp lấy chân phải của đối phương, vụt mạnh ra ngoài, chiếc xác to lớn phốp pháp như hũ rượu của đạo sĩ , bay vun vút như tên lìa giây cung rơi bắn vào đám đông.
    Thạch La Hán đang vũ lộng cây thiền trượng như mưa tuôn gió vờn, quần nhau với Đoàn Cẩm một mất một còn, chợt thấy thi hài của Thiết Phất Đạo Nhân từ trên Vọng Tinh Đài bay xẹt xuống, vừa giận vừa sợ.
    Gầm lên một tiếng dử dội, rồi bỗ nhào đến thí mạng với Đoàn Cẩm. Cây thiền trượng trên tay liên tiếp ra ba thế theo chiêu số Vân Long Tam Hiện (rồng trên mây hiện ba lần) quét sả vào hông đến nách rồi phạt trở xuống hai chân đối phương, nhanh như điện xẹt sao băng.
    Đoàn Cẩm trong cơn nguy cấp, sực nghĩ một mẹo, chàng ném mạnh đỉnh đồng vào đoàn người, hai cánh tay liên tiếp theo một giương một chộp "phịch !" một tiếng như tiếng trống.
    Đoàn Cẩm lãnh trọn nơi hông một ngọn thiền trượng của Thạch La Hán nhưng nhờ ở lớp vảy cứng mọc trên da, nên không bị thương tổn đến tạng phủ, tay chàng nhanh nhẹn đoạt lấy đầu trượng kéo mạnh một cái.
    Thạch La Hán cả người lẫn trượng, chúi nhủi vào lòng Đoàn Cẩm.
    Cũng khá khen thân pháp của Thạch La Hán khéo léo nhanh nhẹn, trong lúc gã chúi vào người Đoàn Cẩm, đã kịp thời vung ra một quyền đảo mạnh vào ngực Đoàn Cẩm kêu "bùng" một tiếng.
    Thế quyền của Thạch La Hán đánh ra sức mạnh đâu phải tầm thường, nhưng quả lạ kỳ .
    Đoàn Cẩm như kẻ vô sự ,vận thần lực gạt mạnh ra ngoài một cái, cây thiền trượng bằng sắt đúc lớn cở miệng chén bị chàng bẻ gảy làm đôi không chút phí sức.
    Thạch La Hán không ngờ Đoàn Cẩm có bản lãnh như thế, chịu đựng được một trượng lẫn một quyền của mình, mà người chàng vẫn chẳng bị chút tổn thương, thân hình chàng tựa như sắt đá chẳng bằng, đã thế còn bẽ gảy nổi thiền trượng của mình như trò chơi trẽ nít, không khỏi thất sắc kinh hãi đến đờ người.
    Đoàn Cẩm nhãy vút tới sát bên y và quát lớn :
    - Mi cũng nếm lại một trượng của ta !
    Miệng quát, nửa khúc thiền trượng cũng theo tay quét vòng dưới chân địch nhân.
    Thạch La Hán hốt hoảng tung người lên cao, chẳng dè Đoàn Cẩm dùng thế vừa rồi chỉ là thế hư, chờ cho gã trọc tung người nhãy lên, chàng bất thình lình vút ra một quyền đảo mạnh vào ngực gã theo thế Kim Cang Phục Hổ trong Kim Cang quyền pháp.
    Thạch La Hán vì còn chới với trên khoảng không, vô phương tràn tránh gì được, cậy vào thân hình mình dày công khổ luyện ngoại công, đao thương chẳng phạm được , thầm ước lượng có thể hứng nổi lấy ngọn quyền của chàng, nên trân mình
    chịu đòn.
    "Bình !" một tiếng khá to, ngọn quyền của Đoàn Cẩm đấm đúng vào ngực của đối phương, không chút sai lệch mà Kim Cang quyền pháp do sức thần của Đoàn Cẩm sử dụng có thể xuyên cây vỡ đá, thử hỏi thân hình bằng xương thịt gồng luyện khí công của Thạch La Hán làm sao chịu đựng nổi ?
    Y "hự !" lên một tiếng đau đớn, mửa phúng ra một ngụm máu tươi rồi ngã vật xuống đất tắt thở luôn, vì ngọn quyền vừa rồi của Đoàn Cẩm không những đánh gảy cả xương cốt nơi lồng ngực mà cho đến tim phổi của y cũng bị chấn bể nát nhừ trong lồng ngực .
    Đang lúc Thạch La Hán và Thiết Phất Đạo Nhân đấu nhau chí mạng với đối phương thì Đoàn Tấn đương run run phát rét một chỗ, nhưng hắn vốn là một tiểu nhân quen thói đê tiện thấy tình thế bất lợi nghiêng hẳn về phía mình, lòng sát nhân nổi dậy, lập tức xông tới trước mặt Tiêu Hoàng hậu. Tay trái túm lấy xiêm y nơi lưng ngực bà, tay phải rút phắt ra một ngọn đao sáng quắc, định thích phủng lồng ngực của Tiêu Hoàng hậu.
    Tiêu Hoàng hậu vốn là một khuê nữ nhu nhược yếu đuối, chẳng biết lúc ấy từ đâu dâng lên một luồng dũng khí, trừng mắt nhìn Đoàn Tấn quát lớn :
    - Quân vô lương phản chúa kia, ta là Hoàng hậu của Nam Chiến Quốc lại là chị dâu mi, mi giết ta thử xem !
    Đoàn Tấn bị sự chánh khí đảm lược của Tiêu Hoàng hậu làm y sờn lòng, ngọn dao găm trên tay từ từ buông xuôi trở xuống, quay đầu nhìn ra thấy Đoàn Cẩm tung hoành ngang dọc giữa đoàn Ngự Lâm Quân như vào chỗ không người.
    Đoàn Tấn như được khơi thêm lửa hận thù, giá đao lần thứ hai, định đâm chết Tiêu Hoàng hậu bỗng nghe trên Vọng Tinh Đài có tiếng quát sang sảng :
    - Ác tặc sát nhân kia, mi muốn tánh mạng con mi chết hay là sống ?
    Đoàn Tấn rùng mình kinh hãi, vội đảo mắt nhìn kỹ, thấy gã thư sinh áo vàng đang nhấc bổng Đoàn Chiêu lên cao, hầm hừ như muốn quăng xuống đất vậy.
    Vọng Tinh Đài lại cách mặt đất trên hai trượng cao, nếu Đoàn Chiêu bị ném xuống thì thịt xương gân cốt của đứa con trai y sẽ nát biến như xương ngay.
    Đoàn Tấn tuy tâm tính như sài lang, cũng không thể không xót thương tính mạng của con trai mình, nên y vội hét lên :
    - Khoan đã ! Đừng hại mạng con ta, ta bằng lòng trao đổi Tiêu Hoàng hậu trả lại cho bọn mi, để các ngươi an toàn rời khỏi Đại Lý thành.
    Ngờ đâu tiếng cuối cùng của y vừa dứt, thì vị thư sinh áo vàng liền hú lên một tiếng thánh thót, trong như tiếng hạc réo từng không xông tận chín từng mây thẳm, đoạn chàng từ trên đài kẹp theo Đoàn Chiêu vào nách tung mình đáp nhẹ xuống.
    Bọn Ngự Lâm Quân đồng la ó vang dậy, ùn ùn kéo đến bao vây chàng vào giữa.
    Chàng thư sinh áo vàng chẳng chút nao lòng, cười nhạt một tiếng, xông vào giữa đoàn người , tay trái vẫn kẹp Đoàn Chiêu nơi nách, tay phải quay tròn vun vút đánh ra một pho quyền pháp thật cổ quái, mà xưa nay chưa hề thấy qua, khi chưởng lúc lại chỉ, biến sang chộp rồi lại đổi thành quyền biến hóa không sao lường được, tay quyền chàng đến chỗ nào là Ngự Lâm Quân như đám say rượu ngã đổ lổm nhổm dưới đất, mà đã té trở xuống là không sao ngóc đầu bò dậy được, chỉ nửa khoảnh khắc đã có bảy tám mươi tên nằm chỏng gọng dưới đất, rống lên như bò.
    Đoàn Cẩm cất tiếng kêu gọi :
    - Gian thần đã đến nước đường cùng, bọn ngươi còn định trợ Trụ vi ác được sao ? Mau buông khí giới đầu hàng mới mong bảo toàn mạng sống.
    Bọn Ngự Lâm Quân tuy đều là tâm phúc của Đoàn Tấn nhưng phần đông cũng là vệ sĩ trong hoàng cung bị Đoàn Tấn lung lạc, đối với hành động hoán ngôi đoạt vị của Đoàn Tấn không mấy tán đồng, nhưng đứng trước thế lực như lang sói của quyền thần, chỉ đành nuốt hận mà phục tùng.
    Giờ đây thấy Đoàn Cẩm trở về, trong lòng đã rung động phần nào, lại thấy hai tên yêu đạo tay chân đắc lực nhất của Đoàn Tấn đã bị giết chết, nên khi nghe Đoàn Cẩm lên tiếng gọi, hơn nửa số trong đoàn liền vứt binh khí, thối lui sang một phía.
    Đoàn Tấn thấy thế lực của mình tan rả như băng tuyết trước nắng hè, trong cơn phẫn uất cực cùng điên tiết giơ cao ngọn thất thủ đao nhắm ngay ngực Tiêu Hoàng hậu nhắm mắt đâm nhầu.
    Đoàn Cẩm vì cách quá xa muốn lướt đến cứu cũng không sao kịp nữa, kinh hoảng thét to lên :
    - Ối cha !
    Giữa lúc cái chết của Tiêu Hoàng hậu chỉ còn cách nhau đường tơ kẽ tóc, ngọn đao quái ác sắp chạm lên da ngực của bà thì đột nhiên một tiếng keng vang lên, ngọn đao trên tay Đoàn Tấn tự dưng sút khỏi tay rơi "xoảng !" xuống mặt đất.
    Té ra, trong cơn thập phần nguy cấp ấy, vị thư sinh áo vàng thoắt bay mình lướt đến bên Đoàn Tấn, từ bàn tay chàng lẹ như chớp vung ra một vật bằng sắt bốn góc tròn dẹp như con cờ, lao ngay bạch môn nơi cánh cổ tay của Đoàn Tấn, tức thì y cảm thấy cánh tay cầm đao mềm nhũn ra, năm ngón tay rụng rời lưỡi dao rơi xuống đất.
    Động tác của vị thư sinh áo vàng nhẹ như tia điện không bằng, con cờ ném ra vừa đánh rơi xong khí giới trên tay gian thần, liền ném ngay Đoàn Chiêu rơi xuống đất, tiếp theo đấy đã lướt nhanh ra phía trước chộp cứng cổ tay Đoàn Tấn miệng cũng đồng thời hét to :
    - Nằm xuống !
    Tiếng quát vừa dứt, thân hình của Đoàn Tấn cũng vừa té "bộp !" trên mặt đất.
    Vị thư sinh áo vàng cũng chàng chút chậm trễ, một chân đạp lên ngực, khiến y không sao vùng vẫy được.
    Mười mấy tên võ sĩ giữ Tiêu Hoàng Hậu thấy Đoàn Tấn té xuống đất, bèn ba chân bốn cẳng chạy tản ra bốn phía.
    Thế tử Đoàn Chiêu tuy được vị thư sinh áo vàng bỏ nằm dưới đất, nhưng huyệt đạo đã bị chàng điểm phải chỉ trơ mắt nằm thẳng cẳng một chỗ chẳng có ma nào dám léo hánh đến trợ giúp cả.
    Đoàn Cẩm chạy nhoài đến nơi ôm chặt lấy mẫu thân, cảm động đến nói chẳng thành lời.
    Vị khách áo vàng bèn quay lại quát tháo bọn vệ sĩ :
    - Hoàng thượng hiện ở trên Vọng Tinh Đài, bọn bây chẳng mau đến thĩnh người xuống đoái công chuộc tội, còn đợi lúc nào nữa ?
    Lời nói của chàng cũng vừa phải lúc, vì khi ấy Đoàn Lão Hoàng Gia đã từ sau lan can Vọng Tinh Đài lững thững bước ra, đám Ngự Lâm Quân cùng thị vệ vội vã quỳ xuống phủ phục tung hố vạn tuế vang trời .
    Đoàn Lão Hoàng Gia thấy đại loạn đã được bình định, vợ chồng ông chẳng hề hấn gì, cha con gian thần đã bị bắt sống, bao nhiêu Ngự Lâm Quân,
    vệ sĩ trong cung đều cải tà quy chánh mới yên lòng chậm rãi xuống đài .
    Đoàn Cẩm đầu tiên quát nạt tả hữu quân sĩ trói chặt cha con Đoàn Tấn lại, sau đấy mới cắt đặt một số Ngự Lâm Quân tiền hô hậu ủng Đoàn Lão Hoàng Gia, rầm rộ hớn hở mở rộng Kim Loan Điện.
    Thái tử Đoàn Cẩm đã trở về người người tung hô như sấm động. Một số tâm phúc của gian thần thấy tình hình trước mắt, cũng liệu theo chiều gió, rập đầu phụ họa tung hô lớn hơn ai cả.
    Đoàn Lão Hoàng Gia ngồi chễm chệ trên ngai vàng tuyên bố tất cả tội trạng chất chứa từ mấy năm nay của Đoàn Tấn cùng sự việc trong đêm định dùng độc tửu thí vua, đoạn hạ chiếu chỉ dắt cha con Đoàn Tấn ra khỏi ngọ môn, lăng trì xử tử gia tộc lớn nhỏ đều bị phát vãng vào núi sâu làm khổ dịch.
    Nhân dân bá tính trong nước nghe Đoàn Cẩm trở về phục quốc, quét sạch gian thần, nhà nhà đều mừng rỡ, mở tiệc khánh hạ hết sức ngợi khen tài đức của Thái tử họ Đoàn.
    Đoàn Cẩm sau khi bình định được nội loạn, thầm cảm kích ơn trọng của vị khách áo vàng, nếu chẳng có chàng giúp đở thì tính mạng cha mẹ của chàng đều bỏ thây nơi tay độc ác của Thạch La Hán và Thiết Phất Đạo Nhân rồi, nên chàng tìm ngay vị ân nhân đáng kính ấy để hỏi xem tên họ là chi, người ở môn phái nào vì sao đến thành Đại Lý, giúp đở mình diệt trừ phản loạn một cách kịp thời như vậy ?
    Chẳng ngờ chàng hỏi khắp thị thần trong cung mọi người đều trả lời không thấy, vị thư sinh áo vàng đã đâu mất từ lúc nào.
    Cuối cùng có một Ngự Lâm quân gìa đến đưa ra một tờ hoa tiên và nói :
    - Tâu Điện hạ vị tướng công áo vàng ấy đã ra đi rồi, tiểu nhân đang đứng ở trước ngọ môn, thì vị tướng công đó từ trong cung bước ra, tay cầm phong thư giao cho tiểu nhân bảo là y gấp trở về Trung Thổ, không kịp đến từ tạ Điện hạ và nhờ tiểu nhân đem phong thư này giao cho Điện hạ.
    Đoàn Cẩm kinh hãi, vội bóc thư ra xem, thấy loại giấy đúng là văn phòng tứ bửu trong cấm cung thường dùng, nét mực chưa ráo, bút pháp ngang tàng như rồng bay phụng múa, nội dung như sau :
    "Đoàn Cẩm Điện hạ khãi giải :
    Duyên bèo nước tương phùng, tình cờ gặp chuyện bất bình , giúp quí quốc diệt gian trừ ác , trách nhiệm của kẽ hành hiệp giang hồ , bất tất phải ân nghĩa thêm phiền , sư môn danh tánh của kẽ bềnh bồng rày đây mai đó , thẹn thùng chẳng muốn nhận ân , nên chẳng lưu lại làm gì , hữu duyên kỳ ngộ gặp lại sẽ có ngày, khẩn mong thương dân cần chánh chuyên luyện võ công, tiến đến ngôi vị anh hào trong rừng võ thuật !"
    Phía dưới không ký tên chỉ lưu lại hai chữ Cửu Cửu là hàm ý : Trùng Cửu và Trùng Cửu tức là Tiết Trùng Dương vậy.
    Trùng Dương vừa đi vừa ngẫm nghĩ đến hai chữ Cửu Cửu dụng ý sâu xa của mình cảm thấy đắc ý bỗng cười khan lên một tiếng.
    Châu Bá Thông từ nãy giờ lầm lủi bước theo chân sư huynh vừa mệt vừa khát, thấy sư huynh nghiêm nghị tư lự chẳng dám lên tiếng thình lình nghe Trùng Dương bật cười khan như thế bèn liến thoắng hỏi :
    - Sư huynh có chuyện chi vui mà cười khan lên quái gở như thế !
    Trùng Dương như bừng tỉnh cơn mê, cười tủm tỉm đáp :
    - Ta nhớ lại lúc Nam Đế còn làm Thái Tử Đoàn Cẩm.
    Châu Bá Thông không đợi Trùng Dương hết lời liền "úy" lên một tiếng kinh hãi và ngắt lời :
    - Ủa ! Sư huynh định dắt tiểu đệ du lịch thành Đại Lý chăng ?
    Trùng Dương lẳng lặng gật đầu mà không đáp, hai anh em lại lầm lủi đi hơn buổi trời thì đã đến dưới chân núi Kiếm Các Sơn.
    Châu Bá Thông khát quá không chịu nổi, nhìn thấy phía trước có một đường mòn dẫn đến thôn xóm ở xa xa, bèn mừng rỡ , tay chỉ miệng nói tía lia :
    - Sư huynh, chúng ta đến chỗ ấy xin một ngụm nước đở khát đi !
    Tánh của Trùng Dương và Châu Bá Thông khác biệt nhau xa lắc, vì tánh Châu Bá Thông thích động, ham ăn, lắm lời, còn Trùng Dương trái lại trầm tĩnh hòa hoãn, cho nên hai người tuy cùng đi chung một đường mà ít khi chuyện vãn nhau.
    Nghe Châu Bá Thông nói thế, Trùng Dương đã hiểu ngay tánh ham ăn của hắn sắp nổi dậy, bèn chau mày trách cứ :
    - Sư đệ, em dù sao cũng là một người tu luyện nội công, sáng sớm hôm nay đã lo bụng lương khô rồi sao lại đòi ăn nữa ?
    Châu Bá Thông chu miệng đáp :
    - Tôi đòi ăn hồi nào ? Sư huynh xem trời nắng như thế kia mà chúng ta leo núi hơn nửa ngày trời miệng khô khốc chẳng còn một miếng nước miếng, khát muốn bõ mẹ, tìm người xin chút nước uống cũng không đến nỗi phạm pháp đâu mà sư huynh hòng sợ .
    Trùng Dương nghe Châu Bá Thông nói chằm bằm như thế, chỉ đành theo ý chàng, hai người đi theo đường mòn đi thẳng đến sơn thôn nọ.
    Nào ngờ đến sơn thôn, Châu Bá Thông sực khám phá thôn xóm này có trên trăm nóc gia, nhưng mỗi nhà nào cũng đóng cửa kín mít, khắp làng im liền như tờ, người chẳng có mà cho đến chó gà cũng không thấy bóng một con.
    Châu Bá Thông rất đỗi lạ lùng bèn nói :
    - Bá tính nơi đây thật là cần mẫn, cho đến đàn bà con nít cũng ra đồng làm việc ráo trọi ?
    Nhưng Trùng Dương là một người kiến thức sâu rộng, chàng thấy ngay tình hình không phải, vì người trong làng dù bất luận lên non đốn củi hay xuống ruộng cấy cày, quyết cũng không không thể nào đem cả con nít theo bao giờ .
    Hơn nữa từ nãy giờ trên đường đi, cũng chẳng thấy một thửa ruộng nào.
    Chàng hết sức hồ nghi trong lòng.
    Châu Bá Thông bỗng vọt miệng nói :
    - Sư huynh, mình cứ tưởng đến đây xin bậy một bụng nước cho đã khát, ai ngờ rủi vô cùng, mẹ nó cái làng quỷ này tìm đỏ cả mắt chàng thấy một người làm thuốc, đi thôi !
    Trùng Dương lắc đầu, nói :
    - Không ngu huynh ở lại chờ người trong thôn trở về .
    Châu Bá Thông kinh hãi hỏi dồn :
    - Sư huynh, bộ điên rồi sao ? Cả làng quỷ này chàng có một người sống còn ở lại đây làm chi thế ?
    Trùng Dương đáp :
    - Ta xem thôn này chẳng phải không có người vì xóm làng tề chỉnh khang trang, trong nhà đồ vật trật tự ngăn nắp, không có chút gì lôi thôi, chứng tỏ dân làng có chuyện cần tạm thời rời khỏi nhà mà thôi
    Châu Bá Thông không dám cải lời sư huynh của mình, nên đành phải nên lòng chờ đợi.
    Hai anh em đợi như thế hơn nửa ngày, Châu Bá Thông lầm bầm trách cứ luôn miệng. Y sốt ruột, đôi mắt láo lên hết nhìn xuôi đến nhìn ngược, nhắc nha nhắc nhỏm như khỉ ngồi trên gạch nung, thình lình nghe nơi cỗng làng có tiếng người xôn xao.
    Trùng Dương đã luyện qua công phu Nhất Dương Chỉ vừa lắng tai nghe đã phân biệt được có trên một hai trăm dân làng trở về trong tiếng người xôn xao, còn kẹp theo cả tiếng khóc rấm rứt nữa.
    Châu Bá Thông nhãy phắt dậy, rồi như một luồng gió hốt chạy tít ra cổng làng.
    Trùng Dương vội cất tiếng lại :
    - Sư đệ chớ nên gây họa !
    Chàng cũng tức tốc sải chân đuổi theo, quả đúng như ý liệu. Hơn mấy trăm dân làng kéo thành một đoàn đi vào cỗng thôn, trai gái gìa trẻ đủ hạng, mỗi trên tay trên lưng đều mang ống trúc và lồng tre, tiếng khóc lúc nãy là của hai người con gái.
    Thì ra có một tráng đinh bộ ba bốn mươi tuổi được hai tên tráng đinh khác khiễng trở về, chân phải của gã tráng niên nọ sưng vù lên như thân cây chuối, màu da tím bầm như mực, đau đớn đến nỗi da mặt chẳng còn chút máu.
    Châu Bá Thông chẳng tị hiềm mình là người xa lạ, vội tiến ra trước nhanh nhẩu hỏi thăm một cách trịch thượng :
    - Này ! Ê các người nãy giờ đi đâu ?Sao chẳng để một người nào ở lại trông nom làng mạc thế ? Còn chú này bị giống vật gì cắn phải mà đến nỗi như vậy ?
    Trùng Dương chưa kịp mở lời, Châu Bá Thông đã nói hước một hơi, chàng thầm gật đầu tự nhủ :
    - Không sai ! Châu Bá Thông bảo nạn nhân bị độc vật cắn phải, có thể như thế lắm dấy !
    Gã thôn dân nọ thấy Châu Bá Thông là người xa lạ, không khỏi ngạc nhiên, trong bọn có hai tên tráng đinh lớn tiếng hỏi :
    - Mi ở đâu đến đây ? Ai mượn mi lo chuyện bao đồng, cút mau !
    Châu Bá Thông sầm nét mặt lại và cũng lớn tiếng đáp lại :
    - Ta lo chuyện bao đồng thì sao ! Ta nhất định chẳng cút đi mi lại làm gì ta ?
    Vài tên thôn phu lỗ mãng nổi nóng lên, hai tên thôn phu đứng gần, lách mình nhãy đến định vồ Châu Bá Thông, chàng chỉ khẽ tràn người sang bên, hai tay chộp lấy cổ áo của hai tên nọ, vung mạnh một cái, hai tên thôn dân tựa như trái cầu lông, văng ra xa bảy tám bước.
    Đám dân làng liền la toáng lên.
    Trùng Dương vội nhãy bay ra trước quát lớn :
    - Sư đệ em lại sinh sự đánh lộn với người rồi, không được làm bậy !
    Chàng tiến bước, đứng án ngữ trước mặt Châu Bá Thông đoạn đưa mắt nhìn xem vết thương bị thú độc cắn của gã đàn ông nọ, và nói tiếp :
    - Các người sao chẳng mau tìm cách cứu chữa ! Nếu để diên trì e mạng sống người này khó cứu đó.
    Đám dân làng thấy Trùng Dương vẽ người phương phi tiêu sái râu dài suông đột, nói năng hòa nhã hiền từ, khác hẳn với vẻ lấc cấc của Châu Bá Thông, lập tức có cảm tình ngay bèn đồng rập đáp :
    - Thưa đạo trưởng, đây là anh Lưu Nhất Hổ của bổn trấn, theo bọn tôi vào rừng bắt rắn, ơ hờ bị rắn lục trúc cắn phải (loại rắn này hễ cắn phải người thì vô phương cứu chữa, trừ phi đốt đỏ một miếng sắt, áp lên vết thương cho chay chỗ thịt đó đi).
    Châu Bá Thông nghe đến rùng mình rởn óc.
    Trùng Dương lẳng lặng móc trong túi ra một lọ sành màu xanh mở nắp trút ra một viên thuốc màu đỏ như lửa, nhét vào miệng nạn nhân và gọi :
    - Mau đem nước ra đây, cho y một hoàn thuốc vào bụng .
    Viên thuốc vừa rồi chính là lúc Trùng Dương so tài với Âu Dương Phong trong buổi luận kiếm Hoa Sơn thấy Âu Dương Phong nuôi dưỡng Xà trận, và chuyên dùng nọc rắn để hại người, nên sau khi trở về Trung Sơn khổ tâm nghiên cứu chế luyện ra một loại thuốc lấy tên là Hạc Diêm Chu linh hoàn, chuyên giải trừ nọc độc của rắn rít, vì Hạc là khắc tinh của loài rắn, chuyện dùng hạc làm vật nuôi thân, nước miếng của nó rất hiệu nghiệm giải trừ nọc rắn.
    Từ lúc chế xong đến nay đây là lần thứ nhất chàng đem ra thí nghiệm cứu người.
    Vài người trong bọn dân làng, vội lấy nước thuốc đổ vào miệng Lưu Nhất Hổ để y nuốt trôi hoàn thuốc vào bụng.
    Quả nhiên thuốc giải hiệu nghiệm như thần, Lưu Nhất Hổ vừa nuốt xong hoàn thuốc ấy, liền ụa lên một tiếng lớn, mửa ra chẳng ít chất đờm màu vàng đen tanh tưởi, vết sưng phồng nơi giò cũng lần lần sọp xuống, hai cô gái nọ mừng rỡ thôi khóc.
    Châu Bá Thông thấy trên người một thôn dân có đeo cái ống tre, chàng vốn tánh rất rắn mắc, bết thình lình giơ tay phải ra giật lấy chiếc ống tre của gã nọ, miệng thì tía lia :
    - Trong ống có vật chi thế, cho ta xem thử nào ?
    Miệng bằng tay, tay bằng miệng, chàng đợi người đàn ông nọ cho phép hay không chàng đã lẹ tay rút nấp ống tre lên, bỗng thấy bóng xanh lao vút ra, đúng một con rắn lục tre xẹt vút đến vươn cổ nhe nanh, mổ phập tới trước mặt Châu Bá Thông nhanh như mủi tên xẹt.
    Châu Bá Thông tuy nghịch ngợm, đất trời cũng chẳng kiêng nhưng lại rất sợ rắn, chàng hốt hoảng tru tréo to lên "ối mẹ ơi !" rồi quăng ngay cái ống tre,
    Trùng Dương mắt lanh lẹ, nhanh hơn cả giơ hai ngón tay ra kẹp đúng vào cổ không cho mổ vào mặt sư đệ mình, rồi rẩy mạnh một cái, con rắn lục tre vừa rơi xuống đất, liền uốn mình phóng tuốt vào bụi cây mất dạng.
    Trùng Dương trong lòng đã hiểu phần nào, liền hỏi đám dân rằng :
    - Các vị kéo nhau hết vào núi, chỉ vì chuyện bất rắn độc đến đỗi một người bị rắn độc cần phải suýt nguy hại đến tính mệnh, các vị bắt rắn như thế có ích lợi gì !
    Một thôn dân liền đáp :
    - Đạo trưởng chắc có lẽ không hiểu, vì có người xuất tiền trọng thưởng cho chúng tôi bắt được rắn đấy ?
    Lại có mấy tên khác lừ mắt ra ý bảo y đừng nói, thôn dân ấy liền hội ý ngay, nhưng đã lỡ thốt lời rồi, nuốt lại cũng không được .
    Châu Bá Thông vỗ đùi đánh chách và nói :
    - Lạ thật, lạ thật ! Có ai chịu ra tiền cho các ngươi bắt rắn , chả trách cho đến ruộng vườn các người cũng chẳng thèm canh tác.
    Chẳng lôi thôi gì cả ! Ta hỏi các người kẻ mướn bất rắn ấy là ai, ra bao nhiêu tiền thưởng !
    Lối hỏi xấc lấc của chàng, chẳng một thôn dân nào buồn trả lời.
    Trùng Dương thấy bọn thôn dân lặng thinh không đáp, chàng bỗng chợt rùng mình nhớ lại trên đời kẻ thích nuôi vô số độc xà, ngoài Tây Độc Âu Dương Phong ra, còn ai khác hơn.
    Song theo lời người giang hồ thuật lại thì Âu Dương Phong thiết lập nơi Bạch Đà Sơn một đầm rắn vĩ đại, nuôi hằng muôn hằng ngàn loại độc xà khác nhau, sao lại có thể từ ngàn dặm xa xôi đến đất Tứ Xuyên này dùng tiền bạc mê hoặc bọn ngu dân này liều mạng bắt rắn cho y, chuyện này thật nhiều chỗ không hợp lý, nhưng đám thôn dân cố tình giữ kín chẳng chịu nói ra thì chỉ còn có cách cưỡng bách bắt họ khai mà thôi.
    Trùng Dương liền lừ mắt ra dấu cho sư đệ mình, mà Bá Thông khôn lanh quỷ quái khỏi chê vào đâu nổi, tiếp được chỉ thị bằng mắt của sư huynh mình liền hội ý ngay, tằng hắng rồi nói thật to :
    - Ê Cái lũ chết bầm này sao chẳng chịu trả lời sự thật cho ta nghe, rắn độc là vật hại người, bọn bây xúm lại nhau bắt nhiều thế kia có phải định hại người chăng ? Mau mau khai sự thật ra, bằng không. Hừ ! Hừ ! Ông sẽ tịch thâu ống rắn, lồng rắn của các ngươi mang tấm vải kia đem hủy .

+ Trả lời chủ đề
Trang 7/9 ĐầuĐầu ... 5 6 7 8 9 CuốiCuối

Từ khóa (Tag) của chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
Trang Chủ Việc Làm Gia Sư Gia sư